THÀNH NGỮ KHOA TRƯƠNG TRONG TIẾNG HÁN
(Phần 2)
Nguyễn Ngọc Kiên
(Tiếp
theo)
2.2.2.4. Sử dụng so sánh tu từ biểu thị khoa trương
Thành ngữ so
sánh là lớp thành ngữ vừa mang những đặc điểm của phép so sánh tu từ trong ngôn
ngữ, vừa mang những đặc điểm của thành ngữ. Vì thế, lớp thành ngữ này thường
mang theo những đặc điểm mang tính loại biệt về mặt cấu trúc hình thái. Được
khuôn định trong một kết cấu âm tiết có hạn (chủ yếu là bốn âm tiết), mà vẫn xuất
hiện đầy đủ các thành tố của phép so sánh, nên cấu trúc hình thái của lớp thành
ngữ này phải được giản hoá tới mức tối đa, các thành tố được sắp xếp với nhau
khá chặt chẽ. Thành ngữ
tiếng Hán phần lớn có nguồn gốc từ những câu truyện lịch sử, những điển tích
xưa, và sau khi hình thành thì cấu trúc của nó thường ổn định từ cổ chí kim.
Hay nói cách khác, thành ngữ được dùng trong tiếng Hán hiện đại phần lớn được
giữ nguyên trạng từ thành ngữ trong tiếng Hán cổ. Thành ngữ so sánh tiếng Hán
cũng không ngoại lệ.
Do những đặc
điểm ngôn ngữ xã hội, tiếng Hán được chia thành hai giai đoạn lớn: tiếng Hán cổ
đại và tiếng Hán hiện đại. Trong mỗi giai đoạn ấy, tiếng Hán lại có những đặc
điểm khác biệt cả về ngữ âm, ngữ nghĩa và cấu trúc. Điều đó có thể được chứng
minh qua cấu trúc câu so sánh của tiếng Hán cổ đại và tiếng Hán hiện đại
(A) Thành ngữ so sánh dạng hiện
Thành ngữ so sánh dạng hiện cũng giống như phép so sánh
dạng hiện, là dạng thành ngữ mà trong cấu trúc bề mặt của nó xuất hiện yếu tố
từ ngữ so sánh 如 (như), 若 (nhược), 似 (tự), 于 (ư) .v.v. Thành ngữ so
sánh dạng hiện có thể coi là một dạng nguyên mẫu điển hình của phép so sánh,
nghĩa là trong cấu trúc có một yếu tố đựợc đánh dấu cho phép so sánh. Các tác giả 陈望道 (Trần Vọng Đạo), 落小处 (Lạc Tiểu Sở), 李齐中 (Lý Tề Trung).v.v. chỉ công nhận những
từ ngữ so sánh 如 (như), 若 (nhược), 宛如 (vãn như), 仿佛 (phảng phất) .v.v. xuất hiện trong cấu trúc so sánh tu
từ, mới là phép so sánh tu từ dạng hiện. Còn trong các cấu trúc so sánh xuất
hiện yếu tố từ ngữ so sánh là 是 (thị), 为 (vi), 成 (thành) v.v. thuộc về phép so sánh dạng ẩn. Chịu ảnh
hưởng của những quan điểm trên, các tác giả 倪宝元 (Nghê Bảo Nguyên), 史试 (Sử Thí) cho rằng, 似 (tự) hay若 (nhược), 如 (như) v.v. mới là thuộc nhóm thành ngữ so sánh dạng
hiện. Tuy nhiên,theo chúng
tôi, cứ có một từ ngữ đánh dấu biểu thị ý
nghĩa so sánh xuất hiện trong cấu trúc đều đựợc xếp vào nhóm thành ngữ so sánh
dạng hiện. Như vậy, những
thành ngữ so sánh mang theo các từ biểu thị hàm ý so sánh như 成 (thành), 同 (đồng), 类 (loại).v.v. cũng thuộc phạm vi thành ngữ so sánh dạng
hiện.
(Dẫn theo PGS
– TS Nguyễn Hoàng Anh)
( 1) Thành ngữ so sánh ngang bằng
Biểu thức: X + R + Y
Trong loại này, giữa thành tố X và Y là từ ngữ biểu thị so sánh (R) thường là
các từ ngữ: 如 (như), 若 (nhược) hoặc似 (tự) …. Chẳng
hạn:
心急如焚 [tâm cấp như phẩn] (ruột
gan như lửa đốt),杀人如麻 [sát
nhân như ma] (giết người như ngoé), 福寿齐天 [phúc thọ tề thiên] (phúc thọ ngang bằng trời)
(2)Thành ngữ so sánh không ngang bằng

















