Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2021

PGS. TS. NGUYỄN NGỌC THIỆN với THI NHÂN MIỀN CỔ TÍCH

 

PGS. TS. NGUYỄN NGỌC THIỆN với THI NHÂN MIỀN CỔ TÍCH
                 Bài viết của Phạm Ngọc Tâm Dung
 
PGS.TS. nhà lý luận- phê bình văn học, Tổng biên tập tạp chí "Diễn đàn văn nghệ Việt Nam” Nguyễn Ngọc Thiện là một người học rộng, tài cao, có tầm, có tâm và có đức. Suốt cuộc đời lao động trí tuệ, anh đã từng nhiều năm tu nghiệp ở nước ngoài và có rất nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học văn chương, giảng dạy Đại học và Sau Đại học,...góp phần to lớn vào việc đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu văn chương nước nhà... Với thư viện gia đình như một kho sách khổng lồ hơn mười nghìn đầu sách, "Người phu chữ cần mẫn" tài hoa Nguyễn Ngọc Thiện biến những tri thức đã học, đã đọc, đã dày công nghiên cứu, thành những công trình đồ sộ cho ngành lý luận- phê bình hiện đại. Anh xuất bản nhiều đầu sách nghiên cứu và làm chủ biên nhiều công trình có giá trị khoa học cao, đồng thời đã dìu dắt học trò nhiều thế hệ trưởng thành. Do thành tích xuất sắc, anh đã được giới nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài nể trọng, được nhà nước cùng nhân dân tôn vinh và được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý...

Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2021

GIỚI THIỆU TẬP TRUYỆN VŨ ĐIỆU TÌNH YÊU

 


GIỚI THIỆU TẬP TRUYỆN VŨ ĐIỆU TÌNH YÊU Sửa

LỜI GIỚI THIỆU

PGS.TS. Nhà văn Vũ Nho

nh_ba_v_iu_tnh_yu

Trên tay bạn là cuốn sách Vũ điệu tình yêu gồm hai truyện “Vũ điệu tình yêu” và “Đêm Noel”. Đây là cuốn truyện thứ tư của cây bút văn xuôi Thu Lâm, sau ba cuốn Say nắng, Nước mắt đàn ông và tiểu thuyết Dạ khúc, do NXB Hội nhà văn ấn hành năm 2019 và 2020, đã để lại dấu ấn trong lòng độc giả yêu thích chủ đề về tình yêu.

Thu Lâm viết truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết đều xoay quanh vấn đề tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc gia đình. Cuốn sách này cũng vậy. Đây là chủ đề không mới mẻ, nhưng chưa bao giờ cũ bởi con người dù sống ở thời nào thì vẫn có chuyện yêu nhau, lấy nhau, đăng ký kết hôn, về chung một nhà, sinh con đẻ cái nối dõi tông đường.

          Truyện vừa “Vũ điệu tình yêu” là một khía cạnh khác của hôn nhân và gia đình. Đây là các nhân vật ở thành phố Hà Nội, từng học khoa Văn Đại học Sư Phạm, từng nổi tiếng là trai thanh gái lịch một thời. Lan Hương hết lòng cho gia đình, chồng con. Cái gì bà cũng giành lấy làm đỡ chồng, đỡ con. Đến nỗi con gái phải nhắc nhở: “Mẹ  nhớ là phải chăm sóc cả về mặt tình cảm cho bố. Con thấy mẹ có phần hơi lơ là chủ quan đấy!”… “Còn nữa, mẹ phải chăm lo cả hình thức của mẹ nữa. ( tr.26, 27).

          Bà Hà bạn thân cũng là một cựu người đẹp. Nhưng khác với bà Lan Hương, bà Hà chủ động lo cho cuộc sống khi về hưu của mình. Bà Hà cũng đã lên tiếng cảnh báo bạn thân rằng : “Tôi nói trước để cậu đề phòng nhé, hãy tập nhảy mà đi cùng ông ấy, không thì mất chồng lúc nào không biết. Ông ấy hào hoa phong nhã như thế kia, đắt như tôm tươi đấy”. Thế nhưng bà Lan Hương vẫn tự tin, chủ quan, cười đắc ý: “Cứ cho ông ấy đi thoải mái, miễn là “lương đưa đầy đủ, tối ngủ ở nhà” là được. Với lại tình yêu thường đi từ dạ dày rồi mới tới trái tim. Đố ông ấy có thể xa rời căn bếp của tôi, việc gì phải giữ” (trang 45). Chỉ đến khi tận mắt nhìn thầy chồng mình và bạn nhảy bày tỏ tình cảm trong điệu “slow” mới tin là mình bị đe dọa “mất quyền sở hữu”.

