Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

KIỀU TẮM trong con mắt ĐƯỜNG VĂN


KIỀU TẮM

(Khảo tán)
ĐƯỜNG VĂN

1307. Dưới trăng, quyên đã gọi hè,
Đầu tường, lửa lựu lập lòe đâm (đơm) bông.
Buồng the phải buổi thong dong,
Thang lan rủ bức trướng hồng, tẩm hoa.

1311. Rõ màu trong ngọc trắng ngà,
1312. Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.

Sinh càng tỏ nét, càng khen,
1314. Ngụ tình, tay thảo một thiên luật Đường.

Nàng rằng: vâng biết lòng chàng,
1316. Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.
Hay hèn, lẽ cũng nối điêu,
Nỗi quê, nghĩ một hai điều ngang ngang…
Lòng còn gửi áng mây Hàng,
1320. Họa vần, xin hãy chịu chàng hôm nay…

(Trích Tuyện Kiều. Nguyễn Thạch Giang khảo thích;
NXB. ĐH & THCN, 1972; tr.  234 – 235)

Thực ra, nếu trích đầy đủ, có đầu có cuối đoạn Nguyễn Du tả cảnh Kiều tắm ở lầu xanh Tú Bà, dưới con mắt thưởng lãm của tay khách làng chơi hào phóng, quen thói bốc rời/Trăm nghìn đổ một trận cười, như không! – chàng Thúc Kỳ Tâm (Thúc Sinh viên. Gọi thế cho nhã, chứ Thúc vốn là một gã thương nhân, theo nghiêm đường mở ngôi hàng buôn bán ở Lâm Truy)… thì phải trích như trên. Trong đó, tất nhiên 8 câu đầu là nội dung chủ yếu, đặc biệt tập trung thần bút vào 2 câu 1311 – 1312 mà hễ ai nhắc đến tài tả nuy, tả sex của cụ Tố Như, thì  đều trích dẫn và bình luận về 2 câu này. Điều đó từ lâu, đã là sự thật hiển nhiên!
Nhưng tôi muốn lưu ý các bạn đọc yêu Truyện Kiều, rằng, ngay trong trường đoạn Kiều tắm 14 câu kia, bên cạnh cặp lục bát thi trung hữu họa thần diệu ấy, vẫn còn không ít câu thơ được coi là trác việt, chứng tỏ thiên tài cụ Nguyễn Tiên Điền. Chẳng hạn, ai có thể quên câu thơ triết lý khái quát về một hạng người chỉ sống để làm tiền bởi cái nghề dơ dáy, kinh doanh trên thân xác đàn bà… cũng vì những đồng tiền tanh tưởi: Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê!? Chưa hết ngán ngẩm và ghê tởm thay cái máu tham tiền làm nhờn nhợt màu da ấy của mụ dầu loại số má, thì ngòi bút thơ kỳ tài bỗng thoắt chuyển tả cảnh sang hè.

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

Lang thang cỏ rối


Lang thang cỏ rối

                                                        Nguyễn Xuân Lai

Lang thang cỏ rối ta về
Mùa ăm ắp chở hương quê ngọt lành
Con đường như sợi chỉ xanh
Khâu đồng nàng với đồng anh một thời
Buổi ngày còn chút nắng nôi
Để không quên giọt mồ hôi trên đồng
Ao chùa nước có còn trong
Em hoa súng có phải lòng hoa sen
Cớ gì lạ cũng thành quen
Người quê tối lửa tắt đèn, rất quê
Lang thang cỏ rối ta về
Trăng khuya thao thức giãi dề gió sương.



Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

TẾT XƯA

                                                                             Vũ Nho chủ trang

Viết và in báo đến hơn 500 bài cả báo ta và báo Nga, nhưng báo TẾT thì hầu như là không. Năm nảo năm nao phỏng vấn chị Lady Boton cũng chỉ in số Xuân của Tiền Phong Chủ Nhật. Năm ngoái, Người Hà Nội cho in bài "Nguyễn Hoàng Sơn và những cái chai thơ", nhưng mãi sau TẾT mới biết được tin vui. Năm nay thì chủ động gửi báo TẾT và biết được in khá sớm. Đây là bản gốc mà khi in ở Quân Đội nhân dân cuối tuần có tên ĂN TẾT CÙNG THƠ...




TẾT XƯA
         
                                              Vũ Nho

Trong tâm thức của mỗi người Việt, ngày Tết là một ngày thiêng liêng. Đó là ngày đoàn tụ gia đình, ngày con người trở về với quê hương bản quán, về với họ hàng, tổ tiên. Tết không chỉ là dịp nghỉ ngơi, được vui chơi, mà đó còn là dịp để sum họp, để thăm hỏi, chúc tụng. Với nhà văn Vũ Bằng Tết là phải  về quê. Bởi vì về quê là “ trở về nguồn cội để cảm thông với ông bà, tổ tiên, với anh em họ hàng, với đồng bào thôn xóm” ( Thương nhớ mười hai). Tôi muốn cùng mọi người trở lại Tết xưa qua một số bài thơ chưa xa lắm.

Bắt đầu bằng không khí chuẩn bị cho tết. Hãy cùng nhà thơ Đoàn Văn Cừ đi một phiên chợ tết  nửa đầu thế kỉ XX. Nhà thơ họ Đoàn  đã ghi sâu vào trí nhớ nhà phê bình Hoài Thanh đến mức “ Cái tên Đoàn Văn Cừ trong trí tôi đã lẫn với màu bánh chưng, mùi thuốc pháo, vị mứt gừng” ( Thi nhân Việt Nam). Cũng chỉ vì  Đoàn Văn Cừ đã vẽ bức tranh thơ Chợ tết “đầy rẫy sự sống và rộn rịp những hình sắc tươi vui”. Đây là cảnh đi chợ:
          Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon
          Vài cụ già chống gậy bước lom khom
          Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ
          Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ
          Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu
Đây là cảnh bán mua:

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

Sergei Esenin trong bản dịch của TẠ PHƯƠNG


Dịch giả Tạ Phương vừa được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam.
Xin chúc mừng Tạ Phương!
vunhonb giới thiệu thơ Sergei Esenin trong bản dịch của anh.


Thơ: Sergei Esenin (1895-1925, Nga)
Chuyển ngữ: Tạ Phương

*  *  *

Biển Bosphor anh chưa từng đến,
Đừng hỏi anh nhiều về nơi đó, ơi em.
Trong mắt em nhìn anh đã thấy
Biển - mơ màng cháy ngọn lửa màu lam.

 
Lễ hội Baghdad anh chưa dự cùng em,
Chưa chở lụa, màu hoàng điều đến đó.
Nào, hãy ngả vào anh vóc dáng yêu kiều,
Cho anh thỏa ước ao mong nhớ.

 
Đừng, anh xin, đừng bao giờ nhé,
Hỏi về điều chẳng đáng bận lòng em:
Trên đất Nga - phương trời xa xôi ấy
Anh là nhà thơ nổi tiếng khắp miền.

 
Trong hồn anh tiếng đàn gió vang ngân,
Dưới trăng sáng anh vẳng nghe tiếng chó.
Có lẽ nào em, cô gái Ba Tư,
Không muốn đến thăm miền xa xanh đó?

 
Không phải nỗi buồn đưa anh đến đây –
Mà vì tiếng lặng thầm em gọi đấy.
Và đôi tay em, tựa đôi cánh thiên nga,
Đã ấp ủ anh dịu êm biết mấy…

 
Từ lâu anh vốn khát thèm yên tĩnh,
Dù quãng đời qua anh chẳng rủa nguyền.
Hãy kể anh nghe chút gì về đất nước
Rất thanh bình và tươi đẹp của em!

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

HAI QUẢ HỒNG với lời bình của VŨ NHO

Vũ Nho chủ trang

HAI QUẢ HỒNG
   
Hai tay cầm hai quả hồng
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai
Đêm nằm vuốt bụng thở dài
Thương chồng thì ít, thương trai thì nhiều
Lời bình của Vũ Nho

