HOÀNG LIÊN SƠN viết về thơ PHÙNG VĂN KHAI

TỪ MỎ NGẦM VỀ MỎ LỘ THIÊN
(Về tập Thơ viết cho mình của Phùng Văn Khai –
Nhà xuất bản Hội nhà văn năm 2026)
Gần một năm trở lại đây, kể từ khi có GPTCHAT tôi bỗng có được nguồn
kiến thức về các loại chủ nghĩa của nhân loại để học lỏm. Giờ trong cách tôi cảm
nhận và đánh giá về thơ Phùng Văn Khai, hẳn sẽ ít nhiều có chịu ảnh hưởng từ các
chủ nghĩa ấy. Điều này gây thiệt hay tạo lợi cho Khai tôi chưa chắc, nhưng chắc
chắn là có lợi cho bạn đọc hơn.
1. Riết róng với ký ức
Phùng Văn Khai “tu thân” ghê lắm. Ông thiết lập một kỷ luật làm việc mà
tôi quả thực biết rõ mình không sao theo nổi. Giả sử có thử cố theo thì hẳn sẽ sớm
bị đứt chứ không phải là chùng xích nữa. Trên thực tế ông đã duy trì kỷ luật ấy
mấy chục năm liền, thức khuya dậy sớm. Ông không chỉ dùng chuông báo thức để
gọi mình dậy vào sáng sớm, mà còn có những cách tự gọi mình ở bất cứ đâu vào
bất cứ lúc nào! Như trong lời dẫn của bài thơ Sông Hồng, ông chia sẻ: “Viết về
sông Hồng cũng là tự rèn luyện bản thân mình”.
Tôi cũng dăm ba bận tới Văn Miếu vì những ngày thơ Việt Nam tổ chức ở
đó, tan hội thì về, đâu có ngờ với bạn mình thì như ông chia sẻ trong lời dẫn của
bài Văn Miếu: “Ẩn tàng trong những văn bia là vô số câu chuyện về hiền tài, về
thịnh - suy, về vận nước và thế nước. Năm nào tôi cũng nhiều lần có mặt ở Văn
Miếu, nhất là những ngày cuối năm vắng lặng thường một mình đi giữa hàng bia
đá trong lất phất mưa bụi mịt mùng”.
Cứ như tôi, chịu sự hối thúc của công việc cõi thế hiện tiền đã đủ mệt, đằng
này ông tự nguyện nhận thêm cái hối thúc từ cả tiền nhân và lịch sử. Nhưng tôi
cũng biết ông phải xả thân thế thì ngòi bút mới ra được bấy nhiêu bộ tiểu thuyết
lịch sử dày dặn, có quyển là sự hư cấu gần như hoàn toàn chỉ với vốn liếng sự kiện
là nửa trang A4 trong chính sử: Lý Đào Lang Vương.
2
Định hướng của tôi khá khác ông trong nghiệp viết này. Tôi cũng có những
ngày cảm xúc trào lên dồi dào mạnh mẽ, làm đến 8 bài thơ. Tôi phát nguyện sẽ trở
thành nhà thơ từ khi mới chớm ngoài đôi mươi, và trả lời dõng dạc nhà văn Hòa
Vang về nguyện ấy. Tôi cũng cả đời mong một ngày nào đó nhẹ gánh mưu sinh thì
toàn tâm toàn ý với việc viết. Nhưng tôi đồng thời cũng ý thức được rằng bể giác
tính nhân loại mênh mông vô bờ, người có nhiều góp nhiều có ít góp ít, góp bao
nhiêu cũng quí cả. Tôi lại được kinh sách dạy rằng cả ba so sánh “hơn, kém, bằng
người” đều là tự ti.
Ông thì khác, nhất định giữ quyền tỏa sáng cho bản thân, nhất định như con
tằm phải nhả kiệt cùng tiềm năng tơ của mình trong từng ngày một, phần tơ của
ngày nào phải nhả ngày ấy rồi mới yên tâm.
Quyền tỏa sáng ấy có lúc được ẩn dụ dưới một thôi thúc vận động, đi tới:
“Nước đã một đi không trở lại
Ta còn cam phận với riêng ai ?“ – (Sông Hồng)
Có lúc trong hàm ơn và gánh nặng trả ơn:
“Mẹ cũng như sông về vô tận
Để con nguyên vẹn những ban mai.“
Nhưng tôi lại có phần khoái thú với nét ngộ nghĩnh của cách ví von này hơn:
“Lặng thầm đã mấy nghìn năm
Mà sông vẫn trẻ như trăng lạ kỳ“
Thoạt đọc thấy cái sai sai là đem so với nghìn năm của sông thì tỷ năm của
trăng sao mà trẻ được? Nhưng thực ra bất kể bao tỷ năm tuổi trăng vẫn trẻ bởi đó là
trăng với ánh sáng đẹp dịu hiền của mình trong tâm thức con người. Nó cho phép
liên tưởng tới câu thơ của Nguyễn Trọng Tạo:
“Em mười chín tuổi nghìn năm trước
Sao đến bây giờ mới hai mươi? “ – (Thiên thần)
Đã viết nhiều tiểu thuyết về các triều vua nhiều đời như bộ về nhà Tiền Lý,
về các vị vua “lẻ” như Ngô Vương, Phùng Vương; nên những biểu tượng như
sông, núi, đất, nước... xuất hiện nhiều trong thơ ông. Và tôi thích cách biểu tượng
được xuất hiện dạng này:
“Ngô Vương định quốc nghìn năm trước
Vẫn nguyên vóc nước buổi thanh bình.“ – (Thành Cổ Loa)
3
Chữ “vóc” khiến “nước” trở nên thân gần, bớt phần sáo mòn và cách bức.
Từ pháp đó còn được Phùng Văn Khai nhiều lần sử dụng ở trong các bài thơ
sau, chẳng hạn “Vương triều Tiền Lý khang trang » - (Bài Chùa Cổ Pháp). Tôi cắt
nghĩa rằng cách sử dụng biểu tượng như vậy do góc nhìn của ông về nguồn cội của
mọi vị vua quan hiển hách:
“Đem thân vào nghiệp đế vương
Đều từ tiếng khánh, tiếng chuông chùa làng“
Nhắc nhở bấy nhiêu chưa đủ, ông còn riết róng hơn nữa, chỉ rình sợ người ta
trở nên vô ơn với những phận người bình thường:
“Những ai tên tuổi rạng ngời?
Đâu người thợ đá xương phơi dặm ngàn?“ – (Văn Miếu)
Ông đa mang biết bao nhiêu! Trong tham vọng mà giờ nhìn lại mới thấy
ngông cuồng, tôi đã cống hiến rất nhiều công sức để phát hành sách gây quĩ dựng
trường cho trẻ em miền núi, với suy tư rằng nhà thơ nhà văn cần hướng tới những
nhu cầu thực tế của đời sống, tức là làm ra thứ văn «hữu ích » chứ không chỉ văn
« chơi », không thể sống kiểu « tâm hồn treo ngược cành cây ». Hóa ra rất nhiều
ngòi bút như Phùng Văn Khai chẳng hạn, luôn đau đáu với tính « hữu ích » của
văn!
