Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

"CON LÀ CÁNH BUỒM CHA GỬI ĐẾN MAI SAU"

 

"CON LÀ CÁNH BUỒM CHA GỬI ĐẾN MAI SAU"

(Giới thiệu Tình cha con - Tuyển và bình thơ của Nguyễn Thị Thiện)

                                        TS. NGUYỄN XUÂN LẠC

ba_tnh_cha_con

1 - Cái tên Nguyễn Thị Thiện - vốn là cô giáo dạy văn Xứ Đoài, Phó hiệu trưởng trường THPT Thạch Thất, Hà Nội - đã thành quen thuộc với độc giả qua những bài bình thơ xinh xắn, ngọt ngào trên các báo và càng được chú ý hơn qua năm tập bình thơ của chị (1).

Năm tập bình thơ được viết gần như liên tục trong ba năm 2018, 2019, 2020 và đều là những tập bình thơ khá đầy đặn. Một sức viết thật đáng nể, nhất là ở một người phụ nữ đã lên chức "bà" như chị. Nếu không yêu đời, yêu người, yêu thơ nồng nàn, say đắm, quyết không thể viết được như thế. Và điều đáng ghi nhận là các tập bình thơ này đều có độc giả, nhiều nhất là giáo viên, học sinh phổ thông và sinh viên các trường đại học. Lần này chị lại có tập bình thơ thứ sáu: TÌNH CHA CON – Tuyển và bình thơ. Lý do nào khiến chị viết tiếp tập bình thơ này? Chị tâm sự: Một lần con trai chị thắc mắc: “Sao mẹ chỉ viết nhiều về Người Mẹ mà không viết về Người Cha? Như thế là không công bằng”. Chị suy nghĩ về điều này và thấy con chị nói đúng. Được bạn bè đồng nghiệp khích lệ, chị viết tập bình thơ nữa để bù đắp khoảng trống này. Và thế là trên tay bạn đọc đã có thêm tập bình thơ TÌNH CHA CON - một tập bình thơ rất đáng được ghi nhận khi thơ viết về người cha còn chưa nhiều trên thi đàn và những bài bình thơ về tình cha cũng còn hiếm gặp.

Thứ Hai, 10 tháng 5, 2021

BÃO ĐỎ

 


BÃO ĐỎ

 

                                        Truyện ngắn của Thế Đức

 

 

Nguyễn Nhạc chiếm được Gia Định rồi thì sai Long nhương tướng quân Nguyễn Huệ kéo quân xuống bình định tiếp phía Nam.

Thời ấy, vùng đất này, dân cư còn thưa thớt, cây cối mọc như rừng, muông thú tự do sinh sống, nhiều vô kể.

Một con sông lớn chảy từ vùng thượng nguồn đổ về. Khi mùa nước hung dữ đã vơi dần, dòng sông lại trở nên hiền hòa, ngày đêm miệt mài trôi về miền vô tận.

Nguyễn Ánh liên tiếp bại trận, phải lẩn trốn, chui lủi khắp đó đây. Lắm lúc lương thực cạn kiệt, chúa tôi phải đào cả củ rừng để ăn mà sống qua ngày, sau đó, lại dạt ra tận đảo Phú Quốc mới yên thân được.

 

* * *

Nguyễn Nhạc thấy tình hình đã yên ổn, cứ thúc ép Nguyễn Huệ rút quân về đại bản doanh để dễ bề kiểm soát. Đêm trước ngày Nguyễn Huệ đưa đại quân trở về, ông cùng người thuộc cấp thân tín đi thị sát trên dòng sông ấy. Hai người giong thuyền dưới đêm trăng. Cánh buồm đang no gió, căng phồng, bỗng Nguyễn Huệ ra lệnh:

- Cho thuyền đi chậm lại!

- Thưa Tướng quân, có chuyện gì vậy? Người thuộc cấp ngạc nhiên, hỏi.

- Ta đồ rằng, sắp tới sẽ diễn ra trận đánh rất ác liệt. Đây là dịp thật hiếm có, ta muốn được ngắm nhìn dòng sông yên bình đầy ắp ánh trăng như thế này.

- Dạ thưa! Tướng quân là người của trận mạc, dễ tưởng máu lửa đã nhuộm thẫm từng bước chân người rồi mà phần đời vẫn còn đẹp như trong mộng vậy!