NGƯỜI GÌ MÀ QUÁI LẠ NHƯ VẬY? CA DAO ĐÃ TỪNG NÓI ĐẾN CHUYỆN CÓ VẺ LẠ LÙNG: "GIÓ SAO GIÓ MÁT SAU LƯNG. DẠ SAO DẠ NHỚ NGƯỜI DƯNG THẾ NÀY?”. HOẶC QÚA HƠN CHÚT NỮA: "LẤY CHỒNG CHẲNG BIẾT MẶT CHỒNG. ĐÊM NẰM TƠ TƯỞNG NGHĨ ÔNG LÁNG GIỀNG”.
Nhưng người đời rồi cũng chấp nhận. Còn người đàn bà này cư xử với chồng như thế thì không thể nào…thương được. Rành rành đây là cách ăn ở của một người và cũng là một loại người thiếu chính chuyên được đem ra chê bai, giễu cợt, làm gương cho khách hồng quần. Bao nhiêu năm nay, người viết vẫn yên tâm với cách hiểu như vậy. Nhưng gần đây ngẫm lại, chợt nhận thấy có lẽ hình như mình khắt khe và thiếu công bằng.
Người con gái này không yêu chồng, hoặc yêu chồng ít hơn yêu trai thì đã hẳn. Nhưng chúng ta đừng vội đem ngay luân lí đạo đức ra mà kết án cô, tội nghiệp. Trên đời này, người phụ nữ nào lại không muốn yêu thương chồng con. Nhưng chẳng may lấy phải người chồng mình chẳng bao giờ yêu mến thì làm sao mà yêu cho được? Cái thời của những câu ca dao là cái thời cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy thì những chuyện trái duyên không phải là hiếm hoi. Có bao nhiêu cảnh cọc cạch chồng thấp vợ cao. Như đôi đũa lệch  so sao cho bằng. Có bao nhiêu trường hợp chồng chỉ là một "ông lão móm” cô gái lấy cho qua lần thì thôi. Hay đây nữa một anh chồng:
        Chồng em vừa xấu vừa đen
Vừa kém con mắt vừa hèn chân đi

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

TRỰC CẢM VỀ THƠ GS.TS ĐÀM ĐỨC VƯỢNG


TRỰC CẢM VỀ THƠ GS.TS ĐÀM ĐỨC VƯỢNG
                                                          
                                            PHỤNG HOÀNG DUNG
         
          Nhìn vào tổng thể sự nghiệp thơ, GS.TS. ĐÀM ĐỨC VƯỢNG là một nhà thơ không chuyên; và hôm nay, ông cũng là một trong các hội viên của THI ĐÀN VIỆT NAM, như phần lớn các nhà thơ không chuyên đang có mặt tại HỘI XUÂN THI CA này.
Về số lượng, thơ GS. Đàm Đức Vượng vào loại “KHỦNG”, tính ra có đến hơn 200 bài, có bài 4 câu, 8 câu, 12 câu,…, nhưng có bài dài tới mấy trăm câu, phần lớn viết theo thể tự do, thường lấy chất liệu từ những sử tích, những huyền thoại, những triết lý và cảm xúc từ cuộc sống nhân sinh, từ phi thường, khác thường, tới bình thường,…, và không phải khi nào nhà thơ cũng kịp có thời giờ tinh lọc, nhưng tựu trung lại ở một số bài, thì thơ ông gây kinh ngạc!

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

ĐẸP RIÊNG MỘT VẺ

Vũ Nho chủ trang

ĐẸP RIÊNG MỘT VẺ

Mùa Xuân em đi chợ Hạ
Mua cá Thu về chợ hãy còn Đông
Ai nói với anh rằng em đã có chồng
Bực mình em đổ cá xuống sông, em về

Lời bình của Vũ Nho
Việc xác định chủ thể phát ngôn trong các bài ca dao không đơn giản, nhưng ở bài này, chúng ta dễ đồng ý với nhau rằng bài ca là lời cô gái. Cô đang nói trực tiếp với đối tượng của mình về câu chuyện đã từng xảy ra vào sớm mùa xuân nơi phiên chợ Hạ. Là lời kể, xen với hỏi và thuật chuyện một cách tự nhiên như vốn có trong giao tiếp hàng ngày, ấy thế mà lại thành thơ ca, thành ra một bài lục bát biến thể khá tài hoa và độc đáo.
Nhà thơ Nguyễn Huy Dung có lần phát hiện nét đẹp bất ngờ của ngôn ngữ dân gian : nói thường mà thành ra nói lối, cứ như xuất khẩu thành chương.
Sớm mai đi chợ Mai
Ngỡ là câu nói lối
(Chợ Mai)
Đọc bài ca dao này ta không khỏi mỉm cười thú vị vì lẽ bất ngờ mà có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông trong hai câu lục bát. Nếu là tự nhiên thì cô gái ăn nói quá duyên. Nếu là sắp đặt thì sự săp đặt tuyệt vời đến mức "siêu" sắp đặt. Mùa Hạ được gợi bởi tên làng (cũng là tên chợ) chúng ta có tập quán gọi tên làng theo vị trí trên dưới (Thượng, Hạ). Theo phương hướng (Đoài, Đông) "Chiềng làng chiềng chạ, Thượng, Hạ, Tây, Đông" (Chèo Quan Âm Thị Kính). "Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông" (Tương tư - Nguyễn Bính). Cái tên chợ Hạ quá ư phổ biến. Đi chợ quê, mua cá thu (gợi mùa thu) cũng là chuyện tự nhiên. Sự đông đúc của chợ búa lại làm nhớ đến tên mùa đông. Hiện tượng đồng âm được sử dụng tới ba lần để gợi ba mùa còn lại. Như vậy là có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông theo đúng thứ tự vần xoay của tạo hóa. Nhưng giá như có sự xếp đặt, thì sự xếp đặt cũng chẳng có bao nhiêu ý nghĩa nếu mùa Xuân, cá Thu và chợ Đông không liên quan tự nhiên và mật thiết với tính cách và phẩm hạnh của cô gái.

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

MÀU XANH ĐÂU?


MÀU XANH ĐÂU?
      Trần Trung

Ta
Độc bộ
Ngơ ngác
Lộ trình dài...
Hạnh phúc nơi nao?
   ***
Ta ghé Hoa-Trinh-Nữ
Bên đường
Loài Hoa dại dễ thương
Mà hỏi
Mà soi tìm
khắc khoải
-Hoa ơi!
sao Em mãi khép mở
Tình hoài?
Hoa-Trinh-Nữ hồi âm
Bằng lặng im-cánh khép.

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

Ba nén hương

Nhà giáo nhà văn Hoàng Dân

Ba nén hương
                                                                                 Hoàng Cát

Nén hương này, con thắp giỗ mẹ
Bom ập đến, mẹ lìa cõi thế
Nén hương này, anh thắp giỗ em
Em ở lại miền Nam, không có mộ để tìm
Nén hương này, tôi thắp giỗ chân tôi
Chiến tranh cướp đi hai chục năm rồi
Ba nén hương, một mình tôi làm giỗ
Giỗ chính mình, giỗ mẹ, giỗ em tôi

Lời bình Hoàng Dân
Người thương binh trong bài thơ “Ba nén hương” không đứng nhìn người khác thắp hương làm giỗ những người đã khuất mà là trực tiếp thắp hương làm giỗ 3 đối tượng: một là người mẹ bị bom giặc sát hại, hai là em trai hi sinh ở chiến trường không có mộ để tìm hài cốt và ba là cái chân đã mất trong chiến tranh của chính mình. Ba đối tượng được thắp hương làm giỗ gồm hai người ruột thịt và một phần cơ thể của người thắp hương. Tứ thơ lạ là ở nén hương thứ ba này.

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

THƠ CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH

                                                                 Vũ Nho đọc bài viết
THƠ CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH
          Đọc hai tập thơ Hương đấtQuê hương của Nguyễn Hồng Minh, nhà xuất bản Hội nhà văn, 2015

                                                      Vũ Nho
Anh Nguyễn Hồng Minh là một người lính. Nhập ngũ năm 1970 và đã từng tham gia chiến đấu ở  mặt trận B2. Đó là những năm chiến tranh  vô cùng gian khổ, ác liệt để rồi sau đó cả đất nước đi đến thắng lợi của mùa xuân 1975 lịch sử. Người lính có năng khiếu thơ văn ấy đã trải qua những ngày tháng gian lao, đã hoàn thành nhiệm vụ của một người  chiến sĩ. Anh trở về hậu phương với tâm sự thanh thản như người bình thường : “ Như anh nông dân/ Cày ruộng màu/ Đường thẳng/ Như chị bán hàng/ Vui vẻ buổi chợ đông/ Anh công nhân/ tay siết chặt bu lông” ( Dấu hỏi). Tuy vậy ý thức công dân của một người lính rất cao. Dù đã có cống hiến ở chiến trường, nhưng anh vẫn băn khoăn, trăn trở với một câu hỏi : “ Ta đã làm gì ? Cho gia đình, bạn bè/ Cho cuộc đời này/ Trước lúc ra đi” ( Dấu hỏi).  Rồi người lính ấy đã giở lại những trang nhật kí chiến trường, giở lại những kỉ niệm xưa, với bạn bè, với đồng đội, với người thân. Và anh tìm đến thơ ca để ghi lại tâm sự của mình. Điều quan trọng nhất là để anh bày  tỏ tiếng lòng tri ân. Tri ân quê hương, tri ân người thân, gia đình, bạn bè. Và tri ân đồng đội. Bởi thế mà hai chủ đề lớn nhất, sâu đậm nhất trong thơ anh là người lính và quê hương với những người thân.