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2021

CHÙM THƠ NGUYỄN ĐĂNG SOẠN

 


CHÙM THƠ NGUYỄN ĐĂNG SOẠN

 nh_nguyn_ng_son

MỘT THOÁNG SA PA

 

Tôi về thăm lại Sa Pa

Đất trời nghiêng ngả mây tà khoảng không

Bình minh tia nắng ửng hồng

Màn sương thả nhẹ gió lồng cuộn bay

 

Thác Bạc nước chảy suốt ngày

Cũng không cạn được lời hay chuyện tình

Cầu vồng soi bóng lung linh

Rừng xanh suối mát bóng hình lả lơi

 

Mỗi chiều khói tỏa mây trôi

Hơi sương lành lạnh từng đôi hẹn hò

Màn đêm ánh điện tỏ mờ

Chợ tình nhộn nhịp câu hò dao duyên

 

Hợp nhau hát lượn cả đêm

Vòng tay vòng cổ cởi liền trao nhau

Chồng say lưng ngựa. Vợ sau

Thong dong nhẹ bước cùng nhau về nhà

 

Đêm về ta lại tình ta

Tiếng ru theo nhạc mặn mà đầy vơi

Mái nhà nghiêng dốc sườn đồi

Hương tình nồng thắm đất trời Sa Pa.

 

SỢI TƠ VÀNG

 

Thu về nắng đổ qua làng

Cánh đồng nhuộm cả màu vàng mộng mơ

Em ngồi vuốt sợi chỉ tơ

Dệt thành tấm lụa phất phơ nắng chiều

 

Nhìn em lòng dạ liêu xiêu

Đêm về thổn thức bao điều ngẩn ngơ

Lắm chàng quanh quẩn đợi chờ

Anh như ghen tỵ thẫn thờ tăng lên

 

Rất nhiều trai gái thân quen

Nhưng anh chỉ một mình em trong lòng

Tơ ra cứ cuộn thành vòng

Chiều dài dài đến cánh đồng tương tư

 

Ăn dâu tằm nhả thành tơ

Miếng trầu anh gửi bây giờ đã say

Nên anh về báo mẹ thày

Tơ vàng đã quấn người này với con.

 

MƯỜI CÔ GÁI NGÃ BA ĐỒNG LỘC

 

Đồng Lộc trấn giữa ngã ba

Nắng hè đổ lửa sao mà vẫn đông

Quanh năm ngát tỏa hương trầm

Mỗi người một nén thì thầm gọi tên

 

Thứ Tư, 12 tháng 5, 2021

TẬP THƠ GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA – SAU HƠN 50 NĂM NHÌN LẠI

 


TẬP THƠ GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA
– SAU HƠN 50 NĂM NHÌN LẠI
NGUYỄN TÚ QUYÊN
Xuất bản lần đầu tiên năm 1968 với số lượng 50 300 bản, đến nay, tập thơ Góc sân và khoảng trời đã tái bản khoảng 150 lần, được dịch ra hơn 40 tiếng trên thế giới. Ngoài việc thường xuyên tái bản với số lượng lớn, đây còn là tập thơ có nhiều tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong chương trình tiểu học (trong chương trình Tiếng Việt hiện hành, có 9 bài thơ được rút từ tập thơ Góc sân và khoảng trời, chưa kể các đoạn trích và Trần Đăng Khoa trở thành tác giả có số lượng bài thơ được đưa vào sử dụng nhiều nhất trong chương trình). Những điều này đã cho thấy “sức nóng” của tập thơ ngay từ khi nó ra đời và cho đến thời điểm này, sau hơn 50 năm vẫn không “hạ nhiệt”.
Vâng, hơn 50 năm, thiết nghĩ, thời gian đủ để đánh giá tập thơ có giá trị hay không và tiếng vang của nó ngay khi ra đời liệu có phải do “chấn động bồng bột trong độc giả”(1) như một nhà phê bình nào đó nhận xét hay không? Hơn nữa, nói về tập thơ này, liệu có chính xác khi nhận xét: “Trần Đăng Khoa là em bé làm thơ” hay “Trần Đăng Khoa là nhà thơ làm thơ khi còn nhỏ tuổi”? Bài viết dưới đây muốn lý giải những băn khoăn trên.
Có lẽ, thật khó có thể thống kê được con số chính xác về những bài báo, bài nghiên cứu phê bình, các đề tài nghiên cứu khoa học, các khóa luận tốt nghiệp hay luận văn thạc sĩ tìm hiểu về tập thơ Góc sân và khoảng trời. Những công trình này đã “soi” tập thơ ở cả góc độ văn chương lẫn ngôn ngữ. Nếu như dưới góc độ văn chương, người ta quan tâm đến các mảng đề tài mà tập thơ phản ánh, như: bức tranh quê, bức tranh thiên nhiên, hình ảnh mẹ, hình ảnh người nông dân, v.v…thì dưới góc độ ngôn ngữ, các vấn đề về vần, nhịp, từ ngữ, biện pháp tu từ, trường nghĩa, hệ thống tín hiệu thẩm mỹ mà bao quát hơn nữa là thế giới nghệ thuật trong tập thơ Góc sân và khoảng trời đều đã được các nhà nghiên cứu khai thác triệt để. Không chỉ nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ và văn chương, người ta còn chỉ ra cả những giá trị đạo đức mà tập thơ mang lại, chẳng hạn như giá trị giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, con người, yêu thiên nhiên, loài vật và yêu lãnh tụ hay những người thân trong gia đình. Nếu như tập thơ không có giá trị, hoặc không còn giá trị, thiết nghĩ, liệu có “đất” để các nhà nghiên cứu “đào xới” như vậy hay không?
Được biết, khi những bài thơ bắt đầu được in báo, lần lượt những người hiếu kỳ, rồi những cây viết sừng sỏ đã tìm về nhà cậu bé Khoa chỉ để xem trông cậu ấy như thế nào, có giống người bình thường hay không? Người ta dòm khoáy đầu của cậu, xem rốn… rồi đồn rằng, cậu ị ra phân vuông chứ không phải tròn. Và dường như, không tin một cậu bé đen nhẻm, mới 8, 9 tuổi có thể làm được thơ và thơ lại hay đến vậy, người ta bắt đầu kiểm tra bằng việc ra đề tài để cậu làm thơ tại chỗ. Thử hỏi, giữa thời chiến, phương tiện đi lại khó khăn, đời sống người dân còn vất vả, hơn nữa, truyền thông cũng không bùng nổ như bây giờ, điều gì khiến một cậu bé làm thơ ở một làng quê hẻo lánh và lạc hậu lại có thể có sức hút dư luận đến vậy? Liệu có phải đấy là “chấn động bồng bột trong độc giả” hay không? Chúng tôi nghĩ rằng, sự “bồng bột” thường chỉ xuất hiện ở một cá nhân hoặc một nhóm người là cùng, không thể phủ khắp từ Bắc đến Nam, rồi vượt qua biên giới, đến cả những nơi đã từng hay đang đối đầu với Việt Nam lúc bấy giờ như vậy được. Đấy là chưa kể, nói độc giả “bồng bột” là đánh giá thấp trình độ thẩm thơ văn của dân mình lắm. Và trong số những người đọc cậu, khảo sát và đánh giá cao những tác phẩm của cậu có cả những học giả, những nhà thơ lớn ở cả trong nước và thế giới. Chẳng lẽ họ cũng “bồng bột” cả ư?
Nói đến đây, không cần bàn cãi, chúng ta phần nào thấy được tài năng của cậu bé Trần Đăng Khoa. Đương nhiên, vì tài năng nên cậu mới được mệnh danh là “thần đồng thơ”. Và người ta thân thiện gọi cậu là “em bé làm thơ”. Cách gọi này ngỡ tưởng là tôn vinh cậu, nhưng chúng tôi lại nghĩ, nó chưa phản ánh đúng bản chất tài năng của cậu bé Khoa. Vì sao? Bởi vì thơ của em bé phần nhiều mang tính bản năng, thấy gì nói đấy, không có ý thức nghệ thuật. Thơ của Khoa lại khác. Đọc Góc sân và khoảng trời, đôi khi, chúng ta không thể hình dung được đó là tư duy của một cậu bé mới 8, 9 tuổi. Thơ của cậu có ý đồ, có cấu tứ rõ ràng và nội dung thể hiện cũng sâu sắc. Có thể chỉ ra rất nhiều bài thơ như vậy.

HỒN ĐẤT


 

HỒN ĐẤT

 

         TRUYỆN NGẮN CỦA VŨ THIỆN KHÁI

 

 




 