- Ông nói thế là quá lời với ta rồi. Dù thế nào thì ta vẫn là một con người, chứ đâu phải quỷ thần, ma dữ, chỉ biết có mùi hôi tanh của máu!

Người thuộc cấp nghe Nguyễn Huệ nói thế, cảm như mình vừa nói điều phạm với chủ tướng, vội quỳ xuống:

- Tiểu nhân không dám nghĩ như vậy! Xin tướng quân tha tội!

Nguyễn Huệ cười hiền, đỡ người thuộc cấp dậy, rồi nói:

- Không sao! Là ta cũng chỉ nói vậy thôi chứ nào có trách cứ gì ông! Ta hiểu ý tốt câu nói của ông mà!

Sóng vỗ mạn thuyền ràn rạt. Nguyễn Huệ đứng phía trước, tay đặt trên đốc kiếm nhìn về phía xa xa. Đêm khuya, cảnh trăng như vẽ. Gió lồng lộng thổi khiến chiếc áo choàng của vị tướng trẻ bay phần phật. Người thuộc cấp vừa cầm lái con thuyền, vừa chăm chú dõi theo. Nom Nguyễn Huệ quả là uy nghi, hệt như vị thủy thần đang cưỡi trên mình con sóng bạc thật lớn.

Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2021

MIỆT MÀI CHẢY MÃI THÁNG NĂM TRÔI

 


Miệt mài chảy mãi tháng năm trôi

 TS. BÙI NHƯ HẢI

Text Box:   Nhà thơ Nguyễn Văn Trình hiện là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Nguyễn Văn Trình sinh ngày 04 tháng 01 năm 1960, tại Lạng Phước, Đông Lễ, Đông Hà, Quảng Trị. Từ năm 1980 đến 1983, Nguyễn Văn Trình gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam và tham gia chiến đấu ở biên giới phía Bắc. Từ năm 1983 đến 1987, Nguyễn Văn Trình học Đại học Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Huế. Sau bốn năm miệt mài học tập, rèn luyện anh đã được tốt nghiệp, rồi về nhận công tác giảng dạy tại trường THPT Bồ Bản, Triệu Phong, Quảng Trị. Sau đó do yêu cầu của ngành, anh đã lần lượt được thuyên chuyển công tác, giảng dạy đến các trường THPT Đông Hà, THPT Lê lợi, THPT Phan Châu Trinh và THPT Chế Lan viên, đến cuối năm 2017 thì nghỉ hưu theo chế độ. Duyên thơ đến với Nguyễn Văn Trình khá sớm, ngay còn là thời học sinh cấp III. Những bài thơ anh viết trong thời học sinh được lưu giữ ở cuốn sổ Lưu bút, nó rất hồn nhiên, tươi vui. Trong thời gian tham gia chiến đấu ở biên giới phía Bắc, Nguyễn Văn Trình vẫn tiếp tục sáng tác thơ, rồi gửi cho các báo, tạp chí và được đăng. Chiều biên cương, Em về bên ấy, Em về cho ai chơi vơi, Chiều An lạc,… là những bài thơ được đăng đầu tay, được các đồng chí, đồng đội đón đọc, khen ngợi và khuyến khích, động viên anh tiếp tục viết thơ để được phổ biến rộng rãi, lan tỏa hơn nữa. Những năm tháng sinh viên, Nguyễn Văn Trình càng có cơ hội hơn để sáng tác thơ, các bài thơ viết ra đa số được in trong các tuyển tập thơ văn Gương mặt thời gian của Trường Đại học Sư phạm Huế và một số báo, tạp chí của Trung ương, địa phương. Sau bao nhiêu năm ấp ủ, tâm huyết, cùng với sự nỗ lực sáng tạo không ngừng nghỉ, Nguyễn Văn Trình đã ra mắt bạn đọc tập thơ đầu tay, có tên là Mây trắng bên trời, do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm 2011. Tập thơ vừa mới trình làng, đã được bạn đọc, đồng nghiệp đón nhận, các nhà phê bình văn học quan tâm, đánh giá khá cao, góp phần nâng thêm đôi cánh để Nguyễn Văn Trình tự tin bước vào làng thơ Việt Nam đương đại. Nguyễn Minh Hoàng trong bài viết Khung trời mây trắng đã có nhận định, đánh giá rất đúng về tác giả, về tập thơ, khi cho rằng: “Tập thơ Mây trắng bên trời gói trọn những cảm xúc của thi sĩ về đời, người, nghề và những niềm sâu ký ức. Đọc những vần thơ của anh ẩn chứa những năm tháng cuộc đời, tôi bắt gặp cái sâu sắc trong cách nhìn, cái tinh tế trong cách cảm, cái đa dạng trong cách thể hiện những tâm tư. Không cầu kì, không làm duyên, từng câu từng chữ bình dị mà sang trọng, gần gũi như chính cuộc đời mà chứa đựng những triết lý sâu xa. Bởi Nguyễn Văn Trình đến với thơ bằng tấm lòng của nhà giáo, bằng tâm hồn đa cảm của một thi nhân, mang trách nhiệm thiên lương của một người dâng hiến. Dâng hiến cho đời cái đẹp của tiêu chí nghệ thuật thơ ca: Chân - Thiện - Mỹ. Thơ Nguyễn Văn Trình là sự dấn thân của một người luôn nặng nợ đa mang, với thơ với đời”.

