Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2017

CHÙM THƯƠNG CÙNG HI VỌNG




CHÙM THƯƠNG CÙNG HI VỌNG
                       
                                         TRẦN TRUNG

1/XANH NGÁT
Hà Nội gần-Thăng Long xa,
Hồ Gươm sau trước
                   Vẫn là Hồ gươm.
Bão giông.Lốc giật...
                           Khó lường.
Vượt lên
           Xanh ngát
                     Nụ-Hôn-Ái-Tình !

2/VÔ ĐỀ
Hãy ôm nhau
                Cho dịu tan nước mắt.
Với nụ cười trao
                      Xua bớt phiền lo.
Nắm tay nhau
                Giữa Nụ cười-Lệ ứa,
Giữa chênh chao
                    Bao sóng cuốn
                                       Xô bờ...

3/CHIỀU
Chiều buông
            Thêu nắng
                       Tường Đình.
Vu vơ
     Lại nhớ
              Cô mình
                          Vu vơ...
Vẩy vung yếm thắm
                         Hững hờ,
Để thương-Để nhớ
                          Thẫn thờ
                              Tình-Si.
                            
                             Hà Nội, chiều trước Đình Thành Công

4/ẨM THỰC
Bún chả liu tiu chút rượu bia
Bún ốc Tây Hồ
             Đợi rằm, mồng một

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2017

AI SÁNG TÁC “HUYỀN THOẠI” HỒ NÚI CỐC?





                                                    Vũ Nho - Chủ trang

AI SÁNG TÁC “HUYỀN THOẠI” HỒ NÚI CỐC?

                                      Vũ Nho

Không ít người khi nghe câu hỏi này sẽ nghi ngờ : Huyền thoại là huyền thoại lưu truyền trong dân gian chứ sao lại “sáng tác”? Người yêu âm nhạc thì sẽ quả quyết ngay: Nhạc sĩ Phó Đức Phương chứ còn ai! Ông có bài hát “ Huyền thoại hồ núi Cốc” với ca từ rất  tha thiết “ơi chàng trai ơi ngọn núi biếc! ơi cô gái, ơi dòng sông sâu. Mối tình thương đau hóa sông hóa núi. Dằng dặc một khúc ca giữa bao la mây trời…”. Nhưng câu hỏi đặt ra là ai “sáng tác” câu chuyện  chàng Cốc, nàng Công?  Sở dĩ gọi “sáng tác” mà không gọi là “sưu tầm” vì rằng câu chuyện đó không hề tồn tại trong  thực tế trước năm 1975. Bài hát của nhạc sĩ Phó Đức Phương xuất hiện sớm nhất chắc  là  sau khi đập sông Công được ngăn, tức là phải trong hoặc sau năm 1977. Nhà văn Vi Hồng ( Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật) lúc đó là Chủ nhiệm bộ môn văn học dân gian của khoa Ngữ văn, ĐHSP Việt Bắc ( nay là Đại học sư phạm trong Đại học Thái Nguyên) cùng sinh hoạt tổ chuyên môn với tôi. Hàng năm thầy đều hướng dẫn sinh viên đi điền dã, sưu tầm văn học dân gian ( thơ, truyện, tục ngữ, câu đố…). Chưa từng nghe thầy nói về câu chuyện núi Cốc, sông Công. Một lần chính tôi đã cùng thầy lên thăm Ban chỉ huy công trường hồ núi Cốc, ngủ lại. Rồi đi xem những nơi  bãi phẳng, chuẩn bị để khi ngăn đập, sẽ là đáy hồ, tiện cho việc đánh bắt cá. Khi về tôi viết bài bút kí  về cái hồ tương lai, đọc trên đài phát thanh Việt Bắc. Tôi có đưa thầy đọc góp ý. Tôi cũng không biết gì về câu chuyện tình của đôi trai gái có tên chàng Cốc, nàng Công.
                                                                 Bìa tạp chí VNVB


