Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2018

CHÙM THƠ KỶ NIỆM HAI CHUYẾN THĂM QUẢNG TRỊ - CHIẾN TRƯỜNG XƯA





CHÙM THƠ KỶ NIỆM



HAI CHUYẾN THĂM  QUẢNG TRỊ



-         CHIẾN TRƯỜNG XƯA



(3/2014 & 5/2018)

LÊ TẤT TỪ 

(Nguyên Thượng sĩ Quân y, Đoàn An dưỡng 869,

 thuộc Quân khu Thủ đô Hà Nội)

  

ĐƯỜNG RA



Đường ra, qua bến Hiền Lương,

vẫy tay tạm biệt chiến trường năm xưa.



Tới Hà Nội, giữa đêm mưa,

mà lòng xao xuyến như chưa muốn về!...



Nhớ nhau, giữ trọn câu thề:

-         Trời cho còn khỏe, lại về thăm nhau!



3/2014.



LẠI VÔ



                                                                    Đồng đội ơi! Tôi lại về đây!

Thỏa lòng ao ước bấy lâu nay!

  Bồi hồi chợt nhớ ba năm trước:

Hẹn rằng còn sức; xế còn bay!



*** 

...Thắp hương khấn bạn, nghẹn ngào!

Rưng rưng nước mắt muốn trào, rưng rưng!...

Trời hòa đất quyện... mung lung,

Cổ Thành Quảng Trị lẫy lừng năm xưa!...



Phaó, bom, đạn thẳng như mưa,

Quân mình quyết giữ, chẳng thua trận nào!

81 ngày ác liệt sao!

Lá cờ nhuộm thắm máu đào các anh.

Cho dòng Thạch Hãn mãi xanh,

êm đềm, ấp ủ mông mênh tình người.



                                                      *

Hồn thiêng thanh thản khắp trời,

thân tan trong sóng, đắp bồi phù sa.

Thầm thì nhắn nhủ cùng ta:

                                                      Sang năm còn mạnh, bạn già lại vô! 

Quảng Trị  -  Thụy Phương,

Bắc Từ Liêm, Hà Nội



5/2018



SÔNG XƯA..., CHAI NƯỚC NGHĨA TÌNH!



ĐƯỜNG VĂN

Quý tặng đồng đội Quảng Trị (1972 – 1973),

đồng hương Trèm – Thụy Phương, Bắc Từ Liêm, Hà Nội,

đồng tuế U 70: Cựu Thượng sĩ Quân y Lê Tất Từ  (Ba Từ)



Nhờ bạn thăm chiến trường xưa

giúp mang về chai nước nhỏ,

múc từ Bến Vượt sang Thành Cổ.

Kỉ niệm một thời Quảng Trị giao tranh...

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2018

NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ




NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ
THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ
(Kì 26)
Nguyễn Ngọc Kiên

(83) 十羊九牧  [thập dương cửu mục] (chín người chăn 10 dê). Thành ngữ bắt nguồn từ một câu chuyện về bản tấu trình mà một viên quan cao cấp đưa lên cho hoàng đế Trung Quốc cổ đại. Câu thành ngữ chứa đựng trí tuệ và kiến thức vẫn còn hữu dụng cho các nhà quản lý trong thời hiện đại.

Khoảng 1.500 năm trước, Trung Quốc đang ở trong thời kỳ hỗn loạn kéo dài hơn 100 năm, đất nước bị chia cắt thành hai phần nam – bắc, mỗi phần lại bị cai trị bởi các triều đại ngắn ngủi. Chiến tranh và bất ổn xã hội đã diễn ra liên tục, nhưng đây cũng là thời điểm hưng thịnh của nghệ thuật, văn hóa và tôn giáo. Giai đoạn này được gọi là Nam – Bắc triều (420 – 581 sau Công nguyên).
Sau thời Nam – Bắc triều, triều đại nhà Tùy (581 – 618 sau Công nguyên) được dựng nên bởi vua Tùy Văn Đế, người đã thống nhất Trung Hoa lần đầu tiên sau hơn một thế kỷ phân chia nam bắc.
Vua Tùy có một số quan thân cận trung thành hỗ trợ việc nước. Một trong số đó là Yang Shangxi (sống vào khoảng 533 – 590 sau Công nguyên).
Yang nhận thấy một số khó khăn trong việc quản lý đất nước. Có quá nhiều châu huyện và quan lại cấp châu huyện, do phân chia khu vực hành chính để lại từ triều đại trước. Vì vậy, hầu hết các quan chức chỉ chịu trách nhiệm ở một khu vực nhỏ, hoặc không có thực quyền và không hữu ích.
Tình trạng này không chỉ gây ra gánh nặng chi phí cho triều đình, mà còn là trở ngại cho việc thực hiện công việc suôn sẻ. Yang cảm thấy rất lo lắng, vì vậy ông đã thảo một bản tấu trình lên nhà vua.
Yang viết: “Hiện này có quá nhiều huyện và quá nhiều quan lại, giống như có tới 9 người chỉ để chăn 10 con dê. Điều này khiến triều đình chịu nhiều chi phí và làm tốn thời gian thực hiện công việc.
“Việc giảm số lượng các huyện và quan lại là ưu tiên hàng đầu đối với quốc gia. Thần xin đề xuất duy trì các khu vực hành chính hợp lý, và cử những quan lại có năng lực tới những nơi thực sự cần. Đối với những vị trí phải giảm bớt, có thể cho họ những công việc khác.”
“Những thay đổi này sẽ làm giảm đáng kể chi phí cho triều đình và giúp điều hành công việc quốc gia hiệu quả hơn.”
Sau khi đọc bản tấu trình của Yang, Tùy Văn Đế đã sử dụng những lời tâm huyết của vị quan và thực hiện một loạt những cải cách tập trung, đưa đến kết quả rất khả quan.

Thứ Năm, 7 tháng 6, 2018

NGẪM





NGẪM



                 Vũ Công Hoan



Cụ tổ tìm con dâu

Xem tông

Vợ hơn chồng hai tuổi

Hai mạng tương sinh.



Ông nội kén con rể

Xem giống

Vợ kém chồng một tuổi

Hai mạng không tương khắc.



Lứa đôi thành vợ thành chồng

Rồi mới có tình yêu.

Một phương trình bền vững

Đến đầu bạc răng long

Lúc lâm chung giặn lại:

“Người đi trước kẻ đi sau,

Chỉ mong nằm xuống chung nhau một mồ”.



Mộ cụ ông cụ bà

Mộ ông nội bà nội

Nằm sóng đôi trong “lăng”

Bia đá khắc họ tên

Ghi ngày sinh tháng mất.



Ngày giỗ ngày tết

Cháu đống con đàn

Lũ lượt về làng thắp hương.



Ngẫm mà giận mà thương

Những mối tình “sét đánh”.