Lê Đàn trong bài viết Những vầng mây không trôi cũng đã có một nhận định khá sắc nét, lẩy được cái hồn cốt của thơ Nguyễn Văn Trình qua tập thơ: Tập thơ Mây trắng bên trời của thầy giáo - thi sĩ Nguyễn Văn Trình là những vầng mây không trôi. Bởi những bài thơ ấy luôn day dứt và ám ảnh, để lại trong tôi ấn tượng khó phai sau mỗi lần đọc. Và tôi tin những nõn mây trắng làm dịu mát lòng người kia sẽ còn mãi cùng trời xanh mây trắng”. Không phụ lòng sự mong đợi của bạn đọc, anh tiếp tục in tập thơ thứ hai, có tựa đề Nắng chiêm bao, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2019. Tập thơ đã đoạt được giải C về Giải thưởng Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị năm 2019.

Đề tài trong thơ Nguyễn Văn Trình rất đa dạng và phong phú, trong đó đề tài quê hương, đất nước được quan tâm, thể hiện nhiều nhất. Nhìn xuyên suốt trong dòng chảy văn học Việt Nam, tình yêu quê hương, đất nước luôn là một trong những đề tài không bao giờ vơi cạn, nó mang đến nhiều cảm hứng sáng tác hơn cả. Nhưng cách biểu đạt và diễn đạt của mỗi văn nghệ sĩ lại khác nhau. Các bài thơ về quê hương, đất nước được Nguyễn Văn Trình viết khá hay, đầy hấp dẫn, đầy ngọt ngào, êm đềm như tình mẹ, nghĩa cha, nên bạn đọc cũng sẽ cảm thấy giống như một bức tranh phác họa về mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” của mình, gợi nhớ về nơi ta đã một thời sinh ra và lớn lên. Đông Hà, Quảng Trị luôn gắn liền với  cuộc đời của Nguyễn Văn Trình, vì thế nó có sức chứa lớn và nặng, trở thành nguồn cảm hứng dạt dào, không bao giờ vơi cạn. Hình ảnh Đông Hà hiện lên trong thơ Nguyễn Văn Trình dưới nhiều góc độ, nhiều tâm trạng nhưng lúc nào cũng đầy ắp tình người và tình đời. Nguyễn Văn Trình đã vẽ thành phố quê hương Đông Hà với một tâm trạng mến yêu, tươi vui tự hào. Bạn đọc những bài thơ như Hiếu Giang xanh, Phố thương, Đông Hà ngày mới, Thành phố ngã ba sông, Huyền sử một dòng sông, Chiều An Lạc,… mới thấy được một tình yêu đằm sâu, nồng nàn, tinh tế của nhà thơ về quê hương mình. Đông Hà ngày mới là bài thơ hay, được bạn đọc yêu thích. Bởi qua bài thơ, bạn đọc không chỉ cảm nhận được tấm lòng chân thành, đôn hậu, như chính khúc ruột, như chính dòng máu chảy trong trái tim đối với Đông Hà - quê hương của nhà thơ, mà còn thấy được một thời tâm hồn của mình trong đẹp nhất:

Tôi yêu Đông Hà, tự thuở nào thơ dại 

Thành phố muôn đời, ngự trị trong tim 

Từ buổi cấp hai, cấp ba thời còn đi học 

Kỷ niệm nào, lưu dấu tuổi học đường 

 