Nhắc chung chung « tên tuổi rạng ngời » chưa đủ, ông chỉ đích danh :
“Còn nguyên bia đá, bảng vàng
Tấc lòng trung - chính có còn nguyên không?“
Và tôi hiểu, tâm ông nặng biết bao khi bộc bạch nỗi không chắc chắn này:
“Hỏi cây, gió thổi ngập ngừng
Hai hàng rùa đá âm thầm đội bia.“
Cái tâm ấy không vì cảnh sắc đẹp mà lu mờ. Ngay giữa ong, hoa, ông vẫn
thấu tỏ tính “về đâu” của cái “mang mang” nhiều thời:
“Sắc vua, lệnh chúa mang mang
Về đâu? Chỉ sắc thu vàng cỏ hoa.“– (Phố Hiến)
Tất nhiên cũng muốn gián tiếp nói về chữ vô thường với đương thời. Nhưng
liệu lọt tai được mấy ai?
Những ví dụ trên đây cho thấy một kỹ thuật khá phổ biến trong thơ ông là
những cú twist ở gần cuối bài thơ, vừa khiến độc giả được vỗ về yên ả đằng trước,
vừa được đánh thức phía sau để trở về đúng với “như thực tuệ tri” chứ không ở sâu
trong bất cứ giấc mê nào.
Bài Cầu Long Biên cũng tương tự, khi cảm hứng ngợi ca cây cầu bền chắc
hàng trăm năm được triển khai dầy dặn rồi, ông đột ngột tung ra:
“Trăm năm gió thổi, mây đùa
Trăm năm nữa, biết gió mưa thế nào“
Những cú twist ấy khiến thơ mang hơi thở của nhịp sống đương đại gần gũi
với giới trẻ hôm nay, dù đối tượng trữ tình đã có từ trăm ngàn năm trước.
Có những câu thơ đọc chơi kiểu thưởng thức, nhưng có những câu tôi biết sẽ
phần nào thay đổi cả tập quán đàm đạo, phát ngôn của độc giả về chính sự, chiến
sự; bởi chỉ khi chúng ta ý thức được cái “Đầu mình riêng của mình đâu” của nhân
vật trữ tình thì sự “bàn” may ra mới có cơ thấu tình đạt lý. Ý tứ sâu sắc đã đành,
nhưng cách sử dụng biểu tượng của ông trong bài Trước miếu thờ thái phó
Phùng Tá Chu quả là ấn tượng, men mén gợi không khí pháp trường, đao phủ:
“Trăm dân cơ cực, dãi dầu
Đầu mình riêng của mình đâu mà bàn? “
Trong không khí một cái like, cái share trên không gian mạng cũng có thể
dẫn tới phạm pháp; sự bàn của ta càng cần cẩn trọng hơn! Lưu ý “trăm dân” là
cách gọi khác của “trăm họ” mà tôi nghĩ tiểu thuyết gia họ Phùng ngẫu hứng nghĩ
ra.
Tất nhiên đó là đối với phàm phu, chứ bậc thánh thì không thể, như trong bài
Trước mộ Thái sư Trần Thủ Độ, ông viết:
“Sá gì điều tiếng thị phi“
Đức Ngài không sá gì điều tiếng để làm việc lớn lao của quốc gia, nhưng
hạng phàm phu chúng ta cũng nên học phần nào bởi cứ đẽo cày giữa đường theo
“điều tiếng thị phi” rút cục cũng chẳng chung kết nổi việc gì.
Tôi đã dừng lại lâu và suy ngẫm nhiều ở mấy câu thơ trong bài Dưới chân
tượng đài Phùng Khắc Khoan:
“Bỗng thấy mây trời sà vai tượng
Chòm râu lay động nét môi cười
Quan Trạng nói gì cùng hậu thế
Chỉ thấy trời xanh bóng hạc trôi.“
Đó là cách miêu tả khéo léo sự giao cảm vừa đủ giữa tiền nhân đã nhập cõi
thánh và chúng sinh còn đang ngụp lặn trong luân hồi: Đủ xa để kính trọng, đủ gần
để dám cung kính, học hỏi. Xa quá sinh “kính nhi viễn chi”, gần quá sinh nhờn!
Và tôi cũng dừng lại khá lâu ở mấy câu thơ vẻ như rất quen thuộc này, bài
Ghi ở Trùng Quang Tự:
“Trần gia - mấy trăm năm vằng vặc
Còn đây nguyên vẹn bậc rêu phong.“
Tôi rất thích cách dùng chữ “vằng vặc” bổ nghĩa cho “mấy trăm năm”, bởi
chính là cách ví thời gian thái bình thịnh trị thì sáng rỡ như luôn có ánh trăng soi.
Và tôi cũng khoái cái tưởng như mâu thuẫn giữa đã “nguyên vẹn” lại còn “rêu
phong”, nhưng hóa ra lại là bài học nhân sinh vô cùng to tát: Trước vô thường lồng
lộng, ai – cái gì để tồn tại cũng phải có chút điều chỉnh để thích nghi, chứ ông lão
bảy mươi chớ rèn thân bằng đá bóng.
2. Kiếp văn chương tự quản
Mê mải với kính ngưỡng đền đài di tích và tiền nhân, phải tận tới bài Chợ
Ghênh nhà thơ mới bộc lộ trực tiếp chân dung của mình, qua đó thấy ông có tuổi
thơ sớm vất vả khi 10 tuổi đã bắt đầu giúp bà và mẹ mang hàng ra chợ bán. Theo
dòng thời gian ông cũng có từng giai đoạn phát triển cá nhân bắt đầu có phần giống
số đông với năm hai mươi tuổi cũng:
“Nào đâu biết đến thác ghềnh
Nói cười giữa đất Như Quỳnh hoa xuân.“
Nhưng dần phân kỳ với số đông trong những mốc sau:
“Bốn mươi chưa biết thương thân
Càng chưa cúi tạ một lần chợ Ghênh
Cậy tài, thói tật ngông nghênh
Biết đâu chó đá nằm khoanh đợi người.”
Thật oái oăm ở chỗ theo truyền thống thì “tứ thập nhi bất hoặc”, nhưng vốn
liếng chữ nghĩa chẳng hề giúp thi sĩ biết đến những “cúi tạ” mà vẫn “thói tật
ngông nghênh”. Nhà thơ Ma Lôi tấm tắc khen câu “Biết đâu chó đá nằm khoanh
đợi người”. Tôi vừa khen vừa buồn, vì thấy sao một người chủ động tìm về nguồn
cội của các đế vương, tướng lĩnh từ 15 thế kỷ trước để viết lên bao trang văn sống
động về họ, nhưng lại không biết nguồn cội đang đợi mong mình mà nhắc nhở,
cảnh tỉnh rằng trong mắt chó đá ấy mình vẫn chỉ là cậu bé lên mười ngày xưa.
