Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015

CHÙM THƠ TÌNH&BÀI HÁT THAO THỨC CHÀO MỪNG NGÀY 20-10











   Nguyễn Đăng Luận - Lời Thề Lá Sen
         Chủ biên Tạp chí Văn Mới

CHÙM THƠ TÌNH&BÀI HÁT THAO THỨC  CHÀO MỪNG NGÀY 20-10


ƯỚC MƠ
Tôi ước mơ
Có một người yêu
Như đã có quê hương và mẹ
Chỉ một thôi, một  người yêu như thế
Để được yêu
Để nhớ
Để giận hờn
Để biết ơn và chịu tội
Để còn có nơi tôi trở lại
Nhỡ con thuyền bị bão đẩy ra xa



EM
Em đã thả vào hồn tôi
Một con rắn
Một con mèo
Một con chim chiền chiện hót
Và nụ hôn đặt ở phía chân trời.

NHỮNG BÀI CA TÔI HÁT
Bài ca đầu tiên tôi hát về Mẹ
Người mang trái tim bình yên
Lời ca dìu dặt bay bay như những cánh chim
Bài ca tiếp sau tôi hát về Em
Tình yêu có nhiều dông bão
Lời ca đứt đoạn mấy lần
Thời gian tính bằng tháng năm
Tuổi trẻ trôi đi ào ào như thác
Giờ Em khác, Tôi cũng khác xưa nhiều
Tôi vẫn nhớ và Tôi vẫn hát
Những bài ca về Mẹ và Em.

NGƯỜI CON GÁI ĐANG YÊU
Vừa ngồi xuống đã đứng lên
Tắt đèn rồi lại bật đèn vu vơ
Chính mình mình cắm bình hoa
Cắm đi cắm lại nhổ ra mấy lần.

MÙA THU
Đang đi trong gió heo may
Từ đâu chiếc lá vàng bay vào đầu
Tình xưa tưởng đã phong rêu
Về theo chiếc lá nhuộm chiều bâng khuâng.

KHÁT
Một ca nước thôi
Cơn khát không còn
Một múi chanh chua thôi không thèm nữa
Cả mặt trời ngày ngày lên rực rỡ
Cũng phải lặn đi nhường chỗ cho đêm
Còn em
Không phải mặt trời
Em không là ca nước
Không phải múi chanh chua
Em ở trong tôi luôn có thật
Thế mà sao chưa hết khát bao giờ ?

 THAO THỨC
        Mời bạn lên mạng : Đêm nay em ngủ có ngon không ? Mà phía anh, chỉ…
Để nghe nhạc Hoa phổ thơ Việt Nam – bài Thao Thức của Nguyễn Đăng Luận: Đêm nay em ngủ có ngon không?/ Mà phía anh chỉ toàn thao thức/ Sao rơi mấy lần anh đều đếm được/ Thành phố ngủ thế nào anh sẽ kể em nghe.
( Nữ ca sĩ Đài Loan hát tiếng Hoa với giai điệu say đắm lòng người.)
Nghe Thao thức và nghe tiếp ngay sau đó ( tự động ) những ca khúc trữ tình do ca sĩ Việt Nam thể hiện.
                                                                                  Nguyễn Đăng Luận
                                                        Tel: 0915587824 Email: loithelassen@gmail.com

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

CHÙM THU CUỐI








CHÙM THU CUỐI-THƠ TRẦN TRUNG
 (Theo điệu thơ Hai-Kư-Nhật Bản)

1/Mới đó
Vàng mơ
Tàn hoa cúc.

2/Đêm
Chớp lóe
Cạn tình nồng !?

3/Nụ hôn êm
Gió lướt
Xa rồi...

4/Hình như chiều

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

Thơ X.Exenhin trong bản dịch Trệu Lam Châu



KỶ NIỆM 120 NĂM NGÀY SINH NHÀ THƠ NGA ÊXÊNHIN
 
Tâm sự của Nhà thơ dịch giả Triệu Lam Châu:
 
  X. Êxênhin - Nhà thơ lớn của đồng quê nước Nga (1895 – 1925) sinh ra ở 
ngôi làng Kônxtanchinôvơ nhỏ nhắn, 
yên bình và xinh đẹp, thuộc vùng bình nguyên Riazan mênh mang bát ngát. 
Nơi ấy có dòng sông Ôka mộng mơ,bình lặng, mát rượi những buổi chiều hè, 
và khi thu sang lá phong vàng quyến rũ soi lấp lánh dòng sông trong. 
Thơ Êxênhin là tiếng hát nồng nàn phóng khoáng và ngọt lịm lòng người, ngợi ca
 tình người quê kiểng đôn hậu thuỷ chung, ngợi ca thiên nhiên Nga bình dị mà 
tráng lệ, ngợi ca những nỗi niềm chưa có tên để gọi – mà hình như cứ chực 
vụt trào ra từ những con tim rực ánh lửa hồng. Nổi bật lên giữa bức tranh
làng quê Nga nồng hậu ấy – là tình yêu đôi lứa trong trẻo, nồng nàn, mà cũng
 xiết bao cay đắng, khổ đau… Song trên hết: Mọi mối tình trong thơ ông, đều lặng lẽ 
kết đọng thành vầng kỷ niệm huy hoàng và lồng lộng trong mỗi trái tim người…
 
Thơ Êxênhin đã từng đến với bạn đọc nước ta qua bản dịch của các dịch giả 
Thuý Toàn, Tạ Phương… 
Nhân kỷ niệm 120 năm sinh Nhà thơ Êxênhin (3/10/1895 – 3/10/2015) 
– tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc yêu quý một chùm thơ của Người, 
dịch ra tiếng Việt và tiếng Tày.
 
Triệu Lam Châu – dịch thơ  từ nguyên bản tiếng Nga
 
 
 
 
                                                                             Nhà thơ Nga X. Êxênhin (1895 – 1925)
 
 
Nguyên bản tiếng Nga:
 
*  *  * 
Не видать за туманною далью,
Что там будет со мной впереди,
Что там... счастье, иль веет печалью,
Или отдых для бедной груди.
 
Или эти седые туманы
Снова будут печалить меня,
Наносить сердцу скорбные раны
И опять снова жечь без огня.
 
Но сквозь сумрак в туманной дали
Загорается, вижу, заря -
Это смерть для печальной земли,
Это смерть, но покой для меня.
 
1912 
Bản dịch thơ tiếng Việt:

     * * *

Sau màn sương xa nào thấy chi đâu
Điều gì đang đợi mình phía trước
Nỗi buồn tủi hay là hạnh phúc
Hay phút nghỉ ngơi cho tấm ngực mỏi mòn.

Hay là những làn sương xám ấy
Lại mang đến cho mình những tủi buồn
Những vết thương xuyên vào tim nhức nhối
Không có lửa đâu, mà vẫn đốt tiêu tan.

Xuyên qua màn sương mờ xa xăm
Mình lại thấy bình minh rực rỡ -
Giờ tận số của trái đất buồn
Và cái chết của mình thanh thản.
1912
 

ОТОЙДИ ОТ ОКНА

 
Не ходи ты ко мне под окно
И зеленой травы не топчи,
Я тебя разлюбила давно,
Но не плачь, а спокойно молчи.
 
Я жалею тебя всей душою,
Что тебе до моей красоты?
Почему не даешь мне покою
И зачем так терзаешься ты?
 
Все равно я не буду твоею,
Я теперь не люблю никого,
Не люблю, но тебя я жалею,
Отойди от окна моего!
 
Позабудь, что была я твоею,
Что безумно любила тебя,
Я теперь не люблю, а жалею -
Отойди и не мучай себя.
 
1912
ĐỪNG ĐẾN GẦN CỬA SỔ NHÀ EM

Đừng đến gần cửa sổ nhà em
Đừng giẫm nát cỏ vườn đấy nhé
Từ lâu em không còn yêu anh nữa
Bình tĩnh lặng im và đừng khóc, anh ơi.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

ĐẾN QUAN NƯA của Hồ Thủy Giang với lời bình Vũ Nho




Hồ Thủy Giang

Đường rừng hết nắng lại mưa
Đưa chân ta đến Quan Nưa với mình
Núi nào mà núi chẳng xanh
Mà sao ta lại hẹn mình nơi đây
Rừng nào chẳng thắm ngàn cây
Mà sao ta hẹn nơi này rừng ơi
Đường về bản Trịt xa xôi
Nghe tên thì xấu mà người thì thương
Thương ai một nắng hai sương
Cho nên đôi mắt mới vương nắng ngàn
Thương ai vất vả gian nan
Cho nên suối hoá cung đàn hát ca
Thương ai cơm chát tương cà
Chim về làm tổ mái nhà bớt xiêu
Hai bàn tay giữa đất nghèo
Tay ươm hạt giống, tay gieo hạt đời
Rừng bao cây mọc rừng ơi
Thương rừng nên bạc áo người nắng mưa
Thương nhau biết mấy cho vừa
E ta lại đến Quan Nưa với mình
                                                               1982
Lời bình của Vũ Nho
Nhìn những cô gái tóc cắt ngắn kiểu phương Tây hay uốn một theo kiểu Nhật, áo xoa thêu, quần “gin”, trên má thoa một chút phấn mỏng, môi tô son gió… thường dễ bị hấp dẫn ngay lập tức vì vẻ đẹp rất hiện đại lại được nghệ thuật điểm trang hỗ trợ.
Rồi một hôm cạnh hồ Ba Bể, hay hồ Núi Cốc, mà cũng có thể là ngay giữa Thái Nguyên (hoặc Hà Nội cũng vậy thôi), chúng ta gặp cô gái Tày da trắng hồng. Chiếc áo chàm may khéo làm cho cổ tay cô vốn đã tròn lại càng thêm tròn, thêm trắng. Tấm khăn xanh. Cặp mắt cũng rất xanh. Nếu bạn nhìn cô gái ấy hơn một lần, bạn sẽ ngỡ ngàng. Bạn được biết một vẻ đẹp lạ, đẹp mộc, đẹp không trang điểm.
Bài thơ ĐẾN QUAN NƯA đã gợi cho tôi một sự so sánh như vậy. Thơ lục bát, người viết lại khiêm nhường, thành ra nó như lẫn vào “ca dao hò vè”, nôm na.
Nhưng bài thơ này quả thật có một cái gì đó lấp lánh, rất ấn tượng.
Đường rừng hết nắng lại mưa
Nắng mưa dồn vào con đường, lại là đường rừng nữa! Với cặp từ có tính thống kê “hết…lại…”, giọng điệu này hẳn là sắp kể khổ đây. Người ta chờ đợi sự than thở nào là nắng lửa, nào là mưa dầm, nào là dốc, là trơn, là lắm vắt vân vân. Một trăm thứ khổ. Nhưng câu thơ đã chuyển mạch nhẹ nhõm đến bất ngờ:
Đưa chân ta đến Quan Nưa với mình
Ôi, con đường rừng! Con đường như cũng thấu tình và vì thế mà cảm tình với người đến Quan Nưa. Nó cùng với nắng, với mưa đưa chân cho khách.
Núi nào mà núi chẳng xanh
Rừng nào chẳng thắm ngàn cây
Câu thơ vẽ lên cái chung, cái điệp trùng của rừng núi ngút ngàn. Nhưng trong cái chung hoàn toàn không tách bạch được ấy, có một chấm riêng. Ấy là nơi này, là Quan Nưa. Chính người viết như cũng ngạc nhiên về sự lựa chọn của mình:
Mà sao ta lại hẹn mình nơi đây
Mà sao ta hẹn nơi này rừng ơi
Nói như người xưa thì có lẽ là tại “duyên số” chi đây. Còn theo ngôn ngữ bây giờ thì nơi đây đã thành nơi hẹn hò, thành nơi gắn bó tự khi nào chẳng rõ. Cũng là rừng, cũng là núi, nơi nào chẳng có, đến đâu chẳng gặp. Nhưng núi rừng Quan Nưa rất khác, rất riêng. Quan Nưa có “mình” của ta, có người ta thương, có người ta nhớ, có người ta hẹn, có người chờ ta.
Khổ thơ tiếp theo là khổ thơ THƯƠNG. Chữ “thương” cứ lấp lánh trong từng câu mà không hề trùng lặp. Chỉ thấy thương vời vợi mãi lên. Mỗi cặp lục bát có một phát hiện nét biểu hiện mới của tình thương.
Thương ai một nắng hai sương
Cho nên đôi mắt mới vương nắng ngàn
Mắt ai vương? Chắc là của người hôm nay đến Quan Nưa. Mấy chữ “vương nắng ngàn” rất không xác định, do đó giàu sức gợi. Đến  câu thơ:
Thương ai cơm chát tương cà
Chim về làm tổ mái nhà bớt xiêu
Mới lộ rõ sự phô diễn tài tình của tác giả. Mái nhà xiêu chim về làm tổ. Cái tổ chim bé nhỏ níu cho mái đỡ xiêu. Ấy là cái điều nhìn thấy. Còn bầy chim non trong tổ chim, tiếng hót của đàn chim đã đem lại cho ai một khúc nhạc rừng, một niềm an ủi. Do cái tình ở trong tâm, cái vui ở trong lòng  nên “cơm chát tương cà” cũng là không ngại và mái nhà xiêu  nhìn cũng bớt xiêu. Câu thơ có hình, có tình, có nhạc. Viết được như thế là phải thương nhiều, thương sâu lắm.
Người thương người, suối thương người, chim thương người, người thương đất, thương rừng…
Thương rừng nên bạc áo người nắng mưa
Một tình thương xoắn xuýt, đan kết như trùm lên khắp Quan Nưa, Bản Trịt. Đến đây mới hiểu vì sao chuyện “ đường rừng hết nắng lại mưa” lại không thành chuyện “kể khổ” ở đầu bài thơ. Cái tầm của người đến Quan Nưa vậy mới xứng với cái tầm của người ở Quan Nưa. Và tình cảm nữa cũng vậy.
Hơi tiêng tiếc một chút là câu thơ kết chưa thật đẹp, chưa nói đúng được cái mức “thương nhau biết mấy cho vừa” của hai người.
E ta lại đến Quan Nưa với mình
Chữ “E” này làm duyên và hơi khách sáo, có vẻ quá  rụt rè và không thật. Đã thương đến thế mà còn “e” là nghĩa làm sao?
Tôi nhớ đến câu thơ của Nông Quốc Chấn:
Người say suối, suối say người
Dựng nhà ở mãi đây thôi chẳng về
Và nghĩ rằng bài thơ này cũng phải có một câu kết từa tựa như vậy:
Thương nhau biết mấy cho vừa
Dựng nhà ta ở Quan Nưa với mình

Thái Nguyên, 1986
Hà Nội, 30 tháng Bảy 1987