Hiếu Giang xanh yêu thương biết mấy

Tắm mát tuổi học trò sông Cái sông Con 

Tuổi thơ qua đi dòng sông ở lại

Miệt mài chảy mãi tháng năm trôi

                             (Đông Hà ngày mới)

Bài thơ Phố thương cũng đã để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng khó quên. Vẫn theo cái quy luật tuần hoàn của đất trời vần vũ, mà sao cứ vấn vương, bởi những gam màu khác lạ trong bốn mùa của một một thành phố trẻ Đông Hà. Bức tranh bốn mùa trong thơ ca truyền thống thường thì mùa Thu là mùa của lá vàng bay, mùa Hạ là mùa của những tiếng ve ngân vang, mùa Đông là mùa của những hàng cây trơ cành, trụi lá và mùa Xuân là mùa vạn vật thay áo mới, cây cối đâm chồi, nảy lộc, chen chau đua nở,… Nhưng bốn mùa trong thi phẩm này lại mang dáng nét riêng của một mảnh đất miền Trung. Sắc màu mùa Thu của Đông Hà không bâng khuâng, đượm buồn, nhưng lại kiêu sa, biêng biếc, thao thiết trong những buổi chiều mưa biêng biếc, lạc bước câu thề: 

Một mùa thu nữa kiêu sa

Đông Hà tím chiều mưa buồn biêng biếc

Giọt sáng cuối ngày thao thiết

Chợt nhớ chợt thương lạc bước câu thề

Vạn vật vần vũ, Thu qua Đông đến. Đông Hà vào Đông mưa bụi bay bay, dòng sông Hiếu trong xanh, chất chứa bao kỷ niệm nồng say, đã làm xua tan cái lạnh của mưa phùn, gió bấc, đìu hiu và quạnh buồn đến xốn xang, nào lòng:

Đông Hà vào buổi cuối đông

Có dòng sông Hiếu, xanh trong tháng ngày

Có trời mưa bụi bay bay

Từ trong kỷ niệm nồng say bao điều

Và một mùa Xuân đủ muôn màu sắc thắm, rộn rã, rực rỡ và tràn đầy sức sống tươi trẻ, tinh khôi của một thành phố Đông Hà trăm nhớ, ngàn thương. Không gian mùa Xuân bừng lên trong sắc màu cờ hoa, rộn ràng của người mua, kẻ bán,… Cảnh mùa Xuân đầy quyến rũ, đắm say, với bao cảm xúc thiết tha, đằm thắm. Hình ảnh “đưa người viễn phố du xuân” đã vút lên một niềm tin ngời sáng, một tình yêu gắn kết keo sơn giữa con người và thiên nhiên:

Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2021

NƯỚC NGA TRONG THƠ BÙI MINH TRÍ

 


NƯỚC NGA TRONG THƠ BÙI MINH TRÍ

BÙI THỊ HẠNH - HỘI VIÊN HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI

 

         Nhà giáo- nhà thơ Bùi Minh Trí đã từng học tập và làm việc tại Nga tới hơn tám năm. Ông học giỏi, chinh phục đỉnh cao khoa học môn Toán ứng dụng. Môn toán tưởng chỉ là các con số và định lí khô khan. Thật ngạc nhiên, người cán bộ giảng dạy Đại học Bách Khoa lại có một tâm hồn mềm mại giàu cảm xúc với thơ văn đến vậy! Thơ ông viết về nhiều cung bậc tình cảm với đất nước, con người, gia đình, nghề nghiệp, xã hội ..v.v… Đặc biệt, ông dành tình cảm tha thiết với nước Nga - nơi nâng cánh ước mơ một thời trẻ trai của ông.

*** Trước hết, nhà thơ yêu lắm cảnh vật thiên nhiên nước Nga.

Cảnh nước Nga đi vào thơ ông như một lẽ thường tình. Bàn chân ông đặt đến đâu là ở đó có thơ. Mỗi mùa trở gió ông đều đã qua: Thu-đông-xuân-hè.

Mỗi cảnh đều được nhận xét tinh tế bằng ngôn ngữ thơ.