Ngày 9 tháng 4 năm 2004

                                                                 Nhà văn Vũ Công Hoan

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2018

THI SĨ CỦA TÌNH YÊU

 
3/6
9:11 PM 2018

THI SĨ CỦA TÌNH YÊU

PGS, TS VŨ NHO
Đã có hàng trăm bài nghiên cứu-phê bình khẳng định Nguyễn Bính là thi sĩ của tình quê, chân quê, hồn quê. Sinh thời, nhà văn Tô Hoài đã viết: “Khi nào anh cũng là người của các xứ đồng, của cái diều bay, của dây hoa lý, của mưa thưa, mưa bụi giữa mọi công ăn việc làm vất vả sương nắng. Bởi đấy là cốt lõi cuộc đời và tâm hồn thơ Nguyễn Bính...”. Giáo sư Hà Minh Đức còn viết hẳn một cuốn sách dày dặn có tên: “Nguyễn Bính-Thi sĩ của đồng quê” (NXB Giáo Dục, H.1998). Một công trình nghiên cứu công phu của Tiến sĩ Chu Văn Sơn về “Ba đỉnh cao Thơ mới” (NXB Giáo Dục, H.2013) cũng gọi thơ Nguyễn Bính là “Giọng điệu hồn quê”. Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi muốn nhìn Nguyễn Bính ở một góc độ khác. Đó là “Nguyễn Bính-Thi sĩ của tình yêu”.
Không phải ngẫu nhiên mà sinh thời Nguyễn Bính được bạn đọc vô cùng mến chuộng. Theo hồi ức của nhà văn Tô Hoài, các cô gái thợ dệt Nghĩa Đô, không cô nào là không thuộc thơ “Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính. Gọi Nguyễn Bính là thi sĩ của tình yêu, vì nhà thơ đã viết rất nhiều về các mối tình. Tình của mình và tình của thiên hạ. Không ai biết có bao nhiêu chị em đã “phải lòng” nhà thơ, đã thư từ qua lại “thề non hẹn biển” với chàng thi sĩ lãng tử. Nhưng có một sự thật là: Những mối tình đó đều dang dở và để lại những vết thương lòng cho thi sĩ đa tình. Rồi chúng hiện hình thành những vần thơ thống thiết làm rung động bao nhiêu trái tim đang yêu thời ấy....


Thứ Ba, 5 tháng 6, 2018

Kí ức lương thiện



KÝ ỨC LƯƠNG THIỆN

Ấn tượng về “Chuyện lính Tây Nam” - Hồi ức của Trung  Sỹ,NXB Thanh niên, 2018
BÙI VIỆT THẮNG



Không hề ngẫu nhiên khi gần đây loại hình văn học “phi hư cấu” (non-fiction), còn gọi là “văn học tư liệu”, lại xuất hiện dày và có hấp lực với độc giả như“Mùa chinh chiến ấy” của Đoàn Tuấn, “Lính Hà” của Nguyễn Ngọc Tiến,“Chuyện lính Tây Nam” của Trung Sỹ. Cả ba tác phẩm này không hẹn mà gặp đều viết về đời sống chiến đấu của bộ đội Việt Nam trên chiến trường Căm-pu-chia thời kỳ khốc liệt những năm 1978-1983 đáng nhớ trong lịch sử. Cả ba tác phẩm đều là những hồi ức chiến tranh với ưu trội là tinh thần tôn trọng sự thật tuyệt đối, những gì được hồi cố và kể lại đều tựa trên nguyên tắc để cho sự thật lên tiếng. Cả ba tác phẩm đều toát lên vẻ đẹp giản dị, đầy sức thuyết phục của sự thật. Đó là sự bù đắp nguyện vọng của độc giả ngày nay trước tình trạng văn học hư cấu tỏ ra thiếu sức mạnh nghệ thuật trầm trọng, đã tạo ra những bức tranh đời sống nhợt nhạt, không màu sắc, âm thanh, mùi vị, đường nét thực. Văn học phi hư cấu có cái sức mạnh tiềm tàng khi nó chuyển tải tới độc giả một cảm xúc tươi nguyên trước một hiện thực ròng ròng sự sống. Tác giả Trung Sỹ, nguyên trung sỹ thông tin, phục vụ tại Tiểu đoàn bộ binh 4, Trung đoàn 2, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 trong thời gian chiến tranh biên giới Tây Nam 1978-1983. Trong “Lời tựa” ông viết “Tôi là một người lính bộ binh, tham gia cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, đánh đổ chính phủ diệt chủng Khme Đỏ từ năm 1978 đến 1983 (...). Bốn năm đầy hy sinh gian khổ, với rất nhiều bạn bè đồng đội tôi đã không trở về (...). Chính họ đã nhắc tôi kể lại câu chuyện Tây Nam này (...). Tên tuổi các anhem tôi vẫn giữ nguyên không đổi, như là họ vẫn sống trên đời”. Như vậy có thể nói, “Chuyện lính Tây Nam” là chuyện về những người chết và những sống trong và sau chiến tranh. Hồi ức về những ngày chinh chiến là ký ức lương thiện của một người lính.