      Sau chiến tranh biên giới phía Bắc, gã đã cưng cứng tuổi, đơn vị cho xuất ngũ. Gã nghĩ, trải qua những trận mưa bom bão đạn, mang được tấm thân lành lặn về sống với vợ con là hạnh phúc nhất rồi. Chỉ cần ngày hai buổi cần mẫn ra đồng làm anh xã viên hợp tác xã thì đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao, như là cái câu bọn gã thường hát không biết chán ngày còn mặc áo lính. Nhưng, ở quê hai ba năm liền, cái nước da mai mái bởi nhiễm sốt rét rừng thời chống Mỹ chả sáng lên được chút nào, con cái gã hai bữa ăn chỉ được lưng lửng bụng, gã âm thầm trù tính một cuộc đổi đời. Nửa đêm rì rầm mưa dầm tháng tám, gã thủ thỉ bên tai vợ: Tôi muốn một mình đi tiền trạm, kiếm chỗ nào đó trong Nam rồi chuyển cả nhà mình vào lập nghiệp. Cứ cung cách làm ăn ất ơ kiểu này, đời mình, đời hai con khó mà mọc mũi xủi tăm. Vợ gã đáp gọn lỏn: Gớm! Cứ như đồng chí chỉ huy trung đội năm xưa ấy. Tùy, ông tính sao tôi cũng ừ. Gã nghĩ nàng đang ngái ngủ, u ơ nói cho qua chuyện. Thôi kệ, được lời ấy cũng đủ lý do yên tâm vào chiến dịch rồi. 

Vậy là sáng hôm sau, con em còn ngủ, con chị đeo túi sách sắp sửa đến trường tiểu học, gã ôm nó vào lòng, móc túi lấy ra hai hào cho con, nén xúc động dặn dò: Mua mấy cái kẹo chia cho em ăn với. Bố đi vắng ít hôm, ở nhà trông em cho mẹ đi làm hợp tác. Đừng bén mảng chỗ cầu ao, trượt chân té xuống nước như hôm nọ, thì khốn đấy. Con nhớ nhé. Chờ cho con gái bụng dạ rỗng không lún cún đi khỏi cổng một lúc lâu, gã mới nhấc chiếc ba lô con cóc đã lộn trái thành chiếc túi, rồi nắm tay vợ bùi ngùi chào từ biệt. Vợ gã rân rấn nước mắt, bịn rịn dúi vào tay gã mấy tờ bạc lẻ cuối cùng: Còn năm đồng mới bán hai buồng chuối xanh, bố nó mang thêm, trong ví nhõn trăm bạc bõ bèn gì. Gã bảo: Để dành mua mắm muối, mẹ nó còn đồng nào đâu. Ối sời, người đi xa mới lo, ở nhà thế nào chả xong. Vợ gã nói nhẹ tênh. Nhét xấp tiền năm hào nhàu nhĩ vào túi áo, gã thấy một bên lồng ngực nặng như đeo trái lựu đạn thuở gần chục năm khoác súng đì đoàng đánh Mỹ. 

Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

"CON LÀ CÁNH BUỒM CHA GỬI ĐẾN MAI SAU"

 

"CON LÀ CÁNH BUỒM CHA GỬI ĐẾN MAI SAU"

(Giới thiệu Tình cha con - Tuyển và bình thơ của Nguyễn Thị Thiện)

                                        TS. NGUYỄN XUÂN LẠC

ba_tnh_cha_con

1 - Cái tên Nguyễn Thị Thiện - vốn là cô giáo dạy văn Xứ Đoài, Phó hiệu trưởng trường THPT Thạch Thất, Hà Nội - đã thành quen thuộc với độc giả qua những bài bình thơ xinh xắn, ngọt ngào trên các báo và càng được chú ý hơn qua năm tập bình thơ của chị (1).

Năm tập bình thơ được viết gần như liên tục trong ba năm 2018, 2019, 2020 và đều là những tập bình thơ khá đầy đặn. Một sức viết thật đáng nể, nhất là ở một người phụ nữ đã lên chức "bà" như chị. Nếu không yêu đời, yêu người, yêu thơ nồng nàn, say đắm, quyết không thể viết được như thế. Và điều đáng ghi nhận là các tập bình thơ này đều có độc giả, nhiều nhất là giáo viên, học sinh phổ thông và sinh viên các trường đại học. Lần này chị lại có tập bình thơ thứ sáu: TÌNH CHA CON – Tuyển và bình thơ. Lý do nào khiến chị viết tiếp tập bình thơ này? Chị tâm sự: Một lần con trai chị thắc mắc: “Sao mẹ chỉ viết nhiều về Người Mẹ mà không viết về Người Cha? Như thế là không công bằng”. Chị suy nghĩ về điều này và thấy con chị nói đúng. Được bạn bè đồng nghiệp khích lệ, chị viết tập bình thơ nữa để bù đắp khoảng trống này. Và thế là trên tay bạn đọc đã có thêm tập bình thơ TÌNH CHA CON - một tập bình thơ rất đáng được ghi nhận khi thơ viết về người cha còn chưa nhiều trên thi đàn và những bài bình thơ về tình cha cũng còn hiếm gặp.

Thứ Hai, 10 tháng 5, 2021

BÃO ĐỎ

 


BÃO ĐỎ

 

                                        Truyện ngắn của Thế Đức

 

 

Nguyễn Nhạc chiếm được Gia Định rồi thì sai Long nhương tướng quân Nguyễn Huệ kéo quân xuống bình định tiếp phía Nam.