Hồ núi Cốc là một hồ chứa nước ngọt không kết hợp thủy điện. Hồ cung cấp nước cho cả một vùng nông nghiệp rộng lớn của Thái Nguyên. Đồng thời có nuôi  một số loại cá. Hồ được xây dựng từ năm 1973 đến năm 1982 mới hoàn thành. Thầy trò khoa Ngữ văn và các khoa khác của trường ĐHSP  Việt Bắc đều có tham gia lao động gánh đất đắp đập,  làm kênh mương ở Lương Sơn năm 1977. Sau khi hồ thành hồ nuôi cá, tôi còn lên một lần nữa, cùng anh em bảo vệ ở đập canh  ba lớp lưới chắn cá,  đi thuyền vào  đảo trong hồ đào bắt con rúi về làm thịt, nấu cơm ăn (1979). Tôi  làm bài thơ  “ Người canh đập tràn” tặng các anh với câu kết: “ Các anh như nước hồ xanh/ Một lần gặp suốt đời mình chẳng quên”.
                                                                                             Một trong 3 trang thơ Ngọc Bái


Vậy từ đâu  và khi nào mà có câu chuyện “huyền thoại” hồ núi Cốc?

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2017

Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa

Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa




Bạn hỏi về Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa, Bắc tông và Nam tông... Giữa hai hệ phái cùng thờ Phật này có gì giống nhau và có gì khác biệt? Tôi cũng đã từng thắc mắc như thế nên đã thử tìm hiểu.

A- Nguồn gốc:

Muốn hiểu đôi chút về Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa, có lẽ phải tìm hiểu vài nét bắt đầu từ giai đoạn lịch sử hình thành Phật giáo. Đức Phật Thích Ca Nâu Ni (Sakyamuni Gautana) được sinh ra ở Ấn Độ, là người sáng lập ra Phật giáo, theo ghi chép của sử liệu Phật giáo Trung Hoa, Ngài đản sinh vào năm 565 trước Công nguyên, nhập diệt vào năm 486 trước Công nguyên, thọ 80 tuổi. Theo ghi chép, khoảng 100 năm sau khi đức Phật tịch diệt, từ Giáo đoàn nguyên thủy, do có cái nhìn khác nhau về nhiều mặt, giới luật, giáo nghĩa, phương pháp tư duy, tu hành... nội bộ của Phật giáo bắt đầu chia rẽ, hình thành hai phái bộ chính, là "Đại chúng bộ", và "Thượng tọa bộ".

Đến khoảng thế kỷ thứ I trước Công nguyên (có sách chép vào thế kỷ thứ I Công nguyên), Phật giáo Ấn Độ bắt đầu hình thành một số tư tưởng, học thuyết mới, và các giáo phái mới. Một hệ phái mới bắt nguồn từ Đại chúng bộ coi mục đích của họ là "Phổ độ chúng sinh", dựa trên tính đa dạng của Giáo pháp. Phái này tự nhận là "Cỗ xe lớn" (Đại thừa, tiếng Sanscrit: Mahayana). Phái Đại thừa gọi phái bộ còn lại (Thượng tọa bộ)  là "Cỗ xe nhỏ" (Tiểu thừa, S: Hinayana), trong khi Thượng tọa bộ tự coi họ là Phật giáo Nguyên thủy (S: Theravada). Cách gọi "Cỗ xe nhỏ" (Tiểu thừa) ban đầu có tính cách châm biếm và miệt thị, nên bản thân hệ phái Thượng tọa bộ (Phật giáo Nguyên thủy) không thừa nhận danh xưng Tiểu thừa. Tuy nhiên tên gọi PG Tiểu thừa dần trở thành phổ biến và được đại chúng quen gọi. Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa ra đời từ đó.
Trước hết xin nói về chữ "Thừa", "Thừa" ( 乘 ) là dịch nghĩa của từ Yana, tiếng Phạn Sanscrit (S) và Pali (P) đều gọi là Yana, âm Hán Việt là Diễn na, có nghĩa là "Cỗ xe", cũng có khi được hiểu như "Con thuyền", là phương tiện đưa hành giả đến bờ giác ngộ.

NGUYỄN HUY, CÔ ĐƠN VÀ KHÁT VỌNG





                                      Tác giả Nguyễn Thị Lan

NGUYỄN HUY, CÔ ĐƠN VÀ KHÁT VỌNG
(Đọc “Đi về phía mặt trời” - Thơ Nguyễn Huy
NXB Hội nhà văn năm 2005)

Nguyễn Thị Lan

1. Trong bài thơ “Trước biển lúc không giờ” có một khổ thơ như những câu thơ định mệnh của Nguyễn Huy.
“Em có biết một đời ta lận đận
Cõi lang thang không hẹn lối đi về
Tìm mê mải một bóng hình tri kỷ
Một con đò neo lại bến sông quê”
Bài thơ viết vào một ngày đầu thu năm 2005, đó là thời điểm tác giả đã đi qua gần 60 mùa thu của cuộc đời, gần hết một kiếp người mà vẫn “lận đận”, “lang thang, vẫn mải miết đi tìm “một bóng hình tri kỷ”, vẫn ao ước một nơi “neo lại” con thuyền cuộc đời. Khổ thơ đã bộc lộc một cách khá đầy đủ trạng thái tinh thần, trạng thái sống của Nguyễn Huy.
“Đi về phía mặt trời” là tập thơ thứ hai của Nguyễn Huy sau tập thơ đầu ”Giữa hai đợt sóng” (NXB Thanh niên 2004). Có gì khác giữa hai tập thơ? Cái khác chăng có lẽ ở tập thơ này Nguyễn Huy hướng nội nhiều hơn. Anh trở về với lòng mình sau những mất mát, đổ vỡ không tránh khỏi. Người làm thơ giờ đây lại buồn hơn, cô đơn hơn và khao khát hơn.
2. Cũng như ở tập thơ trước, hoài niệm về nét đặc biệt trong tâm cảm của Nguyễn Huy và cũng là nét đẹp dễ nhận thấy trong thơ anh. Những đề tài như: trường cũ, bến cũ, bạn cũ, quê cũ…thường đi về nhiều trong thơ Nguyễn Huy. Hình như với Nguyễn Huy cái tốt đẹp đã ở lại phía sau. Hình như giữa các hàng chữ trong câu thơ anh vang lên câu hỏi: “Những ngày xưa đâu rồi?”. Cái ngày xưa ấy là tuổi thơ êm đềm với bao mộng đẹp:
“Bao mơ ước gửi theo làn mây trắng”
                                           (Đối diện với mùa thu)
Trong cái vòm hạnh phúc của tuổi thơ ấy có tiếng ve ngân, có chút nắng gửi lại cây bàng, có chiếc lá thu đậu nhẹ xuống sân trường, có tiếng trống trường thao thức…
Cái ngày xưa ấy là “lối cũ” mà con thuyền trong mộng của Nguyễn Huy vẫn thường đi về:
“Gió ơi có về lối cũ
Cho ta gửi chút lửa lòng
Hong lại những ngày xa ấy
Để người ấm giữa đêm đông”
                               (Giọt mưa đêm)
Cái ngày xa ấy là cố hương với “xanh xanh hàng dừa”, với “bao chiều thơm mùi rơm rạ”, với kỷ niệm tuổi thơ “tôi với em cùng thả thuyền lá tre”.

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2017

Tùy cảm RTC



           

QUÁN TRÈM  
                    Đường Văn
               ( tiếp theo và hết)                   
   
16. TÙY CẢM  RTC*
                                                    
                                                         (Phác thảo)

RTC!... Chén là mê!*
Ngâm câu ca cổ,
chẳng muốn về!*

… Sưa sưa, ngơ ngáo,
-         Đứng lên… cách nào?!

Ca dao có cánh!*
Câu thơ khuyết hậu!*
Sánh như rựa mận*,
Ngọt hơn xổi cẩu*,
nước đầu!
Nồng nàn riềng mẻ*,
Đích nhục tình thơ*…!

Nhớ cụ Chiêu Lỳ*
Qua chơi Địa phủ,
Cắp be kè kè!*
Diêm Vương bái phục,
nổi thèm, tê mê…!

Cờ tây 7 món*,
Món nào cũng phiêu!
Tửu tăm văn vắt,
Thơ nào chẳng… kêu!

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2017

TIẾU LÂM GABROVO 27 ( TIẾP)





TIẾU LÂM GABROVO 27 ( TIẾP)



BÀI HỌC

Một anh thợ nướng bánh ở Gabrovo thích ngồi ở quán với bạn bè. Anh ta thết đãi các bạn một cách hào phóng và không ít lần uống sạch tất cả tiền thu được trong ngày. Một lần, thậm chí anh ta uống sạch cả số tiền người ta gửi mua bột. Anh ta ngượng khi phải đi nói với lái buôn bột xin ghi nợ, nhưng không làm gì được, đành đi thẳng. Anh ta đi tới, người lái buôn bột đứng cạnh kho đang nhằn hạt hướng dương. Sau khi nghe yêu cầu của người thợ nướng bánh, ông ta không vội trả lời. Ông ta ngắm nghía anh thợ, sau đó chìa bàn tay có ba hạt hướng dương ra và nói:

-         Xin mời!

Người thợ nướng bánh định định lấy thì lái buôn đã dùng tay kia chặn lên hai hạt và chỉ cho lấy hạt thứ ba.

          - Đấy, cần phải đãi bạn bè như thế để sống đầy đủ - Nhà buôn nói bằng giọng dạy bảo và bỏ vào miệng hai hạt hướng dương…



NHÀ BUÔN, CÁ, MUỐI VÀ TIỀN

Chuyện xảy ra đã lâu. Một thương gia đến Gabrovo từ thành phố ven sông Đa-nuýp mang theo hai xe chở cá. Một chủ quán lấy của ông ta một tạ cá để bán lẻ, người khác hai tạ, người khác nữa lấy năm tạ... Tất cả đều mua chịu. Sau một thời gian dài, thương gia quay lại các quán để thu tiền. Một chủ quán trả, người thứ hai trả, nhưng người thứ ba thì...Người thứ ba thì chớp chớp mắt, gãi gáy và hỏi:

          - Ông đòi tiền gì nhỉ?

          - Thế là thế nào? – Tiền gì à? Tiền cá ! Tôi chở cho ông một tạ !

          - Ai chà, tiền cá !...Ông biết không, tôi đã tiêu chúng- tôi mua muối…

          - Muối nào ?

          - Muối ướp cá. Thời tiết xấu, rất nóng. Tôi sợ cá bị ươn, thế là rắc muối vào…

          - Thế cá đâu ?

          - Tôi đã bán !

          - A ha, nghĩa là anh đã bán. Nào, vậy thì đưa tiền ra !

          - Ông chậm hiểu quá ! Tôi đã nói rằng tôi đã mua muối ướp cá !

          - Thế muối đâu ?

          - Tôi ướp vào cá rồi !

          - Cá đâu?

          - Tôi đã bán!

          - Tiền đâu?

          - Tôi đã mua muối!

          - Muối đâu?

          - Tôi ướp cá rồi!

          Thương gia phẩy tay vì phải nói chuyện với một tay ngốc và cù nhầy như thế, đành rời khỏi quán...

          Người ta nói rằng từ đó trở đi, các thương gia Gabrovo tự mình đến Đa nuýp mua cá, tự mình bán cá – tội gì mà chia lời với thương lái khác!



CHỈ CÓ CỦ CẢI

Một nông dân vùng núi Gabrovo đi vào chợ thành phố dắt theo con lừa chở các bao củ cải. Trên cầu, bỗng con lừa bướng bỉnh đứng ì ra, không tiến, không lùi. Người ấy bực quá, lấy roi quất nó túi bụi,

- Ông chú, nghe này – một khách qua đường phẫn nộ trước cảnh đó kêu lên – Ông có lương tâm không hả?

          - Không có, ông bạn ạ, chỉ toàn củ cải thôi! – Người nông dân đáp.



TIỆN DỤNG

Một bác sĩ Gabrovo qua đời, Vợ ông ta là một người Gabrovo chính hiệu. Để không tốn tiền khắc bia,  bà đã lấy tấm biển treo ở cửa nhà buộc vào cây thánh giá bên mộ:

 “ Bác sĩ Gavanicov. Tiếp nhận khám từ 9 đến 11 giờ”



TÚI THỨC ĂN

Những người dân làng vùng núi Gabrovo trong quá khứ nổi tiếng là những lái buôn lang thang cha truyền con nối. Họ cưỡi ngựa hoặc đi xe khắp các làng và các trại ấp. Họ bán các thứ hàng khác nhau mua được của những người thợ thủ công Gabrovo hoặc là đổi chúng lấy thứ gì đó – vải lanh thô, lông thú, da cừu. Nay chỗ này, mai chỗ khác. Cứ thế ngày tiếp ngày. Nếu đường đi quá dốc, họ cho vào túi thức ăn một vốc lúa mạch rồi cho ngựa ngửi thấy mùi. Rồi họ giấu túi lúa mạch ra sau lưng hoặc lên phía trước. Sau khi đánh hơi thấy lúa mạch, con ngựa sẽ rán hết sức để kiếm thức ăn và nhờ thế vượt qua được sườn dốc.



ĐỀ PHÒNG

Ông Mi nhiu đặt những mẩu que diêm còn lại vào lọ gốm. Khi người ta hỏi ông cần cái đó làm gì, ông trả lời:

          - Những chiếc que đã sẵn sàng, được chuốt kĩ, may ra hữu ích cho việc gì đó!



Vũ Nho dịch

Còn tiếp




Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2017

CÂY ĐÈN THẦN





                                            Vũ Nho - Chủ trang
CÂY ĐÈN THẦN
             Đặng Hấn

Nhà em có cây đèn thần
Bóng đèn bằng sắt, không cần thủy tinh
Đặt xoong rau hóa xoong canh
Bắc nồi gạo nếp hóa thành nồi xôi
Khách của bố mẹ lại chơi
Ấm nước lạnh  hóa nước  sôi pha trà

Cái bếp dầu lửa ấy mà
Có tay em đã hóa ra đèn thần

Lời bình của Vũ Nho
Bạn đọc nhỏ tuổi ham truyện cổ tích chẳng ai lạ gì câu chuyện cây đèn thần. Thần đèn có thể làm những việc phi thường nhờ phép lạ. Bây giờ lại nghe kể nhà nọ có cây đèn thần ai mà chả tò mò.
Cây đèn thần này có vẻ giản dị. Nó khác đèn thường là bóng bằng sắt chứ không phải bóng thủy tinh. Phép thần của nó chính là sự biến hóa.
Xoong rau hóa xoong canh.
Nồi gạo nếp thành nồi xôi
Nước lạnh hóa nước sôi
Đến đây thì bạn đọc đã phần nào đoán ra cây đèn thần là đèn gì rồi. Tác giả bật mí rằng đèn thần chính là “ Cái bếp dầu lửa ấy mà”! Cái bếp dầu chính là cây đèn thần. Nhưng bếp dầu có phép “biến hóa” chính là nhờ “có tay em”. Không có tay  người – tay em thì mọi sự “biến hóa” không thể xảy ra được. Tay em chính là “thần chú” là “phép màu” làm  cho  bếp dầu lửa “hóa ra đèn thần”! Bàn tay  chăm chỉ và khéo léo của em kì diệu biết bao!


Chúc mừng năm mới 2017!


Chúc các bạn  trên mạng năm mới nhiều niềm vui, nhiều may mắn và hạnh phúc!
Chủ trang vunhonb.blogspot.com