                        Nhà văn Bùi Việt Thắng

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

VỀ ĐI EM





VỀ ĐI EM
Thương tặng T.T.Q.T 
          Đặng Xuân Xuyến
.
Về đi em! Về ngắm trăng buông
Câu mái đẩy lèn sâu ký ức
Dựa vai anh ngắm đời rất thực
Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi.
.
Em cứ về! Ừ! Một lần thôi
Dẫu nắng bên sông không còn chấp chới
Câu lý ngày xưa dẫu thôi diệu vợi
Ta tựa vai nhau nối lại câu hò.
.
Em cứ về! Đừng mải đắn đo
Về một lần thôi nằm nghe sông hát
Về một lần thôi rộn đêm gió mát
Nghe tiếng lòng khủa nước đêm trăng
.
Em cứ về! Ừ! Một đêm trăng...
*.
Hà Nội, đêm 30 tháng 07/2016
ĐẶNG XUÂN XUYẾN 


Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2018

Tụ tập tháng SÁU



 TỤ TẬP THÁNG SÁU
Nhóm " Chúng tôi yêu nghệ thuật" quyết định tụ tập tháng Sáu. Trước hết là để mừng các thành viên mạnh khỏe, có nhiều bài đăng báo. Sau hết là chúc mừng sinh nhật  nhà tâm lí, nhà thơ Tâm Dung. Đáng tiếc là nhà thơ Ánh Tuyết và PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện không tham dự được vì lí do bất khả kháng. Nhóm tụ tập ở nhà hàng Quê để ăn cỗ. Rồi làm các thủ tục chúc mừng sinh nhật tại nhà riêng của Hoàng Kim Bảo. Dưới đây là mấy hình ảnh đáng nhớ.

                                  Chúc sức khỏe . Tại nhà hàng QUÊ

                               Thanh Ngát áo trắng, tặng hoa cho Tâm Dung

                                       Đôi bạn đồng tuế Tâm Dung, Kim Bảo

                                      Bánh sinh nhật

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2018

Chuồn chuồn soi gương



  

  CHUỒN CHUỒN SOI GƯƠNG
Văn Hải
Chuồn chuồn soi gương mặt ao
Ngỡ mình bay ngửa sắp vào trời xanh
Trăng ngày như bưởi chín cành
Gió chơi rồng rắn áo thành mây bay
Ngó nghiêng sau trước đông tây
Giật mình nắng dại bám đầy cánh thơm

Lời bình của Vũ Nho
CÁI AO CỦA LÀNG QUÊ CÓ BIẾT BAO ĐIỀU THÂN THIẾT VÀ GẮN BÓ VỚI MỖI EM BÉ NÔNG THÔN CHÚNG TA. ĐÃ CÓ BAO NHIÊU LẦN BẠN RỬA CHÂN TAY VÀ SOI BÓNG. QUẢ THẬT, MẶT AO LÚC NƯỚC TRONG VÀ GIÓ LẶNG CHẲNG KHÁC NÀO MẶT GƯƠNG. TRẦN ĐĂNG KHOA ĐÃ HÌNH DUNG:
    CHỊ TRE CHẢI TÓC BÊN AO
    NÀNG MÂY ÁO TRẮNG GHÉ VÀO SOI GƯƠNG
Lần này Văn Hải, cũng vẫn bằng con mắt và tấm lòng cảm mến thiên nhiên đã cho chúng ta được biết chuồn chuồn, con vật bé bỏng gắn liền với mơ ước không gian đã soi gương mặt ao ra sao.
Chuồn chuồn, cũng giống như là chú bé con, chắc phải ngạc nhiên lắm khi nhìn vào gương. Điều này gợi nhớ bài thơ “Thằng cu soi gương” dễ thương của nhà thơ Huy Cận:
    Em bé soi gương lạ lắm mà

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2018

Trở lại " Ngôi nhà xưa"