Mùa đông nước Nga đi vào thơ ông thật sâu đậm. Dòng Neva uốn khúc, hàng cây lả trong gió, trời như tím hơn. Trong giá lạnh, nhà thơ rất tình khi cảm nhận lửa lòng mình và đôi môi chúm chím của em gái Nga. Nghệ thuật nhân hóa “hàng cây nhóm lửa lòng” thật ấm áp trong giá lạnh:

“Dòng sông uốn khúc chiều thanh vắng

Lả lướt hàng cây nhóm lửa lòng

Gió lạnh về bầu trời chợt tím

Đôi môi em chúm chím thơm nồng”

(Nhớ mùa đông Matxcơva)

Nói đến mùa đông không thể không nói đến tuyết ở Nga. Tuyết như bông hoa nhẹ rơi, trắng đến trinh nguyên. Nhìn bông trắng la đà trong gió, với trí tưởng tượng của một tâm hồn trẻ thơ, ông thấy tuyết như sao sa giữa trời:

“Ôi nhớ sao chiều đông nước Nga/ Tuyết đầu mùa nhẹ rơi la đà”/ “Cảnh vật trinh nguyên làn tuyết phủ/ Sao sa lấp lánh giữa từng không”(Bông tuyết đầu mùa).

Và cả thành phố Leningrad choàng trong màu trắng qua phép điệp từ tạo nhịp điệu nhạc tính cho thơ

“Thành phố Lênin trong tuyết phủ

Trắng trời, trắng đất, trắng sân ga”

(Thăm thầy giáo)

Tôi rất thú vị khi đọc bài thơ “Tuyết đầu mùa”. Tuyết sạch sẽ đến tinh khôi, thành phố như “nàng tiên may áo mới”. Đây là nghệ thuật nhân hóa qua trí tưởng tượng của nhà thơ. Cảnh không chỉ là cảnh đơn thuần mà tác giả đã khéo léo gửi gấm cảm xúc đầu đời không bao giờ phai- tuyết trinh nguyên hay chàng trai đa tình nguyên trinh đây?

Thứ Tư, 5 tháng 5, 2021

Có được 7 chữ này, dám chắc cuộc sống của bạn sẽ bớt nhiều phiền muộn

 


Có được 7 chữ này, dám chắc cuộc sống của bạn sẽ bớt nhiều phiền muộn 
 
         NK SƯU TẦM
         Trăng vô sự dõi người vô sự
 
Khắc cốt ghi tâm 4 chữ này, cuộc đời bạn sẽ có được niềm hạnh phúc vô tận.
 
Đời người rốt cục sở hữu thứ gì mới được cho là hạnh phúc? Có người tin rằng nhiều tiền thì ắt sẽ vui vẻ, người lại khẳng định phải tìm thấy tình yêu chân chính mới được coi là viên mãn, cũng có người quan niệm, không bất hạnh đã được tính là hạnh phúc rồi...
 
Kỳ thực, hạnh phúc không phải là những thứ cao xa mà chúng ta vẫn hằng ao ước, khát khao. Thứ gọi là hạnh phúc của nhân sinh có lẽ chỉ gói gọn trong 7 chữ - "Thân không bệnh tật, lòng vô sự".
 
"Thân không bệnh tật" là thứ hạnh phúc thực tế nhất của đời người
 
"Thân không bệnh tật" cũng giống như triết lý "sức khỏe là vốn quý nhất".
 
Một người đương lúc tráng niên, thanh xuân tràn đầy, nhiệt huyết sôi sục đương nhiên sẽ thoải ý "tiêu xài" sức trẻ. Thế nhưng cho đến lúc già đi, cơ thể bắt đầu xuống dốc, họ mới hiểu được rằng hạnh phúc đích thực chỉ gói gọn trong 4 chữ - "thân không bệnh tật".

Nhà thơ La Ẩn thời nhà Đường từng viết: "Đắc tức cao ca thất tức hưu", đời người có lúc thất thế, cũng có lúc gặp thời.