Đà phân kỳ ấy tiếp tục qua luôn cả “ngũ thập tri thiên mệnh”:
“Năm mươi ba tuổi khóc cười
Chợ Ghênh thăm lại... đâu rồi chợ xưa?”
Biết làm sao, khi chính từ sự phân kỳ ấy mà sinh quán có thể thiệt thòi một
chút tình cảm của đứa con xa, nhưng lại tạo ra bao trú quán mới để văn nhân thỏa
sức tung hoành?
Khi Phùng Văn Khai gửi tôi bài Thư gửi Hoàng Liên Sơn, tôi bèn chuyển
cho CHATGPT bình và chỉ tích tắc sau đã có kết quả. Còn tôi ngồi với bức thư này
đã gần 2h mà cũng chỉ mới làm được một việc là bôi vàng những câu nổi bật, cùng
những suy nghĩ tản mạn. Để xem cuộc “thi” của tôi với AI kết quả sẽ thế nào.
Đã nhiều năm hầu như tôi làm thơ tự do, câu cực ngắn xen lẫn câu dài, bởi
cái điệu hồn đòi hỏi thế. Nên những câu thơ nhịp nhàng đều chằn chặn như này
ngay cả đọc tôi cũng ít chứ đừng nói là viết. Nhưng đọc kỹ rồi tôi nhận ra nội dung
nào hình thức ấy, khi tác giả dồn nén quá nhiều dông bão vào mấy chục dòng thơ
thì buộc phải tự tiết chế trong luồng khí quyển có quy hoạch để cơn bão đi được
hết hành trình dự kiến của mình, không thình lình tan loãng đâu đó giữa biển Đông
khi mà mắt bão còn đang sắc nét.
Lại nữa, tôi vốn tối kị việc lặp từ không có chủ đích ở hai câu cạnh nhau,
nhưng ngay hai câu đầu tiên của bài thơ đã lặp từ “trong”. Nhưng ngẫm kỹ tôi
thấy để tránh lặp từ trong thì có thể phải thay cả ý, mà hẳn thi sĩ trọng cái ý biết
bao. Nên lại nhớ tới các từ lặp không có chủ đích nghệ thuật trong truyện Kiều và
tin rằng giải pháp cho lặp từ là hợp lý.
Khai có một điều khác nữa là thẳng thắn, quyết liệt hơn tôi về việc viết. Tôi
thì có xu hướng làm nhẹ bớt, hoặc chính xác ra là giữ ảo tưởng về cái nhẹ của việc
viết, nhưng rút cục tự nghiệm đời viết của mình thì mới thấy đúng như ông nói:
“Thơ viết mỗi dòng như máu ứa
Nào biết gì đâu đến chữ nhàn?”
Tất nhiên không phải tôi không ý thức được sự khắc nghiệt của việc viết,
nhưng thường chọn lối nói khác: Nàng thơ vốn khó tính, hiến dâng trọn thân tâm
mình có khi nàng còn chả đoái hoài huống hồ cho nàng ăn cơm thừa canh cặn rồi
đòi thơ hay.
Lý luận văn học phương Tây có nói: Làm thơ là biến thế giới của mình
thành thế giới của người khác. Còn Khai viết:
“Tùy bút phê bình ông đã viết
Mở ra từng cánh cửa con người
Những con người chúng ta đã biết”
Đọc tới đây tôi khoái thú lắm, bởi ông đọc ra sự tình nguyện và tự giác sống
sâu mấy chục thế giới mà mấy chục thi sĩ đã tạo ra của tôi. Nhưng mà, thành quả
thì bất chấp chuyện “như máu ứa” của người viết, thực tế vẫn luôn khắc nghiệt là:
“Được bao nhiêu dòng nước chảy xuôi?”
Nói cách khác, quả xem ra tương phản khắc nghiệt với nhân!
Phùng Văn Khai là tác giả của hàng chục cuốn tiểu thuyết lịch sử. Và liên
văn bản đã xuất hiện ở đây:
“Quân vương xuống tóc nhường thiên hạ
Muôn nỗi riêng - chung mấy góc trời.”
Ông đã chắt lọc từ cả quyển Lý Phật Tử định quốc ra hai câu thơ quan trọng
ấy, khi mà ông gửi gắm khát vọng hòa bình, tránh nội chiến vào chi tiết khác hẳn
với chính sử là để nhân vật Triệu Việt Vương xuống tóc đi tu. Câu sau là sự cắt
nghĩa cho khát vọng ấy, bởi thấy nhiều phen cái riêng cần phải hy sinh cho cái
chung được tồn tại. Ở đây ông không hẹn mà gặp nhà thơ quá cố Dương Kỳ Anh
với hai câu: “Đất nước không thể lùi – Ta phải lùi một bước”.
Trùng hợp ngẫu nhiên, hai nhà thơ đã cùng thể hiện sự tâm đắc với tập Tùy
bút phê bình của tôi bằng hai bài viết bề thế công phu. Và dẫu nó ra đời đã ba
năm thì cũng mới có người thứ ba là nhà thơ Hoàng Hưng có ý kiến tương đối kỹ
về nó.
“Văn chương suốt kiếp thân ai quản”
Câu thơ này về mặt nội dung nghệ thuật không có gì bừng sáng, nhưng
khiến tôi nhìn trân trân vào đó. Đúng vậy, không ai quản nổi dù chuyên nghiệp là
ông hay nghiệp dư là tôi! Vẫn đi miên man ngút ngàn, vẫn uống như thuồng luồng
và viết như thổ huyết bất chấp vợ con tìm đủ cách dọa nạt cấm đoán ngăn ngừa,
hay như bà vợ ông có nói: Khi đầy sinh lực thì anh của thiên hạ, lúc say khướt
mềm oặt anh mới của gia đình.
8
Từng cơ phận của văn sĩ chỉ còn biết trông vào khả năng tự quản của anh ta,
mà khả năng ấy thì thường xuyên bị thao túng bởi sự thăng hoa của cảm hứng sáng
tác, nên là, rút cục cũng được chăng hay chớ mà thôi. Đành phận!
“Trăng đã lặn, mặt trời thăm thẳm
Những muốn nói gì với riêng ông?”
Ông hỏi thì tôi xin trả lời. Tôi có duyên may làm đệ của nhà thơ cách tân
tiên phong Nguyễn Lương Ngọc từ khi còn là sinh viên. Và rất nhớ điều ông tâm
sự: “Cứ đi, nhưng thỉnh thoảng hãy nhìn lên bầu trời quá cao một tí, và nhớ là
thỉnh thoảng thôi”. Và mặc dù chỉ thỉnh thoảng, cũng đủ để tôi ý thức về sự cực kỳ
hữu hạn của bản thân mình. Ở câu thơ của ông có tới hai biểu tượng của “gần như”
vĩnh cửu thay nhau “huấn đạo”, thì tôi hẳn càng thấm thía cái hữu hạn ấy lắm lắm.
Nhưng Phùng Văn Khai, quả đúng là tri âm khi hiểu tôi dẫu nghe tiếng của
mặt trời mặt trăng vẫn không vì thế mà sa vào hư vô chủ nghĩa, một dạ dâng hiến
những gì mình có (bất kể thế là may hay rủi, là trời cho hay trời đày) được:
“Ông như một nén hương thơm đỏ
Đã cháy lên rồi cứ cháy thôi.”
Suy cho cùng, kiếp người nào mà chả na ná một nén, tỏa ra cái thơm thì
cũng đến lúc mãn, mà tỏa ra cái ô uế cũng phải tới lúc tàn. Nên tôi gắng chọn cái
thơm thôi. Thành tới đâu xin để tùy duyên!
Tôi từng có nhiều thắc mắc về hành trình từ cuộc đời sang trang viết của văn
sĩ họ Phùng, cũng hay đem mình ra mà đối sánh rồi tự nhủ nếu là mình sẽ thế này
thế nọ, chẳng hạn sẽ thay vì viết 10 cuốn tiểu thuyết thì sẽ viết vài ba thôi, nhưng
sâu hơn và cao hơn. Tuy nhiên đọc kỹ các khổ thơ tiếp sau sẽ thấy rất khó có cái
“nếu” ở con người ông, bởi sự đa mang sẵn trong máu, lại cộng hưởng với tính
chất công việc của một người ở cơ quan quản lý văn nghệ như đầu mối tiếp xúc với
văn nhân nghệ sĩ hàng ngày thậm chí hàng giờ. Những dòng thơ ông cũng dang
rộng biên độ ôm vào mình từ các vị La Hán, đến người thợ, bạn viết, thức giả,
hành giả, trăng rồi sông, đúng như ông miêu tả:
“Đám người đông quá, ồn ã quá
Để lại gì đây những mai sau.”
Có điều, tôi hơi tiếc rằng dường như đám đông ấy đã ngăn ông tiếp cận có
chiều sâu hơn với các vị La Hán, hay đúng hơn là với tàng kinh các của Phật pháp
nhiệm màu. Đó là những giáo lý cung cấp cho tôi khả năng nói không, để dồn tâm
huyết và sức lực cho số ít những điều xứng đáng nói có. Bởi vì đến cả Đức Phật
ngày tại thế cũng không trả lời nhiều câu hỏi của các vị Bà La Môn đến hỏi, bất
chấp vị thị giả A Nan thắc mắc sao Phật biết mà không trả lời.
Bởi vì thực tế thì dù đám người đông, hầu như càng nhìn kỹ sẽ càng thấy họ
giống nhau, và từ người này mà suy ra kẻ khác. Bởi vì như thi sĩ đàn anh Nguyễn
Quang Thiều đã dành nhiều trang trong trường ca Lò mổ chỉ để in nhõn chữ ruồi.
Tôi tự cắt nghĩa rằng dù đông thế nhưng giống nhau đến nỗi nhìn vào chỉ thấy như
ruồi giống ruồi, chả ai bảo con này đẹp hay xấu hơn, gầy hay béo hơn con kia.
Ôm đám đông cùng thời đã đủ rã cánh tay, đằng này ông còn ôm cả tiền
nhân tiền sự, lại còn trăn trở với thông điệp – bài học, với lẽ đúng sai tới mức này
thì bảo sao thân tâm thường nghiêng về phía nặng:
“Lịch sử nói gì đây hậu thế?
Sai? Đúng? Một lần có xong không?”
Nhưng ông cũng nổi máu phản tư rồi đây, thấy cái hài hước gây cười trong
sự yêng hùng rồi đây:
“Ông biết đấy, cuộc người dâu bể
Gan vàng, dạ sắt cái chi chi
Tuổi cao sẽ thấy mình ngốc nghếch
Chớ quay đầu cứ thế đi đi.”
Bạn tôi khéo khuyên nhau lắm, bởi như người phương Tây có nói về cuối
đời người ta sẽ chỉ hối tiếc về những việc đã không làm chứ ít hối tiếc về những
việc đã làm. Tôi cũng tán đồng tư tưởng dấn thân thôi, nhưng trong sự tỉnh thức sẽ
tốt hơn, như tôi thường chia sẻ với bạn hữu: tham thôi, đừng tham đắm.
Là người viết, tôi có nhiều dịp đối thoại với các vị tiền bối tuổi cao. Họ
chẳng bảo tôi nên khôn sớm, nhưng có những điều rất giá trị, chẳng hạn nhà văn
quá cố Hòa Vang bảo: “Rồi em sẽ còn được chứng kiến rất nhiều”. Vâng, đúng
vậy, hiện thực đa dạng của cuộc sống mênh mông ngoài kia chẳng bao giờ cạn,
không nắm bắt được mẩu này ta sẽ tóm được đoạn khác.
Dù sao, thấy cái hài trong “gan vàng, dạ sắt” tức là đã có cái vị thế của
Đôn-Ki-Hô-Tê sau hành trình dài hành hiệp rồi. Vả lại, sự ngây ngô nhưng đem lại
vô vàn trải nghiệm, với nhiều phen cười khóc chả đáng quí hơn sự vô cảm (hoặc
lãnh cảm) hay sao?
Và tôi thoáng mừng khi bạn mình bắt đầu khởi tâm mong như hạc gỗ, thành
thân chó đá, mỹ nhân Facebach (tên nhóm thơ mà tôi là phó chủ tịch)... nhưng rồi
thành mừng hụt khi đọc những dòng này:
“Ông biết đấy, trường văn trận bút
Rửa tay gác kiếm có xong đâu?”
Nhưng rồi tôi liên tưởng tới những câu thơ nhiều vẻ từ ngông ngạo đến gây
sự, đến thắm thiết trong bài Còn chơi của tiên sinh Tản Đà, sau khi người nhất thời
tỏ ra biết điều: “Chơi cho thật chán, cho đời chán – Đời chán chơi rồi tớ sẽ thôi”
thì lập tức lại “Nói thế can gì tớ đã thôi – Muốn thôi trời cũng chửa cho thôi”. Sự
sám hối rất nửa vời, rất “đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”.
Và Phùng Văn Khai giải trình cho cái rửa tay gác kiếm nửa vời của mình, lại
cũng hợp thức luôn sự trả giá và đánh đổi, là vì:
“Câu thơ bùn đất, người rơm rác
Những muốn trèo cao phải ngã đau.”
Khi tôi đang gõ những dòng này thì Khai gọi điện cho tôi, tranh thủ lúc đang
chờ gặp bác sĩ vì lý do sức khỏe cá nhân. Tôi vừa thương (vì y ham văn ham việc
quá) vừa mừng cho bạn (vì y có cái để “vịn câu thơ mà đứng dậy”). Chúc ông may
mắn và khỏe mạnh để tôi còn có đối thủ ngang tâm bằng cơ mà tranh hay chốn
trường văn này.
Ở đoạn tiếp theo, ông đã triển khai một kỹ thuật hoàn toàn mới, đem cái tôi
của chính nhân vật trữ tình với đủ thói xấu trưng ra thiên hạ, theo kiểu:
“Mình tôi chống lại một mình tôi.”
Đó là cái dũng mà cũng là cái khéo: Thành thật với chính mình nhưng cũng
là để đánh động, đòi hỏi điều tương tự ở kẻ khác, đòi họ thừa nhận tham danh,
tranh công bỏ tội, thậm chí chẳng chối bỏ phẩm chất ruồi!
Và đó cũng là nơi ông xứng đáng là hậu nhân của thiên tài Nguyễn Du khi
viết:
“Mười lăm năm bấy nhiêu lần
Làm gương cho khách hồng quần thử soi”
Không có cái xả thân “làm gương” ấy của thi nhân, hậu thế lấy đâu ra kiệt
tác Truyện Kiều để mà tổ chức thi đọc thuộc xuôi ngược, để ru nhau ngủ.
Sau khi tự “vạch áo cho người xem lưng”, ông đồ đoán về bạn mình:
“Đục nước béo cò xong vỗ cánh?
Còn hơn cam phận đợi xáo măng.”
Than ôi, những mưu cao kế sâu này phải kín đáo thì may ra mới phát huy tác
dụng, chứ bô bô rồi lại còn mong thiên hệ biết thật nhiều, thì sao mà thành được?
Chưa nói, từ cái bệ phóng (béo) đến cái đích (thoát chết) của thân cò đều khiêm
nhường và thảm làm sao! Nhưng chính ở những dòng “biết điều” ấy, tôi lại mừng
cho ông, bởi đó chính là điểm thắt nút giác ngộ vừa được cởi.
Phải nhạy cảm lắm, óc liên tưởng tinh tường lắm thì mới đọc ra được cái
chất “Một trà, một rượu, một đàn bà” trong câu thơ này:
“Một phòng, một đệm, một ông tướng”
Và, tôi không ngượng miệng mà tán dương ông hết tầm ở câu thơ kế thừa
điển tích này:
“Quyết há miệng ra chờ sung rụng
Sung rụng về đâu chuyện của trời.”
Đó không phải là sự cố chấp, là giọng cùn, đó là cái sáng suốt của người biết
rằng những thành quả thực sự đáng để người viết mãn nguyện, đóng đinh được vào
lịch sử văn học và neo ở đó mươi năm, rồi lan tỏa tới nghìn vạn người vốn hiếm tới
mức như quả sung khó rụng trúng mồm kẻ nằm, dù thực chất anh ta không hề lười
biếng!
Nhưng ông bạn dũng mãnh dấn thân ơi, “sung rụng về đâu” chẳng đến nỗi
mãi là “việc của trời”. Những gì là chân giá trị có thể bị che lấp một hai, dăm bảy
năm, nhưng mãi rồi cũng lộ diện; không lâu đến mức 160 năm sau như nước Anh
nhận diện nhà thơ John Donne đâu.
Khai giao tiếp rộng, nên hôm rồi tôi thử đố ông nhớ được tôi gặp ông lần
đầu là khi nào thì ông chịu. Thực chất là đã hơn 20 năm ở trại viết Đại Lải khi tôi
lên thăm nhà văn Hòa Vang đang làm trại viên ở đó. Tôi thấy ngồ ngộ cái tay gặp
tôi lần đầu mà lúc nằm giường cứ sờ cái vành tai của tôi như là thân nhau lắm rồi
ấy. Và giờ thì tôi hiểu cái khí chất của bạn tôi, quí ai sẽ bộc lộ cho được, bằng cả
thân tâm mình:
“Lòng sung lòng vả cũng thương nhau”
Riêng điều sau này thì thực chất phải là tôi hẹn ông mới đúng, bởi tôi đã trở
về với bản lai diện mục và an định ở cái đích đó lâu rồi:
“Hẹn khúc cuối đời nơi xó chợ
Ta hiện nguyên hình nỗi nông sâu.”
3. Sự điều hòa từ pháp, cú pháp với chương pháp
Đang ngon trớn với lối “tùy bút” quen thuộc khi viết về tập Thơ viết cho
mình, tôi chợt thấy cần phải thay đổi sâu rộng cách tiếp cận với thơ Khai. Cứ như
truyền thống thì lẽ ra bài viết đã hoàn thành từ lâu, nhưng nó đã tạm dừng ở mốc
ngày 27.02.2026 để đợi tôi phôi thai được sự thay đổi này.
Trong sáng tác văn học có: Nhỏ nhất là từ pháp, kế đến là cú pháp, lớn hơn
nữa là chương pháp và cuối cùng là thiên pháp. Trong viết tiểu thuyết, Phùng Văn
Khai đã thực hành thường xuyên thành kỹ xảo cả bốn “pháp” đó. Còn khi chuyển
sang thơ, dù trọng tâm có thể chuyển về ba “pháp” đầu, nhưng ông đã tỏ rõ sự lợi
hại của tố chất tiểu thuyết gia khi cho phép hình dung phần lớn tập thơ này nằm
trong cùng một thiên pháp với chương pháp khác nhau được áp dụng cho mỗi bài
thơ đơn lẻ.
Lướt qua tên các bài thơ, thậm chí tên tập thơ; có thể thấy quan tâm hàng
đầu của nhà thơ không nằm ở từ pháp. Lối đặt tên viết ở chỗ này, viết về cái kia
vừa cho thấy sự tự tin của người làm chủ công việc sáng tác, vừa bộc lộ sự thỏa
mãn nhanh chóng với lựa chọn của mình.
Khai là người có vốn từ phong phú để huy động nhanh chóng. Nhưng khi ý
tưởng bộn lên và cảm xúc ùa về hối thúc, nhà thơ không dừng lại nổi quá lâu với
từng con chữ. Ông có cơ hội điều chỉnh ít nhiều trong lúc đọc lại tác phẩm đã hoàn
thành. Nhưng rất có thể là sau khi hoàn thành bài này thì bài khác trong tâm trí ông
lại đang đợi viết ra!
Cú pháp của ông sáng sủa, với hầu hết các câu tương đối đủ thành phần như
chủ ngữ, vị ngữ và mang nghĩa rõ ràng khi đứng độc lập.
Thậm chí ngay cả nội dung và ý nghĩa của từng câu phần nhiều cũng khá
quen thuộc và xuôi thuận với tư duy và quan niệm của độc giả.
Nhưng dần dà đọc chậm, tôi thấy đó là cái cách khiến người ta sa vào trạng
thái “Đường êm quá ai đi mà nhớ ngó” rồi bất thình lình “Đến khi hay gai nhọn
đã vào xương” (thơ Xuân Diệu).
Những cái gai ấy không tua tủa khắp nơi mà chọn cách xuất hiện bất ngờ,
chẳng hạn:
Khi ta đang cho cái vằn vện ngoài da của hổ là đáng sợ nhất thì:
“Hổ vằn da, người vằn trong bụng” – (Ta từ nguồn cội)
Khi ta nghĩ một vị quân vương đầy nhân bản kiểu:
“Quân vương cũng chân trần áo cộc
Biết thương người như thể thương thân”
Sẽ được lòng dân và giữ được cơ đồ thì hóa ra điều kiện cần không đồng
nghĩa với điều kiện đủ:
“Mà vẫn thua mưu ngày mất nước”
Khi ta nghĩ “nguồn cội” của ta trong truyền thống là “khôn ngoan đá đáp
người ngoài” thì ông chỉ ra một thực tế:
“Gà chung bụng mẹ cũng thấp cao”
Nhưng ông đã hóa giải cái đáng sợ của hành trình bởi bên cạnh gai nhọn bất
ngờ còn có hoa trái bất ngờ, chẳng hạn khi ta thấy thật bi thảm cái cảnh:
“Manh áo cha nhường con khâm liệm
Thân vùi cát ẩm bãi sông quê”
Thì bất ngờ lại kết trái này:
“Từ những đình, đền, chùa, miếu ấy
Thêm mỗi ngày ta lớn khôn ra.”
Và trái này:
“Tay cầm lá phiếu ngày Độc lập
Là tự đời ta đã sang trang.”
Tôi đã từng tự nhủ ông ngây thơ thế, chắc gì cái lá phiếu ấy của “ta” đã được
kiểm đếm đúng và tổng hợp đúng; nhưng ngẫm kỹ thấy dù có sai số đi nữa thì
phần giá trị biểu tượng của sự thay đổi lớn lao là không thể phủ nhận được.
Trong tập thơ này, trước mỗi bài ông có một đoạn “phi lộ” như thể muốn
“giải trình” về tâm sự đôi chỗ có thể khiến độc giả bối rối.
Chẳng hạn về sự bừng ngộ với tính “vô sở hữu”:
“Thân riêng mình - muôn sự của chung.” – (Ta từ phía trước)
Hay tính hai mặt của mọi ơn phước:
“Trời đày đọa hay là trời giúp?”
Hay tính không thuần khiết của cái danh được phóng chiếu từ câu tục ngữ
“được làm vua thua làm giặc”:
“Không theo vua nữa, ta làm giặc
Thách thức ông trời có được không?”
Nhưng sau cả một serie những câu mang tinh thần ấy, ông bỗng tỉnh táo trở
về thực tại:
“Gầm vang một tiếng ta tỉnh mộng
Chú Cuội nằm quèo dưới gốc đa.”
Cho hay, ngay cả với “sứ mệnh” nhà văn, nhà thơ; có thể cũng chỉ là một
loại vai khi nghiêm ngắn lúc cà trớn mà chúng ta phải diễn dưới gầm trời bất tận
này!
4. Ngược từ mỏ ngầm về mỏ lộ thiên
Một nhà thơ đàn anh bảo tôi: Người làm thơ phần lớn rất lười đọc. Tôi cũng
thấy như vậy, có điều tới giờ vẫn chưa hiểu tại sao? Với tôi việc sáng tác dù là văn
xuôi hay thơ cũng đều bắt đầu bằng sống, va đập với rất nhiều đánh đổi, trả giá để
có trải nghiệm rồi viết. Khi đọc tác phẩm của người khác, chẳng hạn Phùng Văn
Khai, là tôi có một trải nghiệm (gián tiếp) về đời sống, về cái đẹp; được xem
những bi hài kịch mà không cần trả tiền mua vé. Thậm chí nếu các bạn viết đã viết
quá hay, quá đủ rồi thì tôi càng thấy hạnh phúc bởi mình... khỏi phải viết nữa.
Tất nhiên, nếu trải nghiệm không đủ hấp dẫn thì tôi cũng sẽ rời sân chiếu
bóng (kiểu phim màn ảnh rộng ở nông thôn ngày xưa) dù chưa tới giờ tháo khoán.
Khai đã có vô vàn các cuộc điền dã nơi đình chùa đền miếu xa xôi khắp
miền Bắc để tìm tư liệu, hình dung bối cảnh và lấy cảm hứng viết lại, hư cấu ra
nhiều tiểu thuyết lịch sử. Một ngày nọ ông bỗng thấy dường như đã cặm cụi công
phu khai thác các tầng mỏ ngầm dưới đất sâu, trong khi nhiều mỏ lộ thiên ở ngay
quanh mình và chính bản thân mình thì đang để không!
Ở đây tôi muốn trao đổi một kinh nghiệm thú vị về sáng tác. Chúng ta có tác
giả cả đời được gọi là nhà thơ Duy Khán, nhưng vẻ như chả mấy bài thơ của ông
còn gây ấn tượng tới giờ trong khi tác phẩm được tái bản dầm dề mấy mươi lần
chưa ngớt lại là tập văn xuôi mỏng viết về tuổi thơ ở làng có tên là Tuổi thơ im
lặng. Vẻ như, viết về cái gì không quan trọng bằng tác giả đã thực sự thấy được gì,
tái tạo lại thành gì trong đó!
Lại là các tên bài thơ của Phùng Văn Khai, được chia nhóm theo mấy mẫu:
- Khi ông là chủ thể khởi xướng đối thoại: Nói với đường làng, Nói với
tiếng đàn, Nói với ông hề...
- Khi ông là thư ký ghi chép phát ngôn của nhân vật trữ tình: Lời Trương
Chi, Lời người mẹ đơn thân...
- Khi ông tường thuật lại cuộc đối diện, đối thoại với thực tại nào đó:
Trước hai ông tượng, Trước chợ đêm Long Biên, Chuyện trò với ảnh,
Cuối năm trò chuyện với cây, Trò chuyện với sen...
Và lại là tư thế rất tự tin của dân hàng mộc rằng gỗ nhà mình quá tốt rồi nên
cứ để trần đánh véc-ni là đủ đẹp, chả cần sơn.
Trong các loại đối thoại, việc tổ chức đối thoại giữa người với người, trong
câu chuyện đang diễn ra, trong “tình đang” là khó khăn nhất. Các đối thoại khác
như với thiên nhiên, với ký ức, với một “em” đã chia tay thường “thuận” hơn một
chút về kỹ thuật bởi những đối tượng ấy không “cãi” trong ngữ cảnh ấy.
Nhưng ngay cả đối thoại ấy cũng không khó bằng độc thoại, bởi đó là nơi
nhà thơ trở thành nhân vật trữ tình trong chính tác phẩm của mình, buộc phải trung
thực với chính bản thân mình nếu muốn tác phẩm có sức thuyết phục; bởi như
phương Tây tổng kết: “Làm thơ là biến thế giới của mình thành của người khác”.
Trong phần phi lộ Khai viết “Lời của Trương Chi cũng là tâm sự từ bên
trong vậy...” Nên tôi chọn bài thơ này để phân tích sâu.
Nói về các câu thơ có sự kế thừa từ điển cố, điển tích; tôi thấy truyện Kiều là
một mẫu mực tuyệt vời. Tôi từng đọc cả quyển Từ điển truyện Kiều của cụ Đào
Duy Anh khảo đính và hiểu sâu gốc rễ của từng điển, nhưng lại thấy cái xuất sắc
của Nguyễn Du là dù người đọc có không tìm hiểu các điển ấy thì vẫn nắm bắt
được dễ dàng ý nghĩa của câu thơ. Chẳng hạn khi Kim Trọng đang bế tắc trong tìm
gặp Thúy Kiều sau cuộc tương ngộ trong tiết thanh minh và đang ở ngay cạnh nhà
nàng: “Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh”. Chúng ta không biết cái điển có
ai đó dùng lá hay chim để làm gì, nhưng cũng mường tượng được lá để viết thư thả
xuống suối gửi đi; chim để buộc cái thư vào chân mà gửi đi.
Nhưng để đạt được cái chuẩn ấy, hẳn Nguyễn Du đã phải nghiền ngẫm công
phu lắm. Còn với bài thơ này của Khai, với vốn liếng chỉ nhõn hai câu trong ký ức
“Ngày xưa có anh Trương Chi_ Người thì thậm xấu hát thì thậm hay”; tôi buộc
phải vào mạng để đọc lại cái chuyện chàng Trương để nắm bắt trọn ý.
Và tôi đang vấp câu đầu tiên:
“Lời đã buông ra khôn lấy lại”
Là lời nàng Mị Nương chê chàng Trương xấu trai? Và khi mà nàng thấy trái
tim của chàng kết thành ngọc thì mới ân hận và muốn lấy lại lời này? Ôi, rõ ràng là
Khai sở hữu một thứ thơ với các mạch liên tưởng đan lát vuông chéo khôn lường,
không thể đọc ào ào rồi tự tin phán dẫu là khen.
“Khối tình dẫu kết thiêng thành ngọc
Đừng tưởng lòng sông cát bớt đau?”
Vì sao mà ông đặt dấu hỏi ở đây? Tôi thích một dấu chấm câu khẳng định
hơn là dấu hỏi còn phân vân này, và khi đó cái tình trong thơ được đẩy đến tận
cùng, sánh ngang với nhiều câu thơ kinh điển khác:
“Nợ tình chưa trả cho ai
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan” - Truyện Kiều
“Dẫu kìa ngó ý còn vương tơ lòng”
“Trả nợ một đời không hết tình đâu” – Ca từ Trịnh Công Sơn
Thậm chí ở đây ông đã đi xa hơn, gọi ra cái đau của thiên nhiên (cát dưới
lòng sông) trước bi ai của con người.
Thói đời con người thường trong cơn dâng của cảm xúc và bận rộn với thế
giới riêng của mình, hay ảo tưởng rằng mình là người đau nhất, thiệt nhất, kém
may mắn nhất, bị đối xử bất công nhất; tuy nhiên ông tỉnh táo nhận ra:
“Ta đâu chỉ một mình đáy chén”
Đúng vậy, như sau này Văn Cao cũng từng tự nhận mình là một Trương Chi.
Và văn nhân họ Phùng hẳn cũng thấy mình có phần ấy.
Ở hai khổ thơ tiếp theo, ông tập trung bộc lộ mối tương quan muôn thuở
lệch tông giữa chữ tình với những thứ còn lại: cao / thấp, đạo đức, danh phận,
quyền thế.
Sau bộc lộ ấy là “vùng vẫy quẫy đạp” của nhân vật thứ hai trong thiên
truyện: Mị Nương. Nhà thơ không chấp nhận phần “vùng vẫy quẫy đạp” ấy chỉ
đơn giản là một số gạch đầu dòng mang tính sự vụ như trong cổ tích mà muốn
trình ra các bức tranh tâm lý của nhân vật trữ tình nữ bị giằng xé bởi mâu thuẫn
giữa cái đẹp của tâm hồn, trí tuệ với cái xấu của hình thể chàng Trương; sự giằng
xé không chỉ diễn ra trong giờ hội ngộ lần đầu mà còn tiếp diễn khi chàng Trương
mất, lúc tim chàng hóa ngọc hay nàng lại thấy bóng chàng trong đáy chén.
Không chỉ Mị Nương còn sống cất lời, nhà thơ để người đã ở tuyền đài cùng
lên tiếng; như thể muốn đi đến cùng kỳ lý tất cả các khía cạnh của tấn bi kịch tình
yêu này. Nhưng rút cục nỗ lực ấy có vẻ như chính tác giả, qua lời Trương Chi, kết
luận là: “Ta biết nói gì đây nàng hỡi?”.
5. Giải pháp bất ngờ
Với một bức tranh tâm lý nhiều giằng xé, lắm dấu hỏi như ở bài thơ Lời
Trương Chi, một thiên truyện tâm lý có phù hợp hơn chăng, và ngần ấy chữ nghĩa
của tôi đã “mở mã” được xong chăng?
Trong phân vân ấy tôi chợt nhớ tới công cụ AI vừa là đồng minh vừa là đối
thủ, bèn thử áp dụng với bài thơ này. Kết quả như sau (cho câu lệnh hãy bình bài
thơ sau của Phùng Văn Khai):
Bài thơ “Lời Trương Chi” của Phùng Văn Khai là một cuộc độc thoại hậu huyền
thoại—nơi nhân vật Trương Chi không còn chỉ là một biểu tượng dân gian, mà trở thành một chủ
thể tự ý thức, tự biện hộ, và quan trọng hơn: tự truy vấn chính bi kịch của mình.
5.1. Tái sinh một huyền thoại: từ tích xưa đến tiếng nói hiện sinh
Bài thơ dựa trên cốt truyện quen thuộc của Trương Chi – Mỵ Nương, nhưng không kể lại câu
chuyện. Thay vào đó, nó “trao quyền phát ngôn” cho Trương Chi—người vốn bị im lặng trong
truyền thống.
Ngay hai câu mở đầu:
Lời đã buông ra khôn lấy lại
Nước đã xuôi dòng biết về đâu?
đã đặt toàn bộ bài thơ vào một trường triết lý về tính bất hồi của hành động và lời nói. “Lời”
và “nước” là hai ẩn dụ song hành: một thuộc về ngôn ngữ, một thuộc về tự nhiên—
cả hai đều không thể đảo ngược. Bi kịch vì thế không chỉ là tình yêu không thành, mà là một sai
lầm không thể sửa chữa trong cấu trúc tồn tại.