Thời ấy, vùng đất này, dân cư còn thưa thớt, cây cối mọc như rừng, muông thú tự do sinh sống, nhiều vô kể.

Một con sông lớn chảy từ vùng thượng nguồn đổ về. Khi mùa nước hung dữ đã vơi dần, dòng sông lại trở nên hiền hòa, ngày đêm miệt mài trôi về miền vô tận.

Nguyễn Ánh liên tiếp bại trận, phải lẩn trốn, chui lủi khắp đó đây. Lắm lúc lương thực cạn kiệt, chúa tôi phải đào cả củ rừng để ăn mà sống qua ngày, sau đó, lại dạt ra tận đảo Phú Quốc mới yên thân được.

 

* * *

Nguyễn Nhạc thấy tình hình đã yên ổn, cứ thúc ép Nguyễn Huệ rút quân về đại bản doanh để dễ bề kiểm soát. Đêm trước ngày Nguyễn Huệ đưa đại quân trở về, ông cùng người thuộc cấp thân tín đi thị sát trên dòng sông ấy. Hai người giong thuyền dưới đêm trăng. Cánh buồm đang no gió, căng phồng, bỗng Nguyễn Huệ ra lệnh:

- Cho thuyền đi chậm lại!

- Thưa Tướng quân, có chuyện gì vậy? Người thuộc cấp ngạc nhiên, hỏi.

- Ta đồ rằng, sắp tới sẽ diễn ra trận đánh rất ác liệt. Đây là dịp thật hiếm có, ta muốn được ngắm nhìn dòng sông yên bình đầy ắp ánh trăng như thế này.

- Dạ thưa! Tướng quân là người của trận mạc, dễ tưởng máu lửa đã nhuộm thẫm từng bước chân người rồi mà phần đời vẫn còn đẹp như trong mộng vậy!

- Ông nói thế là quá lời với ta rồi. Dù thế nào thì ta vẫn là một con người, chứ đâu phải quỷ thần, ma dữ, chỉ biết có mùi hôi tanh của máu!

Người thuộc cấp nghe Nguyễn Huệ nói thế, cảm như mình vừa nói điều phạm với chủ tướng, vội quỳ xuống:

- Tiểu nhân không dám nghĩ như vậy! Xin tướng quân tha tội!

Nguyễn Huệ cười hiền, đỡ người thuộc cấp dậy, rồi nói:

- Không sao! Là ta cũng chỉ nói vậy thôi chứ nào có trách cứ gì ông! Ta hiểu ý tốt câu nói của ông mà!

Sóng vỗ mạn thuyền ràn rạt. Nguyễn Huệ đứng phía trước, tay đặt trên đốc kiếm nhìn về phía xa xa. Đêm khuya, cảnh trăng như vẽ. Gió lồng lộng thổi khiến chiếc áo choàng của vị tướng trẻ bay phần phật. Người thuộc cấp vừa cầm lái con thuyền, vừa chăm chú dõi theo. Nom Nguyễn Huệ quả là uy nghi, hệt như vị thủy thần đang cưỡi trên mình con sóng bạc thật lớn.

Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2021

MIỆT MÀI CHẢY MÃI THÁNG NĂM TRÔI

 


Miệt mài chảy mãi tháng năm trôi

 TS. BÙI NHƯ HẢI

Text Box:   Nhà thơ Nguyễn Văn Trình hiện là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Nguyễn Văn Trình sinh ngày 04 tháng 01 năm 1960, tại Lạng Phước, Đông Lễ, Đông Hà, Quảng Trị. Từ năm 1980 đến 1983, Nguyễn Văn Trình gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam và tham gia chiến đấu ở biên giới phía Bắc. Từ năm 1983 đến 1987, Nguyễn Văn Trình học Đại học Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Huế. Sau bốn năm miệt mài học tập, rèn luyện anh đã được tốt nghiệp, rồi về nhận công tác giảng dạy tại trường THPT Bồ Bản, Triệu Phong, Quảng Trị. Sau đó do yêu cầu của ngành, anh đã lần lượt được thuyên chuyển công tác, giảng dạy đến các trường THPT Đông Hà, THPT Lê lợi, THPT Phan Châu Trinh và THPT Chế Lan viên, đến cuối năm 2017 thì nghỉ hưu theo chế độ. Duyên thơ đến với Nguyễn Văn Trình khá sớm, ngay còn là thời học sinh cấp III. Những bài thơ anh viết trong thời học sinh được lưu giữ ở cuốn sổ Lưu bút, nó rất hồn nhiên, tươi vui. Trong thời gian tham gia chiến đấu ở biên giới phía Bắc, Nguyễn Văn Trình vẫn tiếp tục sáng tác thơ, rồi gửi cho các báo, tạp chí và được đăng. Chiều biên cương, Em về bên ấy, Em về cho ai chơi vơi, Chiều An lạc,… là những bài thơ được đăng đầu tay, được các đồng chí, đồng đội đón đọc, khen ngợi và khuyến khích, động viên anh tiếp tục viết thơ để được phổ biến rộng rãi, lan tỏa hơn nữa. Những năm tháng sinh viên, Nguyễn Văn Trình càng có cơ hội hơn để sáng tác thơ, các bài thơ viết ra đa số được in trong các tuyển tập thơ văn Gương mặt thời gian của Trường Đại học Sư phạm Huế và một số báo, tạp chí của Trung ương, địa phương. Sau bao nhiêu năm ấp ủ, tâm huyết, cùng với sự nỗ lực sáng tạo không ngừng nghỉ, Nguyễn Văn Trình đã ra mắt bạn đọc tập thơ đầu tay, có tên là Mây trắng bên trời, do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm 2011. Tập thơ vừa mới trình làng, đã được bạn đọc, đồng nghiệp đón nhận, các nhà phê bình văn học quan tâm, đánh giá khá cao, góp phần nâng thêm đôi cánh để Nguyễn Văn Trình tự tin bước vào làng thơ Việt Nam đương đại. Nguyễn Minh Hoàng trong bài viết Khung trời mây trắng đã có nhận định, đánh giá rất đúng về tác giả, về tập thơ, khi cho rằng: “Tập thơ Mây trắng bên trời gói trọn những cảm xúc của thi sĩ về đời, người, nghề và những niềm sâu ký ức. Đọc những vần thơ của anh ẩn chứa những năm tháng cuộc đời, tôi bắt gặp cái sâu sắc trong cách nhìn, cái tinh tế trong cách cảm, cái đa dạng trong cách thể hiện những tâm tư. Không cầu kì, không làm duyên, từng câu từng chữ bình dị mà sang trọng, gần gũi như chính cuộc đời mà chứa đựng những triết lý sâu xa. Bởi Nguyễn Văn Trình đến với thơ bằng tấm lòng của nhà giáo, bằng tâm hồn đa cảm của một thi nhân, mang trách nhiệm thiên lương của một người dâng hiến. Dâng hiến cho đời cái đẹp của tiêu chí nghệ thuật thơ ca: Chân - Thiện - Mỹ. Thơ Nguyễn Văn Trình là sự dấn thân của một người luôn nặng nợ đa mang, với thơ với đời”.

Lê Đàn trong bài viết Những vầng mây không trôi cũng đã có một nhận định khá sắc nét, lẩy được cái hồn cốt của thơ Nguyễn Văn Trình qua tập thơ: “Tập thơ Mây trắng bên trời của thầy giáo - thi sĩ Nguyễn Văn Trình là những vầng mây không trôi. Bởi những bài thơ ấy luôn day dứt và ám ảnh, để lại trong tôi ấn tượng khó phai sau mỗi lần đọc. Và tôi tin những nõn mây trắng làm dịu mát lòng người kia sẽ còn mãi cùng trời xanh mây trắng”. Không phụ lòng sự mong đợi của bạn đọc, anh tiếp tục in tập thơ thứ hai, có tựa đề Nắng chiêm bao, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2019. Tập thơ đã đoạt được giải C về Giải thưởng Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị năm 2019.

Đề tài trong thơ Nguyễn Văn Trình rất đa dạng và phong phú, trong đó đề tài quê hương, đất nước được quan tâm, thể hiện nhiều nhất. Nhìn xuyên suốt trong dòng chảy văn học Việt Nam, tình yêu quê hương, đất nước luôn là một trong những đề tài không bao giờ vơi cạn, nó mang đến nhiều cảm hứng sáng tác hơn cả. Nhưng cách biểu đạt và diễn đạt của mỗi văn nghệ sĩ lại khác nhau. Các bài thơ về quê hương, đất nước được Nguyễn Văn Trình viết khá hay, đầy hấp dẫn, đầy ngọt ngào, êm đềm như tình mẹ, nghĩa cha, nên bạn đọc cũng sẽ cảm thấy giống như một bức tranh phác họa về mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” của mình, gợi nhớ về nơi ta đã một thời sinh ra và lớn lên. Đông Hà, Quảng Trị luôn gắn liền với  cuộc đời của Nguyễn Văn Trình, vì thế nó có sức chứa lớn và nặng, trở thành nguồn cảm hứng dạt dào, không bao giờ vơi cạn. Hình ảnh Đông Hà hiện lên trong thơ Nguyễn Văn Trình dưới nhiều góc độ, nhiều tâm trạng nhưng lúc nào cũng đầy ắp tình người và tình đời. Nguyễn Văn Trình đã vẽ thành phố quê hương Đông Hà với một tâm trạng mến yêu, tươi vui và tự hào. Bạn đọc những bài thơ như Hiếu Giang xanh, Phố thương, Đông Hà ngày mới, Thành phố ngã ba sông, Huyền sử một dòng sông, Chiều An Lạc,… mới thấy được một tình yêu đằm sâu, nồng nàn, tinh tế của nhà thơ về quê hương mình. Đông Hà ngày mới là bài thơ hay, được bạn đọc yêu thích. Bởi qua bài thơ, bạn đọc không chỉ cảm nhận được tấm lòng chân thành, đôn hậu, như chính khúc ruột, như chính dòng máu chảy trong trái tim đối với Đông Hà - quê hương của nhà thơ, mà còn thấy được một thời tâm hồn của mình trong đẹp nhất:

Tôi yêu Đông Hà, tự thuở nào thơ dại 

Thành phố muôn đời, ngự trị trong tim 

Từ buổi cấp hai, cấp ba thời còn đi học 

Kỷ niệm nào, lưu dấu tuổi học đường 

 

Hiếu Giang xanh yêu thương biết mấy

Tắm mát tuổi học trò sông Cái sông Con 

Tuổi thơ qua đi dòng sông ở lại

Miệt mài chảy mãi tháng năm trôi

                             (Đông Hà ngày mới)

Bài thơ Phố thương cũng đã để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng khó quên. Vẫn theo cái quy luật tuần hoàn của đất trời vần vũ, mà sao cứ vấn vương, bởi những gam màu khác lạ trong bốn mùa của một một thành phố trẻ Đông Hà. Bức tranh bốn mùa trong thơ ca truyền thống thường thì mùa Thu là mùa của lá vàng bay, mùa Hạ là mùa của những tiếng ve ngân vang, mùa Đông là mùa của những hàng cây trơ cành, trụi lá và mùa Xuân là mùa vạn vật thay áo mới, cây cối đâm chồi, nảy lộc, chen chau đua nở,… Nhưng bốn mùa trong thi phẩm này lại mang dáng nét riêng của một mảnh đất miền Trung. Sắc màu mùa Thu của Đông Hà không bâng khuâng, đượm buồn, nhưng lại kiêu sa, biêng biếc, thao thiết trong những buổi chiều mưa biêng biếc, lạc bước câu thề: 

Một mùa thu nữa kiêu sa

Đông Hà tím chiều mưa buồn biêng biếc

Giọt sáng cuối ngày thao thiết

Chợt nhớ chợt thương lạc bước câu thề

Vạn vật vần vũ, Thu qua Đông đến. Đông Hà vào Đông mưa bụi bay bay, dòng sông Hiếu trong xanh, chất chứa bao kỷ niệm nồng say, đã làm xua tan cái lạnh của mưa phùn, gió bấc, đìu hiu và quạnh buồn đến xốn xang, nào lòng:

Đông Hà vào buổi cuối đông

Có dòng sông Hiếu, xanh trong tháng ngày

Có trời mưa bụi bay bay

Từ trong kỷ niệm nồng say bao điều

Và một mùa Xuân đủ muôn màu sắc thắm, rộn rã, rực rỡ và tràn đầy sức sống tươi trẻ, tinh khôi của một thành phố Đông Hà trăm nhớ, ngàn thương. Không gian mùa Xuân bừng lên trong sắc màu cờ hoa, rộn ràng của người mua, kẻ bán,… Cảnh mùa Xuân đầy quyến rũ, đắm say, với bao cảm xúc thiết tha, đằm thắm. Hình ảnh “đưa người viễn phố du xuân” đã vút lên một niềm tin ngời sáng, một tình yêu gắn kết keo sơn giữa con người và thiên nhiên:

Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2021

NƯỚC NGA TRONG THƠ BÙI MINH TRÍ

 


NƯỚC NGA TRONG THƠ BÙI MINH TRÍ

BÙI THỊ HẠNH - HỘI VIÊN HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI

 

         Nhà giáo- nhà thơ Bùi Minh Trí đã từng học tập và làm việc tại Nga tới hơn tám năm. Ông học giỏi, chinh phục đỉnh cao khoa học môn Toán ứng dụng. Môn toán tưởng chỉ là các con số và định lí khô khan. Thật ngạc nhiên, người cán bộ giảng dạy Đại học Bách Khoa lại có một tâm hồn mềm mại giàu cảm xúc với thơ văn đến vậy! Thơ ông viết về nhiều cung bậc tình cảm với đất nước, con người, gia đình, nghề nghiệp, xã hội ..v.v… Đặc biệt, ông dành tình cảm tha thiết với nước Nga - nơi nâng cánh ước mơ một thời trẻ trai của ông.

*** Trước hết, nhà thơ yêu lắm cảnh vật thiên nhiên nước Nga.

Cảnh nước Nga đi vào thơ ông như một lẽ thường tình. Bàn chân ông đặt đến đâu là ở đó có thơ. Mỗi mùa trở gió ông đều đã qua: Thu-đông-xuân-hè.

Mỗi cảnh đều được nhận xét tinh tế bằng ngôn ngữ thơ.

Mùa đông nước Nga đi vào thơ ông thật sâu đậm. Dòng Neva uốn khúc, hàng cây lả trong gió, trời như tím hơn. Trong giá lạnh, nhà thơ rất tình khi cảm nhận lửa lòng mình và đôi môi chúm chím của em gái Nga. Nghệ thuật nhân hóa “hàng cây nhóm lửa lòng” thật ấm áp trong giá lạnh:

“Dòng sông uốn khúc chiều thanh vắng

Lả lướt hàng cây nhóm lửa lòng

Gió lạnh về bầu trời chợt tím

Đôi môi em chúm chím thơm nồng”

(Nhớ mùa đông Matxcơva)

Nói đến mùa đông không thể không nói đến tuyết ở Nga. Tuyết như bông hoa nhẹ rơi, trắng đến trinh nguyên. Nhìn bông trắng la đà trong gió, với trí tưởng tượng của một tâm hồn trẻ thơ, ông thấy tuyết như sao sa giữa trời:

“Ôi nhớ sao chiều đông nước Nga/ Tuyết đầu mùa nhẹ rơi la đà”/ “Cảnh vật trinh nguyên làn tuyết phủ/ Sao sa lấp lánh giữa từng không”(Bông tuyết đầu mùa).

Và cả thành phố Leningrad choàng trong màu trắng qua phép điệp từ tạo nhịp điệu nhạc tính cho thơ

“Thành phố Lênin trong tuyết phủ

Trắng trời, trắng đất, trắng sân ga”

(Thăm thầy giáo)

Tôi rất thú vị khi đọc bài thơ “Tuyết đầu mùa”. Tuyết sạch sẽ đến tinh khôi, thành phố như “nàng tiên may áo mới”. Đây là nghệ thuật nhân hóa qua trí tưởng tượng của nhà thơ. Cảnh không chỉ là cảnh đơn thuần mà tác giả đã khéo léo gửi gấm cảm xúc đầu đời không bao giờ phai- tuyết trinh nguyên hay chàng trai đa tình nguyên trinh đây?

Thứ Tư, 5 tháng 5, 2021

Có được 7 chữ này, dám chắc cuộc sống của bạn sẽ bớt nhiều phiền muộn

 


Có được 7 chữ này, dám chắc cuộc sống của bạn sẽ bớt nhiều phiền muộn 
 
         NK SƯU TẦM
         Trăng vô sự dõi người vô sự
 
Khắc cốt ghi tâm 4 chữ này, cuộc đời bạn sẽ có được niềm hạnh phúc vô tận.
 
Đời người rốt cục sở hữu thứ gì mới được cho là hạnh phúc? Có người tin rằng nhiều tiền thì ắt sẽ vui vẻ, người lại khẳng định phải tìm thấy tình yêu chân chính mới được coi là viên mãn, cũng có người quan niệm, không bất hạnh đã được tính là hạnh phúc rồi...
 
Kỳ thực, hạnh phúc không phải là những thứ cao xa mà chúng ta vẫn hằng ao ước, khát khao. Thứ gọi là hạnh phúc của nhân sinh có lẽ chỉ gói gọn trong 7 chữ - "Thân không bệnh tật, lòng vô sự".
 
"Thân không bệnh tật" là thứ hạnh phúc thực tế nhất của đời người
 
"Thân không bệnh tật" cũng giống như triết lý "sức khỏe là vốn quý nhất".
 
Một người đương lúc tráng niên, thanh xuân tràn đầy, nhiệt huyết sôi sục đương nhiên sẽ thoải ý "tiêu xài" sức trẻ. Thế nhưng cho đến lúc già đi, cơ thể bắt đầu xuống dốc, họ mới hiểu được rằng hạnh phúc đích thực chỉ gói gọn trong 4 chữ - "thân không bệnh tật".

Nhà thơ La Ẩn thời nhà Đường từng viết: "Đắc tức cao ca thất tức hưu", đời người có lúc thất thế, cũng có lúc gặp thời.