NGUYỄN THỊ MAI giới thiệu

Chuyện bây giờ mới kể - Một bài thơ nhắc nhở muôn đời
Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Cuộc kháng chiến Chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta dành thắng lợi vẻ vang và đã lùi xa nửa thế kỷ. Nhưng Tổ Quốc và nhân dân vẫn mãi mãi biết ơn gần1 triệu liệt sĩ đã hy sinh dành độc lập tự do cho non sông đất Việt hôm nay. Vì thế, trong những ngày này, trời như nắng thiêu lửa đốt trên khắp mọi miền, Đảng và Nhà nước vẫn chỉ đạo cấp tập “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ". Đây là chiến dịch tri ân lớn chưa từng có, là mệnh lệnh trái tim trong hành trình đi tìm đồng đội, đưa các liệt sĩ trở về với gia đình. Đã có hàng trăm ngàn liệt sĩ được tìm thấy. Dù biết tên hoặc chưa biết tên thì nắm xương của họ cũng được đón rước trân trọng với nghi lễ uy nghiêm tôn kính. Nhưng còn biết bao người ngã xuống kiên cường và bất khuất, đẹp như những tượng đài kỳ vĩ trong hoàn cảnh đặc biệt bi thương nhưng không thể nào và không bao giờ tìm được xương cốt họ. Ấy là trường hợp các cô gái bộ đội và TNXP trong bài thơ “Chuyện bây giờ mới kể” của nhà thơ Nguyễn Khoái:
Đến bờ sông[i][1] cởi quần áo đội đầu
Để khô ráo khi vào vùng tranh chấp
Gạo cạn kiệt, lính đói quay, đói quắt
Sau Mậu Thân, kho bãi trống trơn rồi
Các em chỉ tầm mười tám, đôi mươi
Nhưng đã dạn dày với con đường lầy lội
Cứ lặng lẽ, trườn qua sông rất vội
Ở hai đầu, đồn địch bắn cầm canh
Lần ấy các em không về
những cái chết thật thương tâm
Giặc phục kích ở hai đầu trận địa
Đạn sối sả dọc sông, pháo sáng dù từ bốn phía
Bao gạo ngoắc vai, xác nổi lập lờ
Có em trôi đi, em nằm lại trên bờ
Giặc hốt hoảng với đội quân kỳ lạ
Không quần áo trên người, gạo trộn vào máu ứa
Các em nằm, mắt vẫn mở hồn nhiên
Dưới đáy sông, hóa thành mộ không tên
Cũng chưa có sách báo nào kể lại
Rằng: Có những đội quân tóc thề con gái
Đi nghiêng đêm, chuyển sự sống lên rừng
Các em ơi! Mãi trinh trắng chưa chồng
Tan về đất các em thành TIÊN NỮ
Dòng sông cứ trôi, thời gian bụi phủ
Ai đưa các em làm sáng khúc sông này . . .
Đây là câu chuyện có thật xảy ra vào khoảng tháng bảy năm Mậu Thân 1968 mà tác giả Nguyễn Khoái bấy giờ ở Đơn vị E 9, Quân khu Trị Thiên Huế (do nguyên Thượng tướng Lê Khả Phiêu làm Chính ủy) đã trực tiếp tham gia và chứng kiến.
Nhưng câu chuyện có thật ấy đã đi vào thơ, thành thi ca bởi đó là lời kể nhiều hình ảnh xúc động, nhiều cung bậc cảm xúc về sự hy sinh đầy bi tráng, khiến ai đọc cũng thương xót nghẹn ngào. Bạn đọc không thể tưởng tượng nổi tại sao lại có những cái chết tập thể mà ai cũng “Không quần áo trên người, gạo trộn vào máu ứa”, đến nỗi kẻ giết họ phải “hốt hoảng với đội quân kỳ lạ”. Kỳ lạ sao? Kỳ lạ vì họ là những cô gái còn rất trẻ “Tầm mười tám đôi mươi”, họ chết trong lúc không có mảnh vải che thân, chết trong lúc vẫn “Bao gạo ngoắc vai, xác nổi lập lờ” và chết rồi “mắt vẫn mở hồn nhiên”… Chỉ những hình ảnh ám ảnh ấy, tôi tin rằng giặc không chỉ hốt hoảng mà còn kinh hoàng, còn run sợ và bị dày vò tâm can không ăn không ngủ nổi.