5.2. “Khối tình” – từ mỹ cảm hóa thành vật thể đau đớn
Hình ảnh “khối tình” lặp lại nhiều lần:
Khối tình dẫu kết thiêng thành ngọc
Đừng tưởng lòng sông cát bớt đau?
Ở đây, tác giả vừa kế thừa truyền thống (khối tình hóa ngọc), vừa phá vỡ nó. Trong
truyện cổ, viên ngọc là sự thăng hoa. Nhưng trong bài thơ này, nó không làm vơi đau—trái lại,
càng “thiêng” thì càng cô đặc nỗi đau.
Đặc biệt, câu hỏi tu từ “đừng tưởng…” mang sắc thái phản biện: cái đẹp không cứu rỗi
được nỗi đau hiện sinh.
5.3. Bi kịch của cái tôi trước “miệng đời”
Một trong những trục tư tưởng nổi bật là sự đối lập giữa cái tôi và xã hội:
Miệng người sắc nhọn như dao nhọn
Mấy trăm năm nào đã an yên.
“Miệng đời” ở đây không còn là lời đồn, mà là cơ chế phán xét tập thể—một dạng
quyền lực vô hình. Nó khiến bi kịch của Trương Chi không dừng ở cá nhân mà kéo dài qua thời
gian (“mấy trăm năm”).
Những câu thơ như:
Người hãy còn bàn về đạo đức
Ai người chăm chút mảnh trăng côi?
cho thấy một thái độ hoài nghi sâu sắc: xã hội say mê phán xét chuẩn mực, nhưng lại bỏ
quên những thân phận cụ thể. Đây là một phê phán mang màu sắc hiện đại, thậm chí có thể
đọc theo hướng hậu hiện đại: chân lý không còn tuyệt đối, đạo đức trở thành diễn ngôn.
5.4. Mỵ Nương: từ biểu tượng mỹ nhân đến câu hỏi đạo đức
Mỵ Nương trong bài thơ không còn là đối tượng lý tưởng hóa. Nàng trở thành một dấu
hỏi:
Mỹ nhân lấy quyền gì để chết?
Quyền yêu ư? Cho một mình ta?
Đây là đoạn thơ rất táo bạo. Nó đặt lại vấn đề quyền lực của tình yêu và cái chết. Nếu
trong truyền thống, cái chết của mỹ nhân mang tính bi kịch lãng mạn, thì ở đây, nó bị chất vấn:
- Cái chết ấy có phải là một đặc quyền?
- Và đặc quyền ấy có vô tình đẩy toàn bộ bi kịch sang phía Trương Chi?
Câu hỏi “Có là ngu ngốc? Là bất tử?” càng làm rõ sự giằng xé giữa hai cách hiểu: cái
chết như sự siêu thoát hay như một hành vi vô trách nhiệm.
5.5. Tiếng sáo: từ nghệ thuật đến tội lỗi bị quy kết
Trong truyền thuyết, tiếng sáo là vẻ đẹp. Nhưng ở đây:
Tiếng sáo kia đâu có tội gì?
Câu hỏi tưởng như đơn giản, nhưng lại mở ra một tầng nghĩa sâu: nghệ thuật bị kết tội
vì đã khơi dậy cảm xúc.
Tiếng sáo—biểu tượng của cái đẹp—trở thành vật mang tội. Điều này phản ánh một
nghịch lý: xã hội vừa tôn vinh cái đẹp, vừa trừng phạt nó khi nó vượt khỏi khuôn khổ.
5.6. Cấu trúc câu hỏi dồn dập: hình thức của một tâm trạng không lối thoát
Toàn bài thơ gần như được cấu thành từ các câu hỏi. Đây không phải là thủ pháp tu từ
đơn thuần, mà là hình thức của một ý thức bị đẩy đến bế tắc.
Câu hỏi không nhằm tìm câu trả lời—mà để chứng minh rằng không có câu trả lời nào
đủ sức giải quyết bi kịch.
5.7. Từ bi kịch cá nhân đến nỗi đau phổ quát
Câu thơ:
Lẽ nào ôm hận mỗi Trương Chi?
là điểm mở rộng quan trọng. Trương Chi không còn là một cá nhân, mà là một ẩn dụ cho
thân phận con người nói chung—những kẻ yêu, bị từ chối, bị hiểu lầm, và bị phán xét.
5.8. Kết luận: một bản “biện hộ thất bại” nhưng giàu nhân tính
Khổ thơ cuối:
Ta biết nói gì đây nàng hỡi?
Tiếng sáo chôn sâu chốn tuyền đài
Chỉ mơ về khúc sông quê ấy
Với một mình ta với riêng ai?
khép lại bằng một giọng điệu lặng xuống. Không còn tranh biện, không còn phản
kháng—chỉ còn một ước mơ giản dị nhưng bất khả: trở về một không gian nguyên sơ của tình
yêu.
Nhưng “với riêng ai?”—câu hỏi cuối cùng—lại mở ra một khoảng trống. Nó xác nhận
rằng: bi kịch không nằm ở việc mất người yêu, mà ở việc không còn ai để chia sẻ sự tồn tại
của mình.
Đánh giá tổng thể
“Lời Trương Chi” là một bài thơ:
- Tái diễn giải huyền thoại theo hướng hiện đại
- Đặt ra các câu hỏi triết học về tình yêu, đạo đức, và xã hội
- Giải thiêng cái đẹp và chất vấn quyền lực của cộng đồng
Quan trọng hơn, bài thơ không tìm cách “giải oan” cho Trương Chi theo nghĩa đơn giản.
Nó cho thấy: mọi lời biện hộ đều bất lực trước một thế giới nơi cảm xúc, đạo đức và định
kiến luôn xung đột.
Nếu cần nói ngắn gọn: đây là một bài thơ không nhằm kể lại nỗi đau—mà nhằm chứng
minh rằng nỗi đau ấy không thể được hiểu trọn vẹn, ngay cả khi chính người trong cuộc lên
tiếng.
Tới đây tôi có thể tự tin kết luận rằng, AI đã trở thành một công cụ hỗ trợ
cực kỳ hiệu quả cho quá trình đọc / hiểu và cảm thụ các bài thơ của tập Thơ viết
cho mình, cũng như các thi phẩm của các tác giả khác. Hãy sử dụng nó, mỗi khi
độc giả thấy có chút hoang mang bối rối trong tiếp cận tác phẩm.
Xin chúc mừng văn nhân họ Phùng với những tác phẩm sâu sắc, phức tạp và
bộn bề đủ để làm khó tôi; dẫu chưa làm khó nổi một thế lực hoàn toàn mới: AI.
Hà Nội, lập hạ năm 2026
Hoàng Liên Sơn

Người gửi / điện thoại