Thứ Hai, 3 tháng 5, 2021

TRẦN ĐĂNG KHOA - LỜI MỞ SÁCH "KHÚC QUÊ"

 

LỜI MỞ SÁCH
TRẦN ĐĂNG KHOA
I.
Quý vị và bạn đọc đang có trên tay tập thơ KHÚC QUÊ của nhà thơ, Phó Giáo sư Tiến sĩ, Nhà giáo Ưu tú Bùi Minh Trí.
Xin chúc mừng ông. Chúc mừng các nhà thơ, các bạn yêu thơ chúng ta đã có được một bầu khí quyển thoáng đãng của thời mở cửa.
Chúng ta đang sống trong thời mở cửa. Có thơ ca của thời mở cửa không?
Có đấy. Đó chính là thơ ca của thời chúng ta đang sống!...
Bây giờ ai làm thơ cũng có thể tự công bố được thơ mình. Không phải chỉ in sách mà còn đưa lên mạng xã hội, có người còn tự dịch hoặc thuê người dịch ra tiếng Anh, in song ngữ, rồi đĩnh đạc bước ra thế giới rộng lớn....
Thời mở cửa cho chúng ta nhiều ơn huệ. Chí ít nó cũng giúp ta hiểu đúng ta, bớt đi những ảo tưởng không cần thiết. Mọi năng lực đều được giải phóng. Không còn sự ngán ngẩm. Như chúng ta đã từng thương thi sĩ Trần Dần:
“Tôi tiếc những chân trời không có người bay
Lại tiếc những người bay không có chân trời...”
Bây giờ nhìn khắp bốn phương, nhìn ngay xuống dưới gót giày mình, cũng đều là “chân trời” cả. Ai có tài bay thì cứ việc bay đến hết tốc lực.
Không ít nhà thơ, nhà phê bình thơ lại kêu về sự xuống cấp thơ. Thơ đang bị “nghiệp dư” hoá. Tôi thấy sự thực cũng chẳng đến nỗi phải bi quan như vậy. Không có thơ nghiệp dư và thơ chuyên nghiệp, cũng như làm gì có thơ địa phương và thơ trung ương. Chỉ có thơ hay và thơ dở. Vậy thôi. Và thơ dở thì ở đâu cũng có, thời nào cũng có. Ngay trong thời THƠ MỚI, thời được coi là hoàng kim của thơ ca, nhà phê bình thiên tài Hoài Thanh còn than thở:
“Tôi đã đọc đến cả vạn bài thơ, trong đó có đến ngót một vạn bài là thơ dở”.
Thơ dở thì thời gian sẽ tự đào thải, dù nhà phê bình có tìm mọi cách quảng bá, hay phù phép tiếp cho nó sức sống bằng những lời “có cánh”, hoặc phun hoả mù là “Thơ hiện đại”, “Thơ kén độc giả”, thậm chí nó còn được bảo trợ bằng những Giải thưởng diêm dúa thì nó cũng chẳng thể nào sống được.
Còn thơ hay, thì dù có bị lườm nguýt, dèm pha, hay ném vào lửa, nó vẫn cứ trường tồn. Thơ ca không bao giờ là cõi riêng hay chốn độc quyền của bất cứ ai. Nó luôn là ngôi đền thiêng không có cửa, hay nói một cách cụ thể như nhà thơ Xuân Diệu:
“Đây là quán tha hồ muôn khách đến
Đây là bình thu hợp ý muôn phương...”
Có người ngay từ những bước đầu tiên đã vào được ngôi đền sang trọng này, rồi trụ lại làm bảng vàng bia đá. Có người chưa tới được cửa đền đã biến mất vô tăm tích. Có người càng đi, càng xa cái đích mà mình cần đến. Làm thơ là một việc khổ ải. Bởi thế có thi sĩ coi nhà thơ như một người lao động khổ sai, hay một anh “phu chữ” cực nhọc.
Vì vậy, ai đến với thơ, chúng ta cũng đều kính trọng. Bởi thi sĩ là hạng người rất đáng được kính trọng...

Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2021

Haiku Đức mùa Corona

Haiku Đức mùa Corona


 1.b._nguyn_vn_hoa

  

Thơ Haiku Đức thời Corona (2021)Của Eckarrd Bannek Chuyển ngữ Nguyễn Văn Hoa ( Tháp Dương – Bắc Ninh )  

1 Như một lời chào người ta đã phát minh ra tiếp xúc khuỷu tay
trong đại dịch
 

1 Als Gruss erfand manDie ellbogenberhrung in der pandemie

2 Người phụ nữ trẻ rất đẹp cũng với khẩu trang mắt sáng lên 

2Is die jung frau sehr schoen auch mit der maskedie augen leuchten

3 Bay múa qua suối chuồn chuồn bất thường vũ điệu màu xanh

3 ueber dem bach tanztdie launische libelleden blaugruen tanz

4Cây rất nhiều hoanhư một cơn bãophá vỡ sự khởi đầu sớm

4der los baum blueteals eingewitterihn brachein zeitiges los

5 Hận thù đã chia cắt thế giới và quốc gia luật dối trá 

CUỘC ĐỜI XA KHUẤT – MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ

 


CUỘC ĐỜI XA KHUẤT – MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ

          (Đọc “Cuộc đời xa khuất” của Lê Hoài Nam, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2021)

                                                Vũ Nho

Những năm gần đây, nhiều nhà văn có xu hướng viết về đề tài Lịch sử. Theo nhà văn Bùi Thanh Minh, một  trong các vị  Ban sơ khảo cuộc thi tiểu thuyết  lần thứ năm của Hội nhà văn Việt Nam (2016 -2019), thì có tới 16 cuốn tiểu thuyết dự thi liên quan đến Lịch Sử. Nhà văn Lê Hoài Nam cũng đã từng viết “Mĩ nhân nơi đồng cỏ” về nhân vật Nguyễn Thị Anh thời Hậu Lê. Bây giờ là tiểu thuyết “Cuộc đời xa khuất” viết về vua Tự Đức và triều đại của ông.

Vua Tự Đức là một vị vua đáng viết bởi nhiều lẽ.Riêng 53 cái nhất của các vị vua chúa Phong Kiến Việt Nam, thì một mình Tự Đức “chiếm” bốn.Một là hiếu thảo nhất. Hai là làm nhiều thơ văn nhất 4000 bài chữ Hán và 100 bài chữ Nôm. Ba là có nhiều vợ và cung tần (hơn 100 bà) mà không có bất kì một mụn con nào. Bốn là một trong các triều đại ban lệnh kị húy nhiều nhất (47 chữ). Chưa kể đó là triều đại kéo dài 36 năm,  một trong những triều đại dài thuộc loại nhất. Thêm nữa chính thời kì Tự Đức trị vì, toàn bộ nước ta đã dần dần rơi vào tay thực dân Pháp. Thêm nữa thời ông làm vua, có nhiều kế sách của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch và nhiều nhà canh tân khác khuyên canh tân đất nước.Rồi Vua Tự Đức là người diệt đạo Gia tô dữ dội nhất. Rồi chuyện xây Vạn Niên Cơ, sau đổi thành Khiêm Lăng cũng tốn kém và bị phản ứng dữ dội với  khởi nghĩa của Đoàn Hữu Trưng thường gọi là “loạn chày vôi”,…

          Việc lựa chọn của Lê Hoài Nam là một lựa chọn sáng suốt và thông minh. Bởi những bài học về canh tân, đổi mới, nghiêm trị quan lại  và những việc khác của ông vua này vẫn đáng để cho  đời nay suy ngẫm.

Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2021

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN NGUYỄN HUY THIỆP - Nhật Tuấn

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN NGUYỄN HUY THIỆP - Nhật Tuấn

Nguồn:
http://nguyendongon.blogspot.com/2012/06/chan-dung-hay-chan-tuong-nha-van-ky-7-8.html

Nhà văn Nhật Tuấn tên thật là Bùi Nhật Tuấn. Ông sinh năm 1942 tại Hà Nội, sống và gầy dựng sự nghiệp viết văn ở đó suốt cho đến khi chuyển vào sống tại TP.HCM vài năm sau 1975.
Nhật Tuấn chăm viết, viết đều, nhiều tác phẩm của ông cả truyện ngắn và tiểu thuyết gây được tiếng vang trong lòng người đọc:
Con chim biết chọn hạt (1981), Lửa lạnh (1987), Đi về nơi hoang dã (1988), Những mảnh tình đã vỡ (1990), Một cái chết thong thả (1995)...
Cái tài, cái duyên văn của Nhật Tuấn khi tuổi còn trẻ hay đã ở độ xế chiều vẫn là dồn hết cho thể loại truyện ngắn. Nhiều người đồng tình với nhận định: Nhật Tuấn là một tài năng trong lĩnh vực truyện ngắn, cả ngày xưa lẫn bây giờ. Văn của ông duyên dáng về cách sử dụng từ ngữ và sâu sắc về ý tứ.
Nhật Tuấn được giải thưởng văn chương ở thứ hạng cao và khá sớm: giải nhì cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ (1977, Ngôi nhà đang lên tầng), giải nhất giải thưởng văn học của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (1978, tác phẩm Trang 17).



