Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

ẤN TƯỢNG VIỆT NAM CỦA TÔI






ẤN TƯỢNG VIỆT NAM CỦA TÔI
          Nadia Stiuơt ( Ca na đa)
          Vũ Nho dịch từ tiếng Anh

Mùa hè này (1994) tôi có mười tuần ở Hà Nội cùng với 5 sinh viên khác và một giáo sư từ trường Đại học tổng hợp Sanh Mari ở Haliphac, tỉnh Nova Scotia, Ca na đa. Chúng tôi học các ngành khác nhau, tôi theo ngành nghiên cứu phát triển quốc tế, và một mùa hè ở Việt Nam là cơ hội cho tôi hiểu sự phát triển theo một hướng mà không một cuốn sách nào có thể chỉ dẫn cho tôi. Nhóm chúng tôi đến Việt Nam thông qua chương trình liên kết Canađa Đại Tây Dương – Việt Nam. Mục tiêu của chương trình này là xúc tiến sự hiểu biết và liên kết giữa hai khu vực.
          Chúng tôi dùng hai tuần đầu tại Trường Đại học ngoại ngữ Hà Nội để học một chương trình tiếng Việt cơ bản cấp tốc. Một số người trong nhóm đã trở nên thành thạo hơn so với những người khác về ngôn ngữ, chẳng may, tôi học không được nhiều. Sau định hướng sơ bộ, chúng tôi chia ra tiến hành các nhiệm vụ khác nhau. Tất cả chúng tôi làm các công việc đa dạng trong tám tuần còn lại. Tôi dạy và kèm cặp tiếng Anh tại Bộ Giáo dục và Đào tạo.
          Tôi đã học rất nhiều thứ trong mùa hè này, không chỉ việc dạy tiếng như thế nào. Tôi chưa hề dạy một lớp học nào trong đời mình trước khi đến Việt Nam. Các học viên làm tôi tin rằng ai biết nói tiếng Anh thì có thể dạy học được, nhưng sự việc chẳng dễ dàng như thế. Dạy học là một sự thử thách nhưng các học viên của tôi đã rất nhiệt tình ủng hộ tôi và dạy tôi nhiều như tôi dạy họ. Điều này thật tốt đẹp. Tôi nghĩ một giáo viên phải luôn luôn học hỏi các học viên của mình cũng như họ. Tôi hi vọng rằng, trong tương lai, khi tôi dạy học, các học viên của tôi cũng sẽ tuyệt vời như những người tôi dạy năm nay. Chúng tôi trở thành những người bạn tốt và các bạn tôi đã dạy tôi rất nhiều về đất nước Việt Nam.

Chúc mừng năm mới



Chúc mừng năm mới 2013!
Chúc các vị khách của quán AN KHANG 

THỊNH VƯỢNG!
Chủ trang vunhonb.blogspot.com

Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2013

Mùa Xuân đọc sách dạy cách học thơ



Mùa Xuân đọc sách dạy cách học thơ


      Mùa Xuân – mùa của thơ ca và nhạc họa. Mùa của cây cối đâm chồi và nảy lộc. Mùa mà những cánh hoa có thể thức tỉnh tâm hồn thi sĩ sau một mùa đông giá lạnh. Có thể nói mùa xuân là đề tài muôn thuở của thi ca. Kẻ thích hóng chuyện văn chương và thời luận như tôi cũng ham hố làm thơ và bình luận. Mùa xuân tới làm tôi rạo rực, thích làm thơ nhưng cứ lơ ngơ vì không biết niêm luật vần thơ. 
      May quá! Trong tiết trời se lạnh, gió thổi hun hút cuốn theo bụi đất đỏ Bazan, tôi nhận cuốn “Thơ và dạy học thơ” do tác giả Vũ Nho gửi tặng. Một cuốn sách sẽ rất tốt cho tôi nếu như tôi là giáo viên dạy môn Văn. Tiếc rằng tôi được đào tạo chuyên ngành sư phạm Hóa. Nhưng không sao, trong sách vẫn có những nội dung và thông tin tôi cần như: những khảo luận về tứ thơ, thể thơ, niêm luật thơ. Nếu nói theo ngôn ngữ của chuyên ngành kinh tế chính trị thì tác giả Vũ Nho đã phần nào cho tôi thấy được “kiến trúc thượng tầng” của một bài thơ. Và cũng đã cho tôi “tư liệu sản xuất” để tôi tập tành làm thơ.

Thứ Năm, 7 tháng 2, 2013

SƠN TRẠI TẢN VĂN DƯ HOA



                                                                                             Vũ Công Hoan

SƠN TRẠI

                                                         TẢN VĂN

                                                           DƯ HOA

                                                VŨ CÔNG HOAN dịch

          Có thể từ rất nhiều góc độ khác nhau kể chuyện Trung Quốc đương đại. Ở đây tôi chọn kể chuyện sơn trại, vì nó là chuyện thần thoại quốc gia trên ý nghĩa dân gian.
         
           Ý nghĩa đầu tiên trong tiếng Hán, thì từ sơn trại là chỉ những sơn trang xây công sự phòng thủ có hàng rao bao bọc, về sau phát triển thành chốn nghèo khổ, nơi cư trú của người nghèo và doanh trại mà các hảo hán rừng xanh cũng như bọn trộm cướp thổ phỉ ngày xưa chiếm giữ. Ngữ vựng này cũng có hàm nghĩa không bị quan chức nhà nước kiểm soát.
         
          Những năm qua,  đi đôi với sự lưu hành máy điện thoại di động Sơn Trại giá rẻ và tính năng hoàn hảo, từ “Sơn Trại ” làm cho “mô phỏng” có hàm nghĩa hoàn toàn mới, đồng thời biên giới của nghĩa từ vốn có của “mô phỏng” cũng bị loại bỏ, con dấu thị thực không cần nghĩa từ như làm giả, xâm phạm bản quyền, không qui phạm, đùa cợt, trò xấu...cũng có thể vượt biên đi vào“mô phỏng” trở thành thần dân của Sơn Trại. Có thể nói sơn trại là từ vựng có tinh thần chủ nghĩa vô chính phủ nhất trong tiếng Hán hiện nay.
         
          Điện thoại di động ban đầu bắt chiếc tính năng và hình thức bên ngoài của mác sản phẩm như Nôkia, Sam sung. Sony- Ericsson, hơn nữa lấy cái giả làm rối loạn cái thật, mệnh danh sản phẩm của mình là Nkir,Samsing, suny- Ericcsun. Điện thoại di động sơn trại sao chép sản phẩm chính quy nên tiết kiệm được chi phí nghiên cứu mở mang, giá của nó chỉ bằng một phần năm sản phẩm chính qui, thậm chí rẻ hơn. Mà lại nhiều tính năng, kiểu dáng mới, nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường của người tiêu dùng hạng vừa và  hạng thấp.
         
          Qui mô của ngành nghề sơn trại sau khi nhanh chóng mở rộng,mác sản phẩm điện thoại di động của nó cũng phong phú đa dạng, có một kiểu điện thoại di động sơn trại tung ra thị trường mới nhất,mượn danh của trường đại học Ha vớt của Mỹ, tự xưng là “Ha vơt thông tin” chế tạo,  lại còn để tổng thống Mỹ Ô ba ma là người đại diện phát ngôn kiểu máy điện thoại di động sơn trại này, để ông Ôba ma mỉm cười xuất hiện trên quảng cáo tuyên truyền điện thoại di động sơn trại. Nụ cười mỉm của Ôba ma đã rải ra khắp các nơi trên thế giới, là nụ cười nổi tiếng nhất trên thế giơí hiện nay, cũng là nụ cười có quyền thế nhất, bây giờ lại được kẹp giữ trên quảng cáo máy điện thoại di động sơn trại của Trung Quốc. Trên quảng cáo điện thoai di động sơn trại, Ôbama mỉm cười nói:
          - Cơn lốc 9500BlokBenrri cuả tôi.
          Ô ba ma là tượng trưng hôm nay của giấc mộng nước Mỹ chảy daì mãi mãi, có lẽ ông ta vẫn không mộng tưởng được sự việc ly kỳ như thế này.Khi người Mỹ  nhìn thấý tổng thống của họ lại là người đại diện phát ngôn quảng cáo điện thoại di động sơnt trạiTrung Quốc, có thể sẽ ngạc nhiên há mồm trợn mắt. Người Trung Quốc chúng tôi lại không cho là thế, sơn trại hóa Ô ba ma một cái có gì là không được? Trung Quốc ngày nay,ngoài người lãnh đạo đảng và nhà nước đang tại chức không được động đến, những người lãnh đạo đảng và nhà nước đã về hưu vẫn còn sống cũng không được động đến. Bất cứ người nào khác đều có thể bị sơn trại hóa, có thể bị đưa ra làm trò cười và trêu chọc, có thể  bị tùy ý mô phỏng và tùy ý bôi bác.
         
          Mạo Trạch Đông đã từng là lãnh tụ vĩ đại, người thầy vĩ đại,thống soái vĩ đại, tay lái vĩ đại, sau khi mất 43 năm, cũng giống như Ô ba ma, trở thành vai chính của quảng cáo son trại Trung Quốc. Ngày mồng 1 tháng 10 năm nay, hay nói cách khác nhân  dịp quốc khánh 60 năm,hai bên cửa chính của một KTV ở nơi nào đó của Triết Giang, mỗi bên treo một áp phích sơn trại màu đỏ khổng lồ. Trên áp phích sơn trại Mạo Trạch Đông mặc quân phục, đầu đội mũ quân đội, tay cầm mi cơ rô, cất cao ca khúc màu đỏ. Tư thế hát của ông không hề có phong cách lãnh tụ khi ông còn sống, nhìn vào là một viên quan nhỏ địa phương đêm đêm trà trộn trong hội đêm KTV. Phía dưới bên phải của áp phích còn liệt kê hơn mười bài hát màu đỏ như “Hôm nay là ngày sinh nhật của anh”. “Tổ quốc tôi”, “Trung Quốc - Tôi yêu Nguời”, “ Người Trùng Quốc”, “ Ca ngợi Tổ quốc”.
          Lúc này, nhân viên công tác của KTV kiêu hãnh nói:
          - Tranh áp phích treo hôm mồng một tháng mười, chúng tôi chúc mừng ngày hội lớn quốc khánh bằng hình thức này.
         
          Năm 2008, nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch, tỉnh Hồ Năm quê hương của Mao Trạch Đông, từ cả nước chọn ra Mao Trạch Đông sơn trại, với mục đích là để các Mao Trạch Đông sơn trại giống như mồi cá cuốn hút cá đến cắn câu, vẫy gọi càng nhiều khách đến Hồ Nam tham quan du lịch. Noi theo lối nói của một quan chức văn hóa địa phương là:
          - Đây là một sáng kiến mới của cải cách thể chế văn hóa tỉnh chúng tôi, cũng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của ngành du lịch văn hóa tỉnh tôi.

Thứ Tư, 6 tháng 2, 2013

HÃY CHÔN MẸ RA BIỂN LỚN




                                        
                                                                               Vũ Công Hoan



HÃY CHÔN MẸ RA BIỂN LỚN

                                                                                                 Từ Tuệ Phần
                                                                                           Vũ Công Hoan dịch

          Trong nhà yên ắng đến đáng sợ. Chiếc đồng hồ báo thức trên tường cứ tích ta tích tắc gõ nhịp đều đều cô nghe tiếng mà cảm thấy rùng rợn. Mẹ cô nằm trên giường, hai hố mắt trũng sâu, hơi thở thoi thóp.
         
          Cô nắm chặt bàn tay xương xẩu của mẹ. Cô muốn mẹ cảm biết con gái mẹ vĩnh viễn lưu luyến không muốn xa rời mẹ.

          Hai mươi năm trước cũng diễn ra một cảnh tương như thế này. Hồi ấy mẹ cô vừa tròn năm mươi tuổi, bệnh tim đột biến, bác sĩ bảo, bệnh tình nguy kịch, người nhà không được đi đâu! Cô cũng níu chặt tay mẹ như thế này. Đúng là mẹ cô đã dẫy thoát khỏi tay tử thần trở lại nhân gian. Hiện tại cô biết không thể có kỳ tích ấy.
         
          Nhưng vẫn tỉnh táo,bà khẽ mấp máy hai môi, ánh mắt dẫn dắt con gái đến với cái tủ quần áo cũ ở góc tường .
         
          Trái tim con gái chợt co giật, một giọt nước mắt to gía lạnh rơi xuống. Cô hiểu ý mẹ, mươi năm nay như một lưỡi dao khắc lên tâm khảm cô, cô làm sao quên nổi.! Hôm ấy mẹ nằm thở hổn hển trên giường bệnh, từng câu từng câu bà giặn dò con gái:
          - Đời mẹ không đòi hỏi gì khác, chỉ cầu xin con cái một việc, sau khi mẹ chết, tuỳ tiện chôn mẹ ở đâu cũng được, nhưng tuyệt đối không chôn cùng bố. Hồi ấy cô không sao ngờ được bố mẹ lại oán hận nhau đến thế, may mà sau đó từ bên tử thần, mẹ đã trở về, đứa con gái như cô mới có cơ hội dò nghe được tiếng lòng của mẹ. Mẹ ngậm nước mắt nói với cô: Thật ra hai vợ chồng ông bà là một đôi oán hờn. Năm con gái năm tuổi, một lần bà đi thăm chồng công tác ở tỉnh ngoài, phát hiện chồng mình đã yêu và ăn ở chung với một đàn bà. Lúc ấy bà trách hỏi ông, ông đã hứa nguyện sửa lỗi lầm trước kia. Về sau thực hiện chính sách, ông được điều về tình nhà, nhưng bà phát hiện chồng vẫn luôn luôn liên lạc với người đàn bà kia.

ĐẾN VỚI TẬN CÙNG GẶP THẬT VÀ MƠ




                       TRẦN TRUNG

Tận cùng
(Thái Thăng Long)
Hãy yêu tận cùng những gì có thật
Hãy đau tận cùng nỗi đau dao cắt
Hãy đam mê tận cùng như chưa có đam mê
Hãy giả dối tận cùng những điều giả dối

Hãy lừa lọc tận cùng những điều lừa lọc
Cơn bão mạnh tận cùng rồi trở lại bình yên
Cơn mưa tận cùng là trời hửng nắng
Cái đẹp tận cùng thành ra trống vắng

Trái đất rồi đây liệu có tận cùng
Bao nhiêu triết lí viển vông
Đẩy kiếp đời chan đầy nước mắt
Hãy đến tận cùng đó là sự thật
Rồi tâm hồn ta lại thấy ước mơ.

ĐẾN VỚI TẬN CÙNG GẶP THẬT VÀ MƠ
(TRẦN TRUNG)
Đọc bài thơ “Tận cùng” của Thái Thăng Long, trong tập “Đồng hành thế kỉ” – NXB Thanh Niên – Hà Nội – 2009), tôi thích cái chất của tứ thơ. Đó là một kiểu lập tứ, dựng tứ trong sự kết hợp hai tố chất: ma quái mà dung dị; sắc sảo mà chân thành…Và, đấy là sự tạo lập đa chiều thực - ảo trong thơ.
 Trong cuộc sống, nhiều khi ta phải biết chấp nhận, biết sống chung với nhiều thái cực của cuộc sống nhân sinh. Điều ấy, hình như các cụ ta từng nói, từng dạy: “Dĩ hòa vi quí”; “Quí hồ tinh bất quí hồ đa”; “Ung dung tự tại”…
Thế nên, tôi sửng sốt – vừa lạ, vừa khoái chá Thái Thăng Long ngay từ bốn câu thơ đầu của anh:
“Hãy yêu tận cùng những gì có thật
Hãy đau tận cùng nỗi đau dao cắt
Hãy đam mê tận cùng như chưa có đam mê
Hãy giả dối tận cùng những điều giả dối”.

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

Nguyễn Đức Thiện với KIẾP NGƯỜI XUỐNG XUỐNG LÊN LÊN







Nguyễn Đức Thiện với KIẾP NGƯỜI XUỐNG XUỐNG LÊN LÊN

Đọc tiểu thuyết KIẾP NGƯỜI XUỐNG XUỐNG LÊN LÊN, nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2010.

                                           Vũ Nho

Tiểu thuyết này được viết trong vòng một năm, từ tháng 5 năm 2007đến tháng 5 năm 2008. Với một người đã viết và in 6 tập truyện ngắn, 6 tiểu thuyết thì đây vừa là một thách thức, vừa là một thành tựu. Thách thức vì là viết nhiều như vậy, có thể sẽ cạn vốn, không còn gì để viết. Thành tựu vì vượt qua thách thức  lớn đó, viết được chứng tỏ bút lực còn mạnh mẽ. Hơn nữa, như Nguyễn Đức Thiện  bộc bạch về nghề : “Viết văn là để trải lòng mình ra, để giải tỏa tất cả những gì chứa chất trong mình. Ai cũng có kí ức. Tôi viết văn trước hết là để chép lại những kí ức của mình […] Tôi sẽ ngưng viết khi thấy trong mình không còn kí ức nữa” (Suy nghĩ về nghề văn trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại, in lần thứ 4, trang 618). Vậy còn viết tức là còn kí ức, còn nhu cầu trải lòng,  còn nhu cầu giải tỏa.
Mảnh đất  miền Tây gắn bó với Nguyễn Đức Thiện lại thêm một lần nữa làm bối cảnh cho tiểu thuyết này. Câu chuyện được triển khai xoay quanh  nhân vật chính - một cô gái làm ở mỏ đất sét, bỏ lên thị xã, rồi rơi vào tay lũ buôn người, bị bán sang bên kia biên giới. Hận thù tay chủ, cô trốn về và quyết trả thù. Cuộc đối mặt với chủ nhà hàng Xuân Đào đã khiến cô gái bị tra tấn, hành hạ dã man. Và tiểu thuyết  mở đầu bằng bản tin về cô của báo chí làm xôn xao dân cư  thị xã T.

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

NHÀ THƠ KỂ CHUYỆN LÀNG MÌNH






NHÀ THƠ KỂ CHUYỆN LÀNG MÌNH
Đọc Cổ pháp cố sự của Nguyễn Khôi, nxbVăn hoá dân tộc, 2003

                                                                       Vũ Nho

Hẳn không phải ngẫu nhiên mà làng thành một đơn vị hành chính vô cùng quan trọng trong tâm thức người Việt. Thậm chí đã có câu phép vua thua lệ làng. Bởi vậy, đã có người làm thơ chỉ viết về làng mình, viết tiểu thuyết về một ngôi làng tưởng tượng nhưng cũng là bóng dáng làng mình. Đã có nhiều bài báo viết về những ngôi làng nổi tiếng đăng trên tuần báo Văn Nghệ. Và bây giờ, bạn đọc lại thú vị được đọc một tập tuỳ bút về phong tục , lịch sử của làng. Đó là tập Cổ Pháp cố sự của Nguyễn Khôi. Với một người từng viết khảo cứu văn học dân gian, làm thơ, viết tuỳ bút về xứ Thái mù sương thì cuốn sách này có thể sẽ phát huy hết được những kinh nghiệm và thế mạnh vốn có  của anh. Nhưng có lẽ cái tình yêu làng, yêu quê da diết, thăm thẳm của một người trai Đình Bảng mà hoàn cảnh đưa đẩy luôn phải phiêu bồng li hương mới là điều  quyết định làm nên căn cốt, hồn vía cho tập sách này.
          Không tính những lần đi đi về về nơi làng quê thân thiết gần suốt cả đời người. Không tính những lần thư thả được về lại mái nhà xưa, ngẩn ngơ nhìn cảnh vật đổi dời, cảm khái nhắc câu thơ Vũ Đình Liên : Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ. Không tính những kỉ niệm ăm ắp về làng ngày còn nhỏ với bao  nhiêu chuyện hội hè , cưới xin, giỗ chạp, làm ăn. Đó là những cái vốn tự có phong phú dồi dào, đảm bảo cho thành công của tập sách. Chỉ tính riêng  37 tài liệu tham khảo mà Nguyễn Khôi đã  xem và nghiền ngẫm, tìm chứng cứ liên quan đến tên làng, phong tục của làng, những người làng nổi tiếng từ ngày xửa ngày xưa, chúng ta cũng phần nào thấy được sự công phu và tình yêu làng  của tác giả. Cái việc to lớn ấy, không phải người trai Đình Bảng nào cũng có thể làm cho làng mình. Ấy là còn chưa tính đến số tiền tự bỏ ra để những chuyện về làng có thể đến được tay bạn đọc.

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

KHOẢNG CÁCH



                                                
                                              

     KHOẢNG CÁCH
                                                           
TẢN VĂN
                                                            
DƯ HOA
                                              
VŨ CÔNG HOAN dịch

          Một thiếu niên ngày xưa đã chứng thực sự từng trải thế này, có lúc từ nhút nhát sợ sệt đến không hề khiếp sợ chỉ cách nhau một bước. Đây là một chuyện cũ thời kỳ giữa những năm 1970, chúng tôi từ cuộc sống trầm buồn ức chế đi đến hồi kết của đại cách mạng văn hoá.
          Tôi muốn kể một câu truyện về bạn học ngày xưa.Hiện giờ anh vẫn ở trên thị trấn nhỏ quê hương, thất nghiệp nhiều năm, sống dựa vào số tiền nghỉ hưu còm của bố đẻ. Tôi còn nhớ  nét mặt thanh tú ngày ấy của anh, bởi vì hai cái răng nanh chìa ra của anh bị mất, thân hình gầy nhỏ của anh khi bước đi thường bám theo sau lưng chúng tôi.
          Thời ấy chúng tôi là bọn trẻ con hè phố  hay sinh sự, thường cãi nhau đánh nhau với với bọn trẻ cùng trang lứa trên thị trấn. Cũng có khi hùng hùng hổ hổ dám ra tay huỵch lại đám thanh niên cao hơn mình nửa cái đầu.Lần nào dã nhau kịch liệt, anh bạn ấy cứ nấp nấp tránh tránh ở xa xa trông xem, không bỏ chạy cũng không tham chiến. Về sau anh đột nhiên tỏ ra dũng cảm không sợ, trận ẩu đả nào cũng xông lên trước, rút lui sau cùng.
          Có lần bọn nhóc hè phố chúng tôi bị bọn thanh niên đường phố đánh cho ôm đầu bỏ chạy. Giữa lúc chúng tôi tan rã hoàn toàn, người bạn học này chạy về nhà rồi lại vung con dao bài xông ra  đối mặt với tụi thanh niên hè phố sĩ khí ào ào. Con dao bài trong tay phải của cậu ta cứa một nhát trên mặt mình đầu tiên, khi máu toé ra, lại dùng tay trái lau trên mặt một cái, rồi hò hét ầm ĩ xông vào trong khi mặt mày máu me nhễ nhãi.

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

TRONG "CÕI LIỄU"






TRONG "CÕI LIỄU"

          Đọc Cõi tôi của Lưu Thị Bạch Liễu, nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2007

                                                       Vũ Nho

          Cuộc thi thơ tình năm 2006-2007 của báo Văn Nghệ, Lưu Thị Bạch Liễu được giải A với 3 trong số 5 bài thơ dự thi. Trong tập Thơ tình tuyển chọn  năm 2007 của nhà xuất bản Hội nhà văn, Lưu Thị Bạch Liễu là một ẩn số. Không có ảnh, không có năm sinh, và cả không một dòng địa chỉ. Bây giờ trong tập thơ Cõi tôi  của nhà xuất bản Hội nhà văn cũng vậy. Mặc dù chẳng khó khăn gì khi in một tấm hình, một vài dòng sơ lược về bản thân, hoặc  nhiều hơn nữa là số điện thoại, địa chỉ  email. Nhưng với tác giả Bạch Liễu, không  có một thông tin nào khác. Phải chăng, tác giả muốn người đọc chỉ hình dung chị qua thơ, và chỉ thơ mà thôi. Bởi vì  thơ là sự phản ánh chân thực nhất, là tấm gương soi của hồn người, như Hàn Mặc Tử từng viết: Người thơ phong vận như thơ…
          Có thể thấy rằng trong thơ Lưu Thị Bạch Liễu thể hiện là một người phụ nữ thích một mình, thích kín đáo, lặng lẽ độc hành. Nhiều  tên bài thơ phản ánh đặc điểm này : Độc hành, Cõi tôi, Tự khúc (1,2), Không ai đùa sóng với tôi, Một mình (1,2,3).
          Những câu thơ của chị càng thêm rõ:
          Một mình trên đường Đông […]/Một mình trên đường Sương /bước từ mờ mịt/ vào mịt mờ /gió vội đi đường của gió/ tôi trên đường của tôi (Cõi tôi).        Ta hãy đến vào ngày sinh nhật của nhà thơ thì càng rõ:
Không rượu /không nến/ không hoa/ chỉ một người nhớ/ đang xa (Sinh nhật).
Chính cái tình trạng một mình, tình trạng  cô đơn cho phép người ta chìm vào trong cõi lặng,  thăng hoa lên cõi lạ, đạt được sự tự do tuyệt đối ở cõi tôi trong suy tưởng, ngẫm ngợi, nhớ thương, mơ ước và mong đợi.