Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017

NHỮNG NGƯỜI THỢ LÒ TRONG QUẦNG SÁNG





                                               Vũ Nho đang đọc tham luận tại Mạo Khê

NHỮNG NGƯỜI THỢ LÒ TRONG QUẦNG SÁNG
             Đọc Ánh đèn lò của Vũ Thảo Ngọc, nhà xuất bản Lao Động, 2016
                                      Vũ Nho
Vùng than có một đội ngũ viết văn hùng hậu kể từ khi nhà văn Võ Huy Tâm khai sinh tác phẩm “Vùng mỏ” đến nay. Trong những tên tuổi quen biết với bạn đọc cả nước, Vũ Thảo Ngọc là một cái tên khác đặc biệt. Đặc biệt vì chị trưởng thành từ một người thợ. Hơn thế nữa, đặc biệt vì sức viết của chị. Xuất hiện năm 1997 với tập truyện ngắn “Đêm chuyển mùa”, đến năm 2016, chị đã có 18 đầu sách trình làng. Một điều đặc biệt nữa là cây bút nữ này rất “đa năng”. Truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, bút kí, nghiên cứu phê bình, chị đều đã thứ sức. Mặc dù, sở trường của chị là truyện ngắn và tiểu thuyết. Riêng về lĩnh vực tiểu thuyết, đây là tập sách thứ 5 của tác giả.
          Về những người công nhân mỏ đã có nhiều nhà văn của vùng mỏ viết thành công. Nhưng viết về thợ lò, những người “làm việc âm phủ, ăn cơm dương gian”  bằng một tiểu thuyết dày dặn thì có lẽ Vũ Thảo Ngọc là nhà văn đầu tiên. Đúng như lời giới thiệu của anh Đoàn Kiển, người tự nhận là “đồng nghiệp của gã thợ lò Đào Văn Đáo và Giám đốc mỏ Làng Bang Vũ Quốc Nam” : “Đã có truyện ngắn, truyện dài viết về thợ lò nhưng chưa có chuyện nào chạm sâu đến công việc chuyên môn dưới lòng đất cùng với đời sống của một gia đình và cộng đồng thợ lò ở phố thợ như “Ánh đèn lò” của nữ nhà văn thợ mỏ Vũ Thảo Ngọc” (Ánh đèn lò lấp lánh như những vì sao).
          Có lẽ không ai là không biết đến bài hát nổi tiếng về thợ lò qua giọng ca có một không hai của ca sĩ Trần Khánh: “Tôi là người thợ lò. Sinh ra trên đất mỏ…”. Nhưng nữ nhà văn không chọn  nhân vật thợ lò  trung tâm là con trai của một người thợ mỏ. Chị lại chọn Đào Văn Đáo, một chàng trai nông thôn ở làng Trong thuộc tỉnh Đông. Cái cậu trai nhà quê  hiếu động, mạnh bạo” nghịch ngợm, gan lì với các trò cuốc chuột, quấn trăn làm xiếc với gánh xiếc rong, lúc nào cũng đói… Nhân vật sau này trở thành anh hùng, nhưng có một lí lịch rất bình thường, thậm chí dưới bình thường.

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

6 bài HAIKU Đức do TS Nguyễn Văn Hoa dịch




Chùm thơ Hai ku

 Bài 1

Của

Sigrid Baurmann

Mất điện 

Trong ngôi nhà hàng xóm

Ai đó chơi piano

Stromausfall.
In der Wohnung des Nachbarn
spielt jemand Klavier.

Sigrid Baurmann




 Bài 2

Của

Hubertus Thum

Gío lặng

Lá vàng rơi vào

Bầu trời đêm



Windstille.
Vom Ruderblatt tropft
der Abendhimmel.

Hubertus Thum


Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

Nhân đọc thơ nịnh vợ của Nguyễn Khôi


Nhân đọc thơ nịnh vợ của Nguyễn Khôi
                                                
                                                          Nguyễn Đăng Khôi

Ngày hôm nọ tôi nhận được thư của anh Nguyễn Khôi về Hạ Lũng, một làng hoa sắp mất.  Qua thư này anh chia xẻ hai bài thơ nịnh vợ của anh ấy với bạn bè.  Thành thực mà nói, tôi thấy hai bài thơ này cũng bình thường thôi, không gây cho tôi nhiều ấn tượng đáng chú ý.  Nhưng ta hãy dẹp chuyện bình thơ sang một bên nhé vì như anh Nguyễn Khôi đã thấy và có kinh nghiệm gần đây, việc bình thơ thường đưa đến nhiều chuyện cãi vã bá vơ không đâu vào đâu nhức cả đầu.  Trở lại việc anh Nguyễn Khôi làm thơ nịnh vợ, tôi có vài nhận xét như sau.  Thứ nhất đây là một việc làm rất đáng khen.  Hành động này chứng tỏ anh Nguyễn Khôi là người rất tân tiến, ga lăng, biết nịnh đầm.   Quý anh chị và các bạn thử ngẫm lại mà xem, trong đám anh em chúng mình có mấy ai đã làm thơ nịnh vợ?  Khi còn trong giai đoạn cua bồ thì có thể ta còn chịu khó làm thợ thơ mà rặn ra vài câu nịnh nọt để chứng tỏ ta đây cũng tình tứ lãng mạn một bầu thơ phú.  Nhưng một khi ván đã đóng thuyền rồi thì thôi chứ, sức người có hạn chả lẽ ta cứ đóng vai thợ thơ hoài?  Đâu phải ai cũng đầy một bầu thơ như anh Tâm Hàn, có phải thế không nào.  Nhưng nói cho cùng dường như anh Tâm Hàn cũng chỉ làm thơ nịnh những ai đâu đâu thôi chứ chả bao giờ anh ấy làm thơ nịnh vợ cả.  Thế có chết không.  Nếu tôi nói sai thì xin anh Hàn cải chính dùm ... hi hi.  Tôi xin nói thêm cho rõ.  Câu "chả bao giờ làm thơ nịnh vợ cả"  phải được hiểu là "chả bao giờ làm thơ nịnh vợ gì cả" chứ tôi hoàn toàn không có ngụ ý chuyện vợ cả với vợ lẽ ở đây đâu nhá.  Xin quý anh chị và các bạn chớ cố tình hiểu nhầm.  Thành thử so với anh em chúng mình anh Nguyễn Khôi có hai bài thơ nịnh vợ thì đấy là một điều rất đáng khen, không phải ai cũng làm được.  Đáng khen nhưng cũng hơi  ... đáng chê, vì đã ga lăng thì ta ga lăng cho trót luôn, ta nịnh vợ mỗi ngày chứ cớ sao anh ấy chỉ có vỏn vẹn hai bài thơ nịnh vợ thôi.  Không những thế anh Nguyễn Khôi lại ... hơ hơ ... hơi bủn xỉn trong việc ga lăng của anh ấy.  Làm xong được bài đầu, hơn bốn muơi năm sau anh ấy mới có bài thứ hai!  Thế có chết không!  So với thi sĩ Tú Xuơng tôi thấy anh Nguyễn Khôi chưa tân tiến, ga lăng bằng.  Vì tuy thi sĩ Tú Xuơng mới 37 tuổi đã mất nhưng trong khoảng thời gian này ông đã nhiều lần nhắc tới vợ trong thơ của tác giả.  Giọng điệu có vẻ bỡn cợt, tự mỉa mai mình, nhưng đằng sau câu thơ khôi hài, trào phúng là một sự tri ân thuơng sót vô bờ cho người vợ đảm đang đã lấy nhầm một anh chồng chẳng làm nên công cán gì.  Để làm sáng tỏ điều tôi vừa nói, tôi xin mời quý anh chị và các bạn đọc bài tiểu luận Mối Tình Tú Xương của Cô Tư Sài Gòn dưới đây.  Mấy ảnh minh họa và vài lời chú thích trong bài viết của Cô Tư Sài Gòn là do tôi thêm thắt vào cho bài viết thêm mắm muối:

(nguồn: https://vietbao.com/a262385/moi-tinh-tu-xuong)

Đẹp nhất trong thơ Tú Xương là gì? Hãy thử suy nghĩ về điều này… Đó là một hình ảnh rất nữ quyền, rất thơ mộng… khi một cụ Tú của thế kỷ thứ 19 làm thơ tặng vợ. Hãy hình dung, đó là một thời quý bà phải ngồi dưới bếp, trong khi quý ông ngồi ngâm thơ và uống rượu khề khà với nhau. Chỉ có cụ Tú Xương mới tôn vinh hình ảnh vợ tới mức độ phải làm văn tế sống vợ… Trang trọng tới thế là cùng.

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

CHÙM MƯA XUÂN





CHÙM MƯA XUÂN
 TRẦN TRUNG

1/XUÂN
Tết đến cận kề như hơi thở
Nghe xốn xao trời đất giao hòa
Nghe mưa giăng tơ-Tình ấm lại.
Xuân mơ hồ...
Môi bén Rượu-Hoa.

2/NHỚ NGUYỄN BÍNH
Xuân này lại vẫn tha hương
Nhớ cô em gái môi hường...
Thuở xa.
Giầu cau xanh đến thiết tha
Cảnh xưa
Người ấy
Thế mà...
Vẫn thương!

3/ĐA-TÌNH
Rượu nâng...
Chợt chạm mưa xuân
Rưng rưng lá cũng tần ngần
Giọt mai
Đất trời nối nụ hôn dài
Ngẩn ngơ
Say...
Nhớ môi Ai
Bây giờ !?


4/TÌNH GẦN-THƯƠNG XA
Đầu xuân
Lại rượu
Tìm Ai?

Thứ Ba, 21 tháng 3, 2017

Nhà thơ và chuyện ‘gái gú’




Nhà thơ
và chuyện ‘gái gú’
*
Nhà thơ Đỗ Hoàng vừa về thì ông đến. Không bấm chuông, ông cứ đứng trước cửa toáng lên réo: - Hoàng ơi! Hoàng!... Sao không có ai ra mở cửa thế này. Cái thằng này! Hoàng ơi! Hoàng...
Đứng trên ban công tầng 2, tôi vội với xuống: - Chú ơi! Anh Đỗ Hoàng vừa về. Anh ấy nhắn lại nếu rảnh thì chú qua nhà anh ấy chơi.
Ông gắt giọng: - Cậu xuống đây gặp tôi đi. Đứng trên đấy mà trả lời người lớn thì mất lịch sự quá.
Cửa vừa mở, chưa kịp nói câu xin lỗi, ông đã hất hàm hỏi: - Này! Thế cậu với Đỗ Hoàng có quan hệ với nhau kiểu gì thế?
Tôi cười: - Cháu quen biết anh ấy từ thời học Đại học.
Ông nhìn tôi, vẻ nghi hoặc, dài giọng: - Cậu cũng học Đại học?
Tôi cố nhịn cười, trả lời: - Vâng! Cháu cũng trầy trật 4 năm mới xong Đại học đấy ạ.
Ông nheo mắt, hất hàm: - Thế có biết làm thơ không?
Tôi thật thà: - Dạ! Cháu cũng chỉ mượn thơ để giãi bày tâm sự của mình thôi. Mà... Chú là nhà thơ Trần Lý?
Ông nghiêm nghị: - Trần Đình Lý! Tiến sĩ, nhà thơ Trần Đình Lý. Cậu réo tên tôi kiểu đấy rất thô thiển và mất lịch sự. Thế cậu cũng có thơ đăng ở trang của Đỗ Hoàng phụ trách à? Mà sao cậu không mời tôi vào nhà ngồi nói chuyện, cứ để tôi đứng ngoài đường thế này thì tệ quá.
Tôi gãi đầu, thành thật: - Cháu tưởng chú vội, với lại, chú cháu mình chưa biết nhau nên cháu ngại. Giờ chú nói vậy, cháu mời chú lên tầng 3, chú cháu mình ngồi uống trà, hàn huyên đôi ba câu chuyện.
Vừa ngồi xuống ghế, ông vỗ vai tôi: - Này, bỏ xưng hô chú cháu đi, nghe xa cách lắm. Anh em cho tình cảm.

Thứ Hai, 20 tháng 3, 2017

MÙA LỄ HỘI HOA ANH ĐÀO NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM





                                   Tác giả Triệu Lam Châu (bìa phải)
Triệu Lam Châu
MÙA LỄ HỘI HOA ANH ĐÀO NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM

Theo Đài truyền hình Việt Nam đêm 15/3/2017 - mấy ngày nay Lễ hội Hoa anh đào Nhật Bản đang được tổ chức long trọng và rầm rộ ở Hà Nội – Hải Phòng và Quảng Ninh. Dân chúng nô nức đi trẩy hội và thưởng hoa anh đào,  một nét đẹp mới đậm đà sự giao thoa văn hoá Việt – Nhật.
Nhân dịp này, xin trân trọng  mời bạn bè gần xa cùng nghe bài hát:

ANH – SAKURA VÀ EM (NHẬT BẢN)
http://youtu.be/Gt9H4oRTsJo   (Video Anh – Sakura và em )

Lời tâm sự của Triệu Lam Châu:
Lần đầu tiên thấy bài thơ Anh – Sakura và em của Nguyễn Tuyết Mai xuất hiện trên Trang mạng văn học Con gái Người ven sông, ngày 2/4/2014 – tôi xúc động thực sự, bởi chất thơ bồng bềnh, huyền ảo của vầng hoa anh đào (Sakura) lồng lộng long lanh bao trùm khắp đó đây của đất nước Nhật Bản xa xôi.
Và tôi đã phổ nhạc cho bài thơ ấy vào  lúc 1 giờ 53’ sáng ngày 7/4/2014.
Sau một năm bài hát được dàn dựng ghi âm. Và bây giờ lòng  tôi vẫn lâng lâng cảm xúc tươi tắn như ngày nào. Cùng với nét nhạc và giọng hát long lanh, bồng bềnh của ca sĩ Minh Khương – Vầng Sakura thần tiên ấy vẫn đến với tôi trong giấc mơ say đắm đêm đêm…
Tuy Hoà, chiều 29/6/2015
Triệu Lam Châu
Đường trời:  trieulamchau@gmail.com

Trân trọng mời Quý vị và bạn bè cùng nghe bài hát theo các đường dẫn sau đây:
http://youtu.be/Gt9H4oRTsJo   (Video Anh – Sakura và em )

https://www.youtube.com/watch?v=Gt9H4oRTsJo   (Video Anh – Sakura và em )





Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2017

Lão Ngược Truyện ngắn của Nguyễn Quang Tình



                              
                                                           Tác giả Nguyễn Quang Tình

 Lão Ngược

                       

                         Truyện ngắn của Nguyễn Quang Tình



 Hắn tên là Ngước, vì khi hắn đi chả ai thấy hắn nhìn xuống dưới bao giờ mà lại cứ nhìn lên, chắc hắn có tật như vậy từ nhỏ nên cha mẹ hắn đặt tên cho hắn như vậy chăng? Tên trong hồ sơ đầy đủ là “Phí Bá Ngước”. May là hắn không làm lãnh đạo, chứ không thì khổ cho ban tổ chức phải giới thiệu lúc họp hành, đọc xong họ tên không khéo lại méo cả mồm. Tên là vậy nhưng trong công việc cũng như trong hành động và chắc là cả trong suy nghĩ của hắn thì ngược lại với tất cả mọi người. Vì vậy từ khi đi làm mọi người thấy thế mới đặt lại tên cho hắn là Ngược. Gọi dần thành quen, thấy ai gọi hắn cũng thưa và còn cho đó là chuyện bình thường gọi thế nào mà chả được. Hắn Ngược ở chỗ, mọi người nghĩ xuôi còn hắn thì ngược lại. Phòng làm việc nơi hắn công tác có ông trưởng phòng là người lịch lãm, nói năng ra dáng con nhà hay chữ vừa từ tốn lại nhẹ nhàng khéo léo mà chả để mất lòng ai. Ông biết tiến, biết lui, chẳng ai nghe thấy ông to tiếng bao giờ. Bởi trong ông không có cái dây thần kinh nóng nẩy, cáu gắt. Ông khéo đến mức trong khi ông chủ trì  cuộc họp mọi câu chữ và nội dung đều được ông chuẩn bị đầy đủ, chu đáo đến từng chi tiết nhỏ. Từ chuyện chuyển đổi vị trí của cán bộ, nhân viên đến chuyện lên lương, chậm lương, trừ thưởng của từng người được ông rào trước, đón sau không một tý sơ hở đến nỗi chẳng ai có thể tham gia được một tý gì. Kết thúc cuộc họp ông hỏi mọi người có ý kiến gì không? Có nhất trí không? Chả ai có lý do gì để thêm bớt được bởi sự hoàn hảo trong ngôn từ của ông đã trình bày.

          Nhưng hắn thì không như thế, hắn bảo: “Bây giờ mọi người chỉ biết an phận thủ thường, ngại va chạm và co mình cho gọn”. Lại có một lần trong cuộc họp giao ban ở cấp công ty, ông Thủ trưởng nói:” Từ nay đến ngày kỷ niệm truyền thống…chúng ta phải phấn đấu hoàn thành bằng xong khối lượng công việc…” Hầu hết mọi người kém chuyên môn và tránh đối đầu thì a dua khẳng định là xong, mà còn xong trước thời gian vài ngày. Ông thủ trưởng đang say sưa thắng lợi, nghĩ đến lúc cắm cờ. Bỗng ông liếc chéo sang bàn bên cạnh thấy Ngược ngồi nhìn ngước lên trần nhà. Không hiểu hắn nhìn con thạch sùng lười nhác hay nhìn cái quạt trần mới mắc. Tiêu chuẩn của hắn là không được dự họp giao ban, nhưng vì chuyên môn của hắn hơn người, tính toán dự toán, khối lượng hắn giỏi nên cuộc họp nào liên quan lại phải mời đến hắn. Ông Thủ trưởng cất giọng sang sảng, thế nào anh Ngược có ý kiến gì không? Ngược chẳng nhìn ông mà lại thủng thẳng:” Theo tôi là không thể xong được”.

-         Anh bảo sao?

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

Mấy hình ảnh sinh nhật cháu ngoại Trí Việt

Mấy hình ảnh sinh nhật cháu ngoại Trí Việt

Trí Việt, năm nay học lớp 5 trường tiểu học Lý Thái Tổ. Cháu là học sinh giỏi, có tên trong bảng danh dự của trường các lớp 3,4,5. Cháu là cầu thủ của đội bóng đá vô địch tiểu học của quận. Năm nay, cháu thi tiếng Anh được vào diện thi quốc gia. Sinh nhật, mẹ cháu đi vắng. Ông bà ngoại và bố cháu tổ chức. Mấy bức ảnh ghi lại.

                                Ông ngoại chụp

                                     Bố cháu chụp

                                 Bánh sinh nhật
                                            Thổi nến

Về “cái gia gia” trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan





Về “cái gia gia” trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan

09:38 | 28/04/2014

ĐINH VĂN TUẤN

Đây là một bài viết rất hay của tác giả. Chúng tôi nghĩ rằng giáo viên và những người nghiên cứu cần đọc bài này. Cám ơn tác giả Đinh Văn Tuấn và trân trọng giới thiệu.  Chủ trang vunhonb.

Trong số mấy bài thơ chữ Nôm còn lại của Bà Huyện Thanh Quan, bài thơ “Qua Đèo Ngang” là bài thơ gần đây được tranh luận nhiều nhất về chữ nghĩa, đặc biệt là về từ ngữ “cái gia gia”(1).



Ảnh: internet

Sự tranh luận này có chiều hướng phủ nhận quan điểm cũ của các tiền bối cũng như những người tin theo họ để bảo vệ cho cách đọc “cái đa đa”. Thế nhưng, theo chúng tôi, tranh luận đã không đi đến tiến bộ và sự thật với các bằng chứng có giá trị thuyết phục mà ngược lại đã gây ra nhiễu loạn về học thuật, làm mất cảm hứng cho người yêu thơ và gây hoang mang cho sự học tập, giảng dạy của thầy và trò.

Bài viết này là một cố gắng tìm hiểu lại vấn đề một cách khách quan trên tinh thần khoa học với các chứng cứ xác đáng. Hy vọng có thể trả lại giá trị nghệ thuật và ý nghĩa vốn có của những vần thơ nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan.

I. “Gia gia” và văn bản chữ quốc ngữ

“Cái gia gia” trong câu thơ thứ 6 ở bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan được phiên âm và viết chữ quốc ngữ sớm nhất có lẽ là từ tác giả Phạm Quỳnh, 1917(2) và sau đó đến các nhà nghiên cứu văn học khác như Tuyết Trang Trần Văn Ngoạn, 1918(3); Trần Trung Viên, 1925 - 1930(4); Ôn như Nguyễn Văn Ngọc, 1927(5); Georges Cordier, 1933(6); Ngô Tất Tố, 1941(7); Dương Quảng Hàm, 1941(8); Hạo Nhiên Nghiêm Toản, 1949(9); Trần Trọng Kim, 1946(10); Nguyễn Tường Phượng, 1953(11) và các nhà khác cho đến nay cũng vẫn là “cái gia gia”.

Về ý nghĩa “cái gia gia”, cụ Nguyễn Văn Ngọc, lần đầu tiên đã chú giải tường tận:Gia gia = đáng lẽ cũng viết da da, hay đa đa; chỉ một giống chim thuộc về loài gà, loài công, lông đỏ, trắng, xám, hay đen, ở những nơi quang đãng, không đậu trên cành cây bao giờ và người ta hay săn bắn, mới đúng, nhưng cũng vì đây tuy mượn đến con da da mà thực ý lại nói đến gia ăn với chữ quốc ở trên và nghĩa là nhà”. Như vậy, theo đó “gia gia” chính là “da da”, một biến âm dân gian của “đa đa” nhưng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, “da da” phải đọc là “gia gia” (nhà) để ứng đối với “quốc quốc” ở câu trên vì cụ Ôn Như cũng đã giảng về “quốc quốc” ở câu thơ thứ 5: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” như sau: “Đáng lẽ viết cuốc cuốc, nhưng vì đây tuy mượn đến con cuốc mà thực ý lại nói đến quốc nghĩa là nước. Ngô Tất Tố còn trích thơ của di thần đời Lê là Trần Danh Án: “ , , , , Gia cô minh “gia gia”, Đỗ Quyên minh “quốc quốc”, Vi cầm thượng hữu” quốc” “gia”, thanh. Cô thần đối thử tình nan cực” (Gà gô kêu gia gia, con cuốc kêu quốc quốc, loài chim nhỏ còn có tiếng kêu “quốc” “gia”, kẻ bề tôi chơ vơ đối với những tiếng ấy đau lòng khôn xiết” và cho là có thể Bà Huyện Thanh Quan đã chịu ảnh hưởng “minh quốc quốc”, “minh gia gia” để viết thành “con quốc quốc” và “cái gia gia”. Các nhà khác về sau, nói chung đều cũng hiểu ngay “gia gia” là nói đến loài chim đa đa hay gà gô, tên chữ Hán là giá cô 鷓鴣.

Tóm lại, 2 chữ cuối của câu thơ thứ 6 trong bài thơ Qua Đèo Ngang, từ trước đến nay đều được đa số các nhà nghiên cứu đọc hiểu là “gia gia” ám chỉ con chim đa đa và cũng liên tưởng đến ý niệm “nhà” như một thủ pháp “chơi chữ” trong thơ ca. Nhưng một số nghi vấn có thể nảy sinh từ đó: Tại sao chỉ là “gia gia” mà không phải là “da da” hay “đa đa”? Liệu có một dị bản nào khác thay cho “gia gia”?

II. “Gia gia” và văn bản chữ Nôm

Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2017

Giới thiệu, tọa đàm tiểu thuyết "ÁNH ĐÈN LÒ" của nhà văn Vũ Thảo Ngọc

Giới thiệu, tọa đàm tiểu thuyết "ÁNH ĐÈN LÒ" của nhà văn Vũ Thảo Ngọc

 Buổi sáng ngày 15 tháng Ba năm 2017, tại trụ sở công ti than Mạo Khê đã diễn ra cuộc giới thiệu, tọa đàm tiểu thuyết Ánh đèn lò của nữ nhà văn vùng mỏ Vũ Thảo Ngọc. Các vị lãnh đạo của tập đoàn  Than khoáng sản (TKV), lãnh đạo  công ti Mạo Khê, các cơ quan văn hóa, truyền thông tỉnh Quảng Ninh, các văn nghệ sĩ trung ương và địa phương, bạn bè yêu văn chương đã đến dự. Dẫn chương trình là nhà thơ thợ lò bậc sáu Nguyễn Đình Thái.  Vũ Nho có đọc một  bài viết " Những người thợ lò trong quầng sáng". Dưới đây là một số hình ảnh.

                               Các bạn lớp viết văn Nguyễn Du khóa 6 tặng hoa
                                               Bên ngoài hội trường
                                 Các đại biểu chụp ảnh trước đầu máy xe lửa lịch sử

                                          Chụp lại ảnh của nghệ sĩ NA Mạnh Hùng

                                         Hai nhà văn cùng tuổi Cầm Sơn ( trái) và Đinh Đức Cường
                                  Nhà thơ thợ lò Nguyễn Đình Thái dẫn chương trình
                        Ông Phạm Văn Minh, Giám đốc công ti than Mạo Khê phát biểu và tặng hoa tác giả

Thứ Năm, 16 tháng 3, 2017

Thử tìm một giải pháp khác khi giới thiệu dòng thơ cổ của tiền nhân

  

Thử tìm một giải pháp khác khi giới thiệu dòng thơ cổ của tiền nhân
Tác giả Lại Quảng Nam có trao đổi với nhà thơ Nguyễn Khôi sau khi đọc bài giới thiệu nhà thơ Quách Tấn viết về bài  "Qua đèo Ngang". Bác Phu Doan có gửi cho chúng tôi bức thư gửi nhà thơ Nguyễn Khôi và bài viết  của tác giả Lại Quảng Nam. Nhận thấy viết về văn học cổ là một việc cực kì khó khăn vì chúng ta thiếu những cứ liệu chính xác về thời điểm sáng tác bài thơ, hoàn cảnh cụ thể việc thành thơ, những tư liệu liên quan đến  người viết; bởi vậy chúng tôi giới thiệu bài viết có nhiều điểm "mới và khác" với những điều mà những người trước đã viết. Chúng tôi sẽ có vài nhận xét sơ bộ về bài viết này. Nhưng xin có nhời trước là  khi thảo luận trao đổi, mọi người hãy tôn trọng nhau và tôn trọng bạn đọc. Trao đổi học thuật không có chuyện thắng thua, nhất là vấn đề học thuật phức tạp mà tư liệu lại không đầy đủ. Chủ trang vunhonb.



Thử tìm một giải pháp khác khi giới thiệu dòng thơ cổ của tiền nhân
*
II-Trường hợp thứ nhất, bài thơ danh tác : 
Qua Đèo Ngang (2)
Laiquangnam
-o0o0o-

I-Tổng quan
II-Trường hợp thứ nhất ,bài thơ danh tác : Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan .
III-Trường hợp thứ hai ,bài thi kệ danh tác : Ngôn hoài  của Không Lộ thiền sư

II-Trường hợp thứ nhất, bài thơ danh tác : Qua Đèo Ngang (2)
1- Đã gặp rắc rối và Giải mã bài thơ Qua Đèo Ngang.
Một bài thơ cổ văn của tiền nhân ta, một khi được đưa vào bậc học phổ thông lý ra là một bài thơ mà mọi vấn đề liên quan đến nó nay đã được văn giới giải quyết dứt điểm. Tiếc thay!. Việc ông nói gà bà nói vịt, chín người mười ý, văn chương từ xưa đến vốn là vô bằng cớ, là thủ pháp ngụy biện của người bình thơ khiến cho một vấn đề văn học tưởng chừng quá đơn giản lại trở thành bế tắc. Theo tôi nghĩ cần phải phân tuyến. Lẽ nào,người lười biếng lại đóng góp tiếng nói có tính cách quyết định cuối cùng.
Tuyến học đường ở bậc học phổ thông rất cần minh bạch, còn tuyến trà dư tửu hậu thì tùy. Có nên chăng, người góp một tay chấm dứt thói quen của văn giới xưa nay ,"nhai dập dập rồi bỏ mứa ,lớp sau lại phải "dọn dẹp". "Ai đó" đã bình thơ Qua Đèo Ngang , " Bà trên đường vào Huế nhận nhiệm sở, " , xin hãy đưa ra lời phản biện khả tín,lý do nào bạn đã đi đến kết luận như thế. Giúp tuổi teen lớp 7 ,và giúp thầy cô chúng nhẹ cái đầu ,âu lo . Con trẻ cần lấy điểm trong lớp, thầy cô cần đở nhọc nhằn khi soạn bài thao giảng thi đua , trả nợ " cô hồn" .
Người Việt phân dòng thơ Đường thất ngôn bát cú có tám câu,chia làm bốn cặp, Đề , Thực ,Luận và Kết . Theo sát bố cục này rất khó làm thơ. Người không quen thấy bó và khó. Người tài hoa dùng quen, thì đâu vào đó, nó tạo ra một lâu đài kiên cố, lung linh và kỳ ảo.Thơ càng hay thêm .Bà Huyện Thanh Quan là một kiến trúc sư tài hoa, tuy rằng bà xây dựng không nhiều bài thơ . Ba bài là đã quá đủ . Người tài hoa, chọn điển từ, điển tích, địa danh, cho chúng xuất hiện trong câu để " nống ý " trong câu và nống ý văn bản. Chúng ta linh hoạt hiểu điều ẩn dụ mà tác giả muốn nói, muốn gởi gấm. Viết và giảng theo hướng lợi nhất, tích cực nhất,Tiền nhân ta được tiếng khen mà lý ra họ đã được hưởng, cháu con ta được hưởng xái. Đã có vô số các lời bình về bài thơ này trong gần một thế kỷ nay. Người tham gia rất đa dạng, đủ mọi trình độ, mọi thành phần.
Wikipedia có trích lại lời bình đại diện mà hơn sáu mươi năm qua sách Giáo khoa đã dùng : "Với phong cách trang nhã, bài thơ "Qua Đèo Ngang" cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời thê hiện nỗi nhớ nước thương nhà, nỗi buồn thầm lặng cô đơn của tác giả" . Lời bình " trớt quớt" đầy cảm tính. Lời lẽ kết tinh bằng ngôn ngữ quy ước mà người học trò vốn ngán ngại văn chương ham chơi năm xưa đã ghi vào sổ tay để học thuộc lòng,để làm bùa lấy điểm.
Văn là người , "Ở nơi những nhà văn danh tiếng, rất dễ dàng nhận ra lối văn đặc biệt của họ. Cho nên tìm hiểu một nhà văn là tìm hiểu cái đặc biệt, độc đáo trong lối nhìn đời của họ và tìm hiểu cái đặc biệt, độc đáo đó ngay trong lời văn, lối văn, hay nói một cách rộng hơn, trong bút pháp vì bút pháp gắn liền với con người của họ. Chúng tôi cho rằng một phê bình văn học chính đáng phải lấy chính tác phẩm làm khởi điểm và đứng vào quan điểm nghệ thuật của chính tác giả để rút ra những tiêu chuẩn của nghệ thuật." "... Ði vào tác phẩm văn chương là phải bám sát vào bút pháp, vì tất cả ý nghĩa, tư tưởng, con người tác giả ta muốn tìm hiểu đều ở trong bút pháp." (tr. 198). NVT ,LKVH ,
Gần một trăm năm nay, đọc bài thơ này đã có nhiều lời bình, tuy nhiên lời bình lạ nhất vẫn là lời bình của giáo sư triết học và dạy phân tích văn học Nguyễn văn Trung. Qua cách nhìn toàn cục của một triết gia chỉ với 56 từ trong bài thơ Qua Đèo Ngang, ông nhận xét về cách dùng tính từ của Bà Huyện Thanh Quan, ông kết luận, Bà mang một tâm lý chán sống bởi đời nào có gì vui .
2- Giải mã xuất xứ và xác định thời điểm ra đời .
2.1 Xuất xứ và chủ đề