Nhà văn Nhật Tuấn (đã mất - em trai Nhà văn Nhật Tiến)


Kỳ 8

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN NGUYỄN HUY THIỆP
                                                                                                          Nhật Tuấn                                    

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp


Một thời trong giới nghệ sĩ, người ta coi Văn Cao là cụ tiên chỉ trong làng nhạc. Vậy trong làng văn, cụ tiên chỉ ấy là ai vậy? Tất nhiên không phải ông Hữu Thỉnh tuy đã được Đảng chọn làm Chủ tịch Hội nhà văn suốt đời và thực ra cái ghế đó so với phẩm trật triều đình thì cũng chỉ ngang chức Bật Mã Ôn mà Ngọc Hoàng Thượng Đế ban cho Tôn Ngộ Không?
Vậy thì cụ tiên chỉ trong làng văn một thời là ai?
Là ai thì chắc mọi người đều biết - đó là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, người gây “động đất” làng văn vào thời Đảng tuyên bố cởi trói cho nhà văn.
 
Thời đó, Nguyễn Huy Thiệp là một “hiện tượng đặc biệt”.
Trước hết, xưa nay, một nhà văn trở thành nổi tiếng thường do giới phê bình “cung đình” tôn vinh theo gợi ý của Ban tuyên huấn vì nó đáp ứng một nhu cầu chính trị nào đó đang diễn ra kiểu như “Sống như anh” của Trần Đình Vân, “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi, “Hòn đất” của Anh Đức… Những nhà văn “trật khỏi đường rầy” khỏi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, không những khó được nêu danh trên báo, mà còn bị đập tơi bời, bị “cấm bút”.

ĐỌC “CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ”

 


ĐỌC “CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ”

                           Vũ Nho

Tác giả  Nguyễn Khánh Hà tự giới thiệu về mình:

“Tôi là người lính bộ binh ở tuyến đầu trong các trận chiến, có tám năm ở chiến trường Đông Nam Bộ (68-76). Tôi không giải thích được tại sao mình còn sống dù hai lần dính đạn. Đồng đội xưa : có người vào một tuần, người vào một tháng hoặc một năm đã “tịch” ngay cạnh tôi. Nếu phải chết vì bom đạn thì lẽ ra tôi phải chết nhiều lần hơn họ… nhưng tôi không chết (Dù khi đó nhiều lúc nghĩ chết còn sướng hơn sống) …để mà  đi hướng Tây Nam lên Bà Quẹo Bảy Hiền theo đường Lê Văn Duyệt vào Biệt khu Thủ đô”.  (Thư ngỏ).

Một lí lịch đơn giản nhưng ấn tượng,  khiến cho người đọc đủ kiên nhẫn để xem, để nghe tác giả kể lại những câu chuyện của mình trong  tập truyện ngắn có tên “ Chuyện bây giờ mới kể”.

          Tập truyện  gồm 12 truyện ngắn và truyện kí viết về chiến tranh và hòa bình. Trong số đó có những truyện liên hoàn, truyện trước nối với truyện sau cùng một nhân vật ở hoàn cảnh khác nhau . Đó là truyện  “Đường vào thành phố” với “Cái rút dép râu bằng sắt”.  Đó là truyện “Làng ơi” với đề từ “Ly quê góc biển chân trời/ Ngày về tóc bạc một đời phiêu diêu”, và “Làng ơi” với phụ đề  Cố hương. Kèm theo là “Thư ngỏ” gửi những người lính nửa thế kỉ trước từng hai bên chiến tuyến và  “Lạm bàn sỹ sự”, một tham luận của tác giả tại Đại hội Văn học Nghệ thuật địa phương.

          Không phải ngẫu nhiên mà tác giả lại lấy truyện ngắn “Chuyện bây giờ mới kể” làm nhan đề cho cả tập truyện  này.  Bây giờ mới kể chắc có nhiều lí do. Nhưng hình như có một lí do cơ bản là thời điểm kể sớm quá sẽ không thích hợp chăng? Ngay cả đối với các truyện khác cũng thế. Bởi vì thời gian càng lùi xa,  người kể cũng như người nghe càng bình tĩnh, khoan dung  nhận thức về  thắng- bại, đúng- sai, phải- trái,  