TRỞ LẠI “ NGÔI NHÀ XƯA” CÙNG  NGUYỄN HOÀNG SƠN

          Đọc “Ngôi nhà xưa” của Nguyễn Hoàng Sơn, nxb Kim Đồng 2016

                                  Vũ Nho

Nguyễn Hoàng Sơn là nhà thơ viết cho thiếu nhi thuộc hàng cao thủ. Anh cũng là nhà phê bình với hai tập dày dặn, ẵm giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam và Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Khi nghỉ hưu, anh lại chuyển sang văn xuôi. “Ngôi nhà xưa” có thể coi là tập truyện thành công của anh ở lĩnh vực mới mẻ này. Tác giả khiêm tốn đắn đo trong  lời mở sách: “Những truyện bạn đang cầm trên tay chủ yếu là những kí ức có phần rời rạc, tản mạn của một người đã có một tuổi thơ bình thường, rất bình thường”. Nhưng đại đa số dân chúng và cũng là bạn đọc là người bình thường, thì cái “bình thường, rất bình thường” ấy lại có phần gần gũi, thân thiện. Mặt khác, chính nó lại gợi ra sự tò mò: Làm thế nào mà một cậu bé nhà quê trong ngôi làng cổ bên sông Cầu có “tuổi thơ bình thường, rất bình thường”  lại có thể trở thành một nhà báo, nhà thơ có tên tuổi trong văn đàn? Tác giả  nêu một giả định : “Giả dụ một ngày đẹp trời, một ngày chủ nhật vui vẻ chẳng hạn, bạn ngán ngẩm với mọi trò chơi trên truyền hình và tìm lại trang sách xưa cũ thì sao? Thì đây, bạn sẽ gặp một số phận, nhỏ bé như tuổi bạn, ngỡ ngàng trước những biến đổi của thời cuộc, vui buồn với những cảnh quê, người quê…”. Tôi chỉ đồng ý một nửa với giả định này. Bởi vì con người luôn có nhu cầu tìm hiểu quá khứ, luôn muốn biết “ngày xưa”. Đó là cái ngày xa lắc xa lơ trong những truyện thần thoại, cổ tích mà bất cứ đứa trẻ bình thường nào cũng đều mê mẩn. Những cái ngày xưa cũng là cái ngày cách nay chỉ mấy chục năm thôi, nhưng cũng đã xa vắng và lạ lẫm lắm rồi. Ấy là khi một làng ven sông như làng quê của anh mà rất nhiều bến đò : “đò ngang chợ Điệu, đò ngang Đạng Vỡ, đò ngang Cành Dây, đò ngang Bến Ái”. Ấy là trò chơi  bắn súng cát bằng ống đu đủ;  là  những đêm hát ví đối đáp nam nữ hai bờ sông. Cả cái cảnh xay lúa, hay giã gạo cũng đã biến mất tự khi nào khi mọi nơi đều có máy xay xát. Các bạn trẻ sẽ thấy ở đây hình ảnh của “các cụ” xưa trong một công đoạn làm ra hạt gạo dẻo thơm khi mà làng chưa có điện, chưa có máy  móc gì. “Hồi tôi còn nhỏ, làng tôi chưa có điện. Quãng bảy, tám giờ tối là xóm giềng đã có vẻ im ắng, chỉ le lói ánh đèn dầu của những nhà có thói quen ăn cơm muộn. Thứ tiếng nghe rõ nhất là tiếng giã gạo. Thình thịch…thình thịch đều đặn và buồn tẻ. Tôi ngồi trong bóng tối, tưởng tượng ra người đàn bà giã gạo một mình trong gian nhà ngang tối tăm. Không rõ mặt người, chỉ có cái dáng cao cao, cái váy xốc xếch, cái yếm nâu, hai cánh tay trần níu chặt cái “giằng” từ xà ngang nhà buông tới. Thình thịch…thình thịch… Có khi tôi đã ngủ một giấc dài, thức dậy, vẫn còn nghe thứ tiếng buồn tẻ ấy” ( Một đêm hát).Vâng, con người vẫn xem tivi, vẫn  dùng điện thoại thông minh, iphone, ipad,… Nhưng tôi đoan chắc họ vẫn vui vẻ tìm đọc những trang sách viết về “Ngôi nhà xưa” chứ chả phải đợi đến khi họ chán với mọi trò chơi trên các thiết bị thông minh. Vấn đề là những trang sách đó phải hấp dẫn, phải cuốn hút và ám ảnh.
                                                  Nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn