Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

NHỮNG NGƯỜI DỊCH THƠ ĐỨC RA TIẾNG VIỆT



NHỮNG NGƯỜI DỊCH THƠ ĐỨC RA TIẾNG VIỆT
                       
                                         TS.  Nguyễn Văn Hoa

1- Đặt vấn đề

Nhờ có người chuyển dịch thơ Đức ra Việt văn nên độc giả yêu thơ ở Việt Nam ( VN ) cũng đã biết đến thơ Đức ; 
Nhưng vẫn đứng sau rất xa so với Thơ Tầu ,thơ Pháp ,thơ Nga 
Vậy những ai đã dịch thơ Đức ra Việt văn ?

2- Ai đã dịch thơ Đức ra Việt văn ?

Theo dữ liệu mà chúng tôi sưu tầm trong tay thì số dịch giả thơ Đức có thể đếm trên đầu ngón tay . Chúng tôi xin đưa ra một số ví dụ

2.1- Dịch thơ J.W.Goethe 

Có lẽ người có công đầu dịch thơ Đức ra Việt văn là TS Đỗ Ngoạn ( tác giả từ điển Đức-Việt đầu tiền in công khai ở Việt Nam ) . 
Ngay từ năm 1976 ông đã công bố tập 1 Tác phẩm thơ đồ sộ là Faust của J .W. Goethe 
Và 19 năm sau 1995 ts Đỗ Ngoạn cùng nhà thơ Thế Lữ lại công bố tập 2 Faust của J.W. Goethe ; Tác phẩm này sau đó dịch giả Quang Chiến cũng công bố tác phẩm Faust vào năm 2001( sau 25 so với tập 1 và sau 6 năm so với tập 2 của TS Đỗ Ngoạn và Thế Lữ . 
Cá nhân chúng tôi hết sức khâm phục các dịch giả trên , vì họ đã leo lên đỉnh cao nhất thi ca của Đức. 
J.W.Goethe độc giả yêu thơ người Đức kêu J.W.Goethe là “VUA THƠ”- 
Đây là mốc son trong lịch sử dịch thơ Đức của Việt Nam . 
Tuy nhiên vì tác giả đã sinh cách đây 264 năm và chết cách đây 181 năm , vả lại số bản in có hạn, cho nên số độc giả yêu thơ Đức ở VN tiếp cận tác phẩm này không nhiều .

2.2 Thơ Heinrich Heine

Năm 1999 dịch giả Nguyễn Khắc Khoa đã công bố thơ Heinrich Heine dưới dạng song ngữ ( Nhà xuất bản Văn Học ). 
Năm 2008 dịch giả Trần Đương cũng công bố Thơ tình Heinrich Heine( Nhà xuất bản Phụ Nữ )

2-3 Thơ Betolt Brecht

Năm 2006 Quang Chiến đã công bố thơ Betolt Brecht ( Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ) 
2-4 Năm 2012 TS Nguyễn Văn Hoa và Thạc Sỹ Diệp Phương Chi công bố 54 bài thơ Đức của 49 nhà thơ ( Nhà xuất Bản Văn Học Hà Nội ) . 
Ngoài ra chúng ta cũng còn có thể truy cập trên mạng internet để tìm nhiều dịch giả thơ Đức từ tiếng Đức ở VN & Đức ; 

Qua những ví dụ trên , chúng ta thấy thơ Đức đã đến với độc giả yêu thơ người Việt ; 
Những có lẽ bài thơ chúng tôi sưu tầm sau đây được độc giả yêu thơ VN biết nhiều nhất : 

Bài thơ của  nhà thơ Đức Christa Reinig (sinh năm 1926):


Gott schuf die sonne 
Ich rufe den wind 
wind antworte mir 
ich bin sagt der wind 
bin bei dir 
ich rufe die sonne 
sonne antworte mir 
ich bin sagt die sonne 
bin bei dir 
ich rufe die sterne 
antwortet mir 
wir sind sagen die sterne 
alle bei dir 
ich rufe den menschen 
antworte mir 
ich rufe – es schweigt 
nichts antwortet mir

(Trong tập Thơ “Gedichte“, nxb S. Fischer, 1963).

Trong tạp chí Văn học nước ngoài năm 2002 có đăng bản dịch của Quang Chiến:

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

KHÔNG THỂ KHÔNG TIN

        Nhà thơ Vũ Xuân Quản


GẶP GỠ GIAO LƯU GIỮA VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG TIỀM NĂNG CON NGƯỜI VỚI NHỮNG NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG ĐẶC BIỆT


Vào 8 h sáng ngày hôm nay (18/8/2013), tại Hội trường lớn của Trường Đại học Thuỷ lợi Hà Nội đã diễn ra buổi:

GẶP GỠ GIAO LƯU GIỮA VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG TIỀM NĂNG CON NGƯỜI VỚI NHỮNG NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG ĐẶC BIỆT.

Tới dự  buổi gặp gỡ giao lưu,  có nguyên TBT Lê Khả Phiêu, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cùng nhiều nhà khoa học nổi tiếng trong các lĩnh vực khác nhau và 30 nhà ngoại cảm hàng đầu trong cả nước, mà đặc biệt có một Nhà ngoại cảm Thần đồng  4 tuổi người Vĩnh Phúc.

Điều hành buổi giao lưu là Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải. Giáo  sư Viện sỹ  Phạm Minh Hạc đọc diễn từ khai mạc. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đi công tác Miền Trung không đến dự được, đã gửi thư chúc mừng buổi giao lưu. Nguyên TBT Lê Khả Phiêu do có công việc đột xuất, nên chỉ dự được phần mở đầu của buổi hội thảo và  đã phát biểu trước khi chia tay. 
Ông nói: Tôi rất vui mừng trước những thành công có ý nghĩa thực tiễn mà Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người đã đạt được trong thời gian vừa qua. Ông tin rằng Viện sẽ phát triển vững bền và có những thành tựu to lớn hơn nữa mang tính thời đại để phục vụ sự nghiệp xây dựng & bảo vệ Đất nước. Tiếp theo là báo cáo của Thiếu tướng Tiến sỹ Chu Phác về hoạt động của Bộ môn Cận tâm lý. Sau đó, một số nhà ngoại cảm đã trình bày báo cáo của mình.
Mở đầu là báo cáo của nhà ngoại cảm có “ con mắt thứ 3 ”  Hoàng Thị Thiêm về kết quả của những giấc mơ và những bài thơ giáng linh. Nhà ngoại cảm Nguyễn Cung Hà báo cáo: “ Hoá giải một số căn bệnh chưa rõ nguyên nhân và một vài suy nghĩ về hoạt động ngoại cảm ”.
 TS BS Trần Thống Nhất giới thiệu về Nhà ngoại cảm Phan Thị Chanh có thể chữa bệnh bằng tiếng hát của mình và khả năng dự báo. Cả hội trường sôi động hẳn lên khi Nhà ngoại cảm Phan Thị Chanh truyền năng lượng cho mọi ngừơi qua ba bài hát rất du dương do chị trình bày. Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Lư báo cáo những kết quả hoạt động ngoại cảm của mình trong thời gian công tác tại CHLB Nga. Những kết quả này đã được Hội đồng  khoa học liên ngành Viện Hàn lâm khoa học Nga nghiên cứu, khảo nghiệm và công nhận bằng văn bản. Tiếp theo là phát biểu của nữ Nhà báo Kim Anh về căn bệnh ung thư của mình mà Y học Mỹ, Xinh ga po đã bó tay, nhưng đã được Nhà ngoại cảm Phạm Thị Phú chữa khỏi. Hiện  nay Nhà báo Kim Anh đã có thai một cách bình thường. Qua xét nghiệm y học, Kim Anh mang thai đôi. Đó là niềm vui khôn tả của vợ chồng Nhà báo Kim Anh cũng như của những người thân trong hai gia đình nội ngoại. Ông Lê Quốc nói về kết quả chữa khỏi bệnh chỉ qua những cuộc điện đàm giữa người bệnh với Nhà ngoại cảm Nguyễn Thi Huệ ở Tuyên Quang. Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải giới thiệu cuốn thơ: “ VIỆT NAM bốn ngàn năm ” của bà Nguyễn Thị Huệ viết trong 2 năm ở trại giam, trong điều kiện hết sức ngặt nghèo. “ Sách dày 466 trang ghi lại lịch sử của dân tộc Việt Nam hơn 4000 năm, từ thời Hồng Bàng đến thời đại Hồ Chí Minh. Có thể nói, đây là  tập biên niên sử các triều đại Việt Nam bằng thơ . Đọc nó ta sẽ có hệ thống đầy đủ về các Triều đại, các đời vua theo chiều dài lịch sử. Điều đặc biệt là khi viết tập lịch sử bằng thơ này, trong tay bà không có một tài lệu nào, nhưng khi so sánh lại trùng khớp với các sự kiện lịch sử 4000 năm của dân tộc Việt Nam. Rõ ràng bà đã được Thế giới tâm linh giáng ứng mà viết ra ”. Sách đã được Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin ấn hành vào quý III năm 2013. Nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Huệ cho biết: Người nào đọc cuốn sách này một cách thành tâm, thì có thể khỏi được bệnh . GSTSKH  Phan Đăng Nhật bị bệnh Gout nặng, nhờ đọc cuốn sách này 3 ngày, tối gối lên sách mà ngủ, đã khỏi bệnh. ( ĐT của GSTSKH Phan Đăng Nhật: 0912820121 ). ( Địa chỉ của Nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Huệ: Xóm Hồ, Xã Hồng Lạc, Huyện Sơn Dương, Tỉnh Tuyên Quang; ĐT: 01678 639891).

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

SAY- BÃO- ĐAU...



Chùm thơ Trần Trung
1/SAY
Lá vàng
Rớt xuống
Bàn bia...
"Linh Chi Quán"..
Gió chia lia
Nỗi niềm.
"lạy Giời cho nổi gió lên"!
Cho say ngơ ngất
Tới Miền-Bình-Yên.

2/BÃO
Tin bão dồn
Ập vào xứ sở
Coi chừng mưa,lũ quét...Thượng nguồn.
Đột khởi
Cơn-bão-Lòng dậy sóng
Đau thương ơi!
Lũ quét-Nhân tình.

3/ĐAU
Cái thời này...Sao lắm nỗi đau
Đầy rẫy-Ngổn ngang
Thôn-Quê,Phố Thị
Lấp ló-bầy phơi
Đầy đường...
Đĩ !
Nỗi-Cảm-Hoài
Thế thái-Trầm luân.

4/ÁC
Cướp giật,bịp lừa lan như nước
Mưa dày
Cho "lên ngôi" ếch nhái, bọ sâu...
Cho lương thiên-Nổi nênh
Thân phận.
Ác cùng ngu...
Mặc sức tung hoành.

5/MƠ
Bàng hoàng Cái-Thật...
Tìm-Mơ
Xạc xờ Nhân-Tính
Ngác ngơ Tâm-Thành
Đất-Thời-Loạn
Vọng Giời-Xanh
Đã nghe thánh thót...
Giọt lành...
Gọi-Mơ.

6/YÊU
Thương yêu
Ai mặc yếm điều
Người đi trảy hội...cho xiêu Lòng-Người
Đùi dài-váy ngắn...
Hỡi ôi!
Cho Ai ngơ ngẩn cái thời
Còn-Xưa!

7/TIN
Giông giông-gió gió
Tơi bời
Thiện căn náu lại lòng Người
Thiện-Căn
Cuốn xô giông tố
Nhọc nhằn
Chẳng bao giờ ngắt : Lòng Nhân-Tin Đời

                     HÀ NỘI 16/8/2013.

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

Hồn Thiền trong thơ LÝ - TRẦN







Mấy cảm nhận về tập “ Hồn thiền trong thơ Lý- Trần” của Vũ Bình Lục



                                                Vũ Nho



1. Vài năm gần đây, nhà giáo, nhà thơ Vũ Bình Lục chuyên chú vào việc bình thơ. Chỉ từ năm 2010 đến thời điểm này, anh đã cho ra mắt sáu tập  giai phẩm và lời bình. Đều là sách bìa cứng và dày 4, 5 trăm trang. Tập thứ sáu không mang tên như các tập trước mà có tên “Hồn thiền trong thơ Lý- Trần” kèm phụ đề “Tinh tuyển, dịch thơ và bình giải” dày đến 704 trang khổ 14,5 x 20,5.

Bỏ công sức, thời gian và cả tiền bạc nữa để tìm hiểu thơ của tiền nhân và viết cuốn sách độc đáo như thế, quả là một việc đáng ghi nhận và biểu dương, khích lệ. Bởi vì càng ngày, những người biết chữ Hán càng ít, những người có đủ say mê và hiểu biết thơ cổ  càng thưa vắng; tuổi trẻ bây giờ học tiếng Anh để giao tiếp và hội nhập, ít có nhu cầu tiếp xúc với thơ, nhất là thơ cổ lại viết bằng chữ Hán với những điển tích, điển cố có phần xa lạ. Phải có đủ sự kiên tâm, sự say mê và cả đủ sự dũng cảm mới dám chọn và làm công việc này.



2. Trong cuốn sách nhiều tâm huyết của tác giả, như phụ đề có ghi : Tinh tuyển, dịch thơ và bình giải, chúng tôi đánh giá cao công sức của tác giả ở hai phần sau.

Nói về việc tinh tuyển, không phải là Vũ Bình Lục không có đóng góp.  Thành tựu nghiên cứu về thơ Lí -Trần của nước ta có một bước phát triển mới. Nếu so với các bài thơ thời Lí- Trần được truyển trong “ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ X- thế kỉ XVII” nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1962 thì quả thật số bài thơ được tuyển trong sách của Vũ Bình Lục đã vượt khá xa. Tuy nhiên, tác giả cũng đã thừa hưởng thành quả của các cuốn sách “Thơ Văn Lí –Trần”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978 và “ Tuyển dịch thơ đời Lý- Trần” của Đinh Văn Chấp, NXB Lao Động, 2010.  Mặc dù trong quá trình tuyển chọn, tác giả đã đối chiếu, bổ khuyết, điều chỉnh một số chú thích sai hoặc không phù hợp. Nhưng nhìn chung, cái công ở đây là có, nhưng không nhiều.

Phần đóng góp quan trọng của Vũ Bình Lục chính là phần dịch thơ và bình giải.

Về dịch thơ, tác giả đã nghiền ngẫm kĩ nguyên tác, thêm nữa, với vốn liếng khá dày của một người làm thơ đã có 8 tập thơ in, đã từng được giải cao trong cuộc thi thơ của Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, Vũ Bình Lục đã cung cấp nhiều bản dịch khá hay về thơ của tiền nhân. Có một số bài chưa có bản dịch thơ, thì bản dịch của Vũ Bình Lục lại càng quý. Những bài đã được tiền nhân dịch, Vũ Bình Lục cung cấp một cách cảm khác, nhất là cách diễn đạt khác, cho người đọc thấy vẻ lung linh của bài thơ nguyên tác. Thơ Lý-Trần có nhiều bài có vị thiền, nhiều bài “kệ” ý tứ thâm sâu phải có hiểu biết nhất định về đạo Phật mới có thể hiểu được. Rồi từ hiểu mà chuyển thành thơ để người khác cũng hiểu và rung động với người xưa. Việc ấy không phải ai muốn là có thể làm được. Mặt khác, thơ của người xưa cách chúng ta gần một ngàn năm với những điển tích đòi hỏi phải tra cứu công phu mới tránh được hiểu “sai một li đi một dặm”. Như tác giả có bộc bạch : chỉ riêng việc hiểu hai sự vật “áo chiến bào” và “cờ Hán” trong thơ Nguyễn Trung Ngạn, phải mất cả một ngày để săm soi tài liệu. Bên cạnh đó chắc chắn không tránh khỏi khó khăn là rào cản ngôn ngữ. Thơ viết bằng chữ Hán. Trình độ chữ Hán của tác giả chỉ ở mức của người tự học. Dù có thông minh và cần cù đến mấy, chắc cũng khó mà đủ để hiểu những chữ nghĩa sâu xa của các nhà thơ vốn là đại trí thức hoặc đại khoa của hai triều đại. ( Chúng tôi sẽ chỉ ra những bất cập này trong phần sau).

Nhìn một cách tổng thể, những bản dịch thơ của Vũ Bình Lục về cơ bản là thành công. Nhiều bài thơ chữ Hán, sau khi dịch nghĩa vẫn có cảm giác khó hiểu, nhưng Vũ Bình Lục đã chuyển sang bản dịch thơ một cách tinh tế, dễ hiểu và dễ cảm. Một số bản dịch đạt chất lượng cao theo tiêu chuẩn tín, đạt, nhã.

Phần đóng góp  nhiều nhất theo cách đánh giá của  chúng tôi là phần bình giải của tác giả tập sách.

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

NGƯỠNG CỬA







Chùm thơ Thiếu nhi, kể chuyện bếp núc của VŨ XUÂN QUẢN



NGƯỠNG CỬA

Ngưỡng cửa nhà cháu hơi cao

Bước qua mà vội ngã nhào như chơi



Ngưỡng cửa bà vẫn hay ngồi

Dạy Linh vo gạo rửa nồi nấu cơm



Nhặt rau phải lấy dao con

Lá sâu loại hết chỉ còn lá tươi



Cua đồng nấu với mồng tơi

Với bát cà muối khối người thích ăn



Làm ruốc phải chọn thịt thăn

Thịt rang phải ướp nhiều hành mới thơm



Rô gion mà rán thật giòn

Nhai kêu rau ráu cả con một lần



Mè nướng om với rau cần

Để ông nhắm rượu xương phần cún con



Muốn nấu một bữa cơm ngon

Phải lo mọi thứ tinh tươm đã nào



Nấu ăn bà giỏi thế sao

Đứng trên ngưỡng cửa Linh cao hơn bà…



 RƠ M VÀNG



Rút rơm vào bếp nấu cơm

Bà ôm đẫy cả hương thơm quê nhà

Rơm vàng nấu nước pha trà

Ông cười nghi ngút khói nhoà trên tay!



MÀU GÌ?



Rau xanh bà luộc xanh hơn

Tôm cua bà luộc màu phơn phớt hồng



Rau dền chưa luộc nước trong

Luộc xong rau chín nước trông đỏ lừ



Xu hào bà luộc vô tư

Luộc hay chưa luộc nước như ban đầu



Sông Đà bà luộc được đâu

Lũ về nước biến thành màu phù sa



Lá xanh khi ngả về già

Bà đâu có luộc vẫn pha màu vàng



Mây trời trắng nõn lang thang

Cơn mưa ập đến chuyển sang đen sì



Câu này mới khó cực kì

Thời gian mà luộc màu gì bà ơi?

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

CÁI TẨU THUỐC



                                              




        CÁI TẨU THUỐC

                                                                                                      Giang Ngạn

                                                                                                  Vũ Công Hoan dịch

          Tôi đến sở an dưỡng sĩ quan Hồng quân, phỏng vấn lấy tài liệu, gặp hỏi lão anh hùng Tôn Chí Đông. Từ đáy lòng tôi tỏ lời kính chào lão, nhưng lão xua xua tay, cúi đầu hút thuốc, nói một cách hàm hồ:
-         Lão không phải anh hùng, lão là tội nhân. Lão đáng chết từ lâu rồi mới phải.

          Tôi hết sức ngạc nhiên, không biết nói gì hơn, nhìn vào cái tẩu thuốc lào lão đang ngậm. Cái nõ điếu kim loại to bằng cái ly nhỏ bị khói lửa hun đen lâu ngày, đã không còn nguyên sắc, chiếc cán tẩu bằng tre màu đỏ tím sáng bóng, xem ra giống như một thứ văn vật,khai quật lên từ đất.
         
          Lâu lắm lão anh hùng mới ngẩng đầu nhìn tôi nói:
          - Chuyện này không nói ra, lão chết không nhắm mắt. Lão gia nhập Hồng quân không bao lâu,thì bị quân đội của Quốc dân đảng tấn công. Quân ta kiên trì dánh du kích, quần nhau với kẻ thù. Trong một đêm, chúng tôi đóng quân ở một làng có tên là Hoàng Nê Loan. Tiểu đội chúng tôi có bảy người dưới sự chỉ huy của tiểu đội trưởngLưu Đại Rỗ ở trong một nhà Lô cốt. Lưu Đại Rỗ là người Ma thành tỉnh Hồ Bắc, trước kia làm thợ rèn, hồng quân thường xuyên tìm anh rèn giáo mác, rất thân quen. Anh cũng gia nhập Hồng quân. Con người này cái gì cũng hay, chỉ tội nóng tính, hôi mồm, hễ chọc tức là anh chửi bậy. Chiến sĩ trong tiểu đội lại đều không sợ anh, ăn ở cư xử với nhau đều rất tử tế thân thiện. Anh nghiện thuốc nặng, ngoài cây súng trên vai, thì cái tẩu thuốc giắt bên hông lúc nào cũng gắn bó với anh như hình với bóng. Có lúc hành quân đánh giặc không có lá thuốc, anh đã vò vụn lá cây để hút.Không những để mình anh hút, anh còn cho chúng tôi hút Anh nào không hút anh chửi người ấy, gõ tẩu thuốc vào đầu.Anh bảo thế mà cũng đòi làm đàn ông cho uổng phí, giống như bọn đàn bà con gái. Cậu xem mình ngậm tẩu thuốc, cứ ngỡ mình hút thuốc phải không? Thật ra không phải, mình hút lá cây đấy. Thôi nhé, tán xa quá rồi.
         
          Hôm sau trời tờ mờ sáng, bộ đội tập hợp, phải di chuyển ngay. Người chủ nhà kéo tiểu đội trưởng ra khỏi hàng quân không cho đi. Thì ra giữa nửa đêm hôm qua có kẻ đã cưỡng hiếp con gái quí của ông.
       
        Ghê gớm thật. Hồng quân là đội quân của bà con, làm như thế chẳng khác gì loài chó.
        Đại đội trưởng vung khẩu pạc- họoc, chỉ vào đầu tiểu đội trưởng mắng:
- Lưu Đại Rỗ, hạn trong mười phút anh phải lôi cổ tên khốn nạn ra đây.!
          Tiểu đội trưởng gọi sáu anh em chúng tôi ra một bên. Lấy tẩu thuốc anh gõ vào đầu từng người, mắng xơi xơi, thằng nào làm việc này, biết điều thì đứng lên!
         
          Anh nào cũng hoảng hốt và căng thẳng, mọi người nhìn nhau im lặng.

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Phơ phất giữa trời đầy hoa




Lạ thế, cái nhà bác Vũ Nho này lại sinh cùng ngày, tháng, năm âm lịch với mình. Tặng bác bài thơ ghi dấu một sự trùng hợp. Tặng người viết bài phê bình thơ BKA đầu tiên, khi ấy chưa quen biết nhau, khi ấy chưa ai biết tôi. Em gái - vợ bác Nho ghen chút, hay tự hào chút về chồng đi


PHƠ PHẤT GIỮA TRỜI ĐẦY HOA
tình cờ gió lạc một phương
tình cờ lạc nẻo văn chương gặp người

hay đâu khi khóc chào đời
hay đâu người lại cùng lời với ta

chẳng tri kỷ cũng mặn mà
chẳng hay gặp gỡ cũng là tri âm

buộc câu thơ để thêm gần
buộc gió để xích bước chân ta mình

mặc dở hay kiếp sinh linh
mặc trắng đen thói nhân tình đảo điên

bỏ đi đông với ưu phiền
bỏ đi lạnh với nỗi niềm lẻ loi

gửi cho xuân gửi cho người
câu thơ phơ phất giữa trời đầy hoa




Chép lại từ FB của Vũ Nho


Top of Form
Phan Thị Thanh Nhàn Đẹp đôi- Vì trông VN vẫn..già hơn KAnh đó nha!
Vu Nho Với Việt Đức, The Ha Van và P.T. Thanh Nhàn : Người đeo kính, người thì không/ Trông như một cặp vợ chồng...he he/ Lại còn cười nụ, cười xòe/ Ảnh hai vị "chuột" đáng khoe FB ( ép -bờ)
Việt Đức Cánh tay phải bá vào vai.Thì trông với giống là hai vợ chồng.
Vu Nho Với Việt Đức: Không phải là cặp vợ chồng/ Cho nên tay ấy mới không bá vào!
Bottom of Form