Bằng phương pháp kể và tả là chính, tác giả làm sống lại một chuyến vượt sông Bồ (Huế) về miền Hương Trà đi chuyển gạo cho bộ đội trên rừng đang “đói quay đói quắt” của đoàn chiến sĩ thuộc nhiều đơn vị. Nhưng họ đã bị giặc phục kích nên hy sinh quá nhiều, quá thương tâm. Tuy nhiên với tài dùng ngôn ngữ cô đọng hàm xúc, tác giả không tả tỉ mỉ trận phục kích mà chú trọng tập trung vào hình ảnh các nữ chiến sĩ hy sinh bi thương. Nhưng vẫn đủ cho ta hình dung một không gian cuộc chiến vô cùng nguy nan mà các chiến sĩ lúc đó phải quần áo đội đầu băng qua sông để sang bờ có quần áo khô ráo mặc rồi mang gạo đi. Đồng thời thấy rõ sự thật ác nghiệt, bởi những tưởng nơi chiến trường bom đạn chết chóc chỉ dành cho trai tráng, ngờ đâu những cô gái “mười tám đôi mươi” đang đẹp như tiên nữ, đang trinh trắng vô ngần, đang hơ hớ tuổi xuân mà phải chết bi thương thì ai ai cũng nghẹn lòng, tiếc thương vô hạn. Có lẽ kẻ thù cũng bị ám ảnh nặng nề về hành động dã man đã bắn giết họ.
Bài thơ mang giá trị sâu sắc ở chỗ ngoài việc thể hiện lòng biết ơn những đồng đội đã hy sinh cho mình sống sót, tác giả còn tâm sự: “Nếu không kể ra, câu chuyện về những người chiến sĩ hy sinh quả cảm trong cuộc chuyển gạo ấy sẽ tan vào cát bụi, thì mình thêm mắc nợ”.
Vì thế, kết thúc bài thơ, tác giả dùng lời vinh danh thiêng liêng nhưng cũng là lời gọi thiết tha đầy thương xót trong sâu thẳm cõi lòng mình:
Các em ơi! Mãi trinh trắng chưa chồng
Tan về đất các em thành TIÊN NỮ
Đến hôm nay, “Dòng sông cứ trôi, thời gian bụi phủ”, có mấy ai biết được chuyện này? Có mấy ai biết dưới đáy sông Bồ một ngày hè năm Mậu Thân ấy, có bao người con gái trinh nguyên nằm lại, xương cốt họ không bao giờ tìm kiếm được?
Và thêm một điều gửi gắm, làm nên giá trị bài thơ, đó là lời nhắc nhở đời sau ghi nhớ, lời trăn trở lo toan sợ họ bị bỏ quên vì biết “Cũng chưa có sách báo nào kể lại … Ai đưa các em làm sáng khúc sông này . . .?”. Và chúng ta, bổn phận của bạn đọc bài thơ, chúng ta không chỉ thương xót, biết ơn mà còn phải kể lại cho đời sau về một câu chuyện ám ảnh bi thương đã qua rồi dù bây giờ mới kể
Rằng: Có những đội quân tóc thề con gái
Đi nghiêng đêm, chuyển sự sống lên rừng.
Thanh Xuân, ngày 27/06/2026
N.T.M
[1] Sông Bồ ở Huế năm 1968. Tác giả sống sót trong trận lấy gạo ấy ở
Đơn vị E 9, Q khu Trị Thiên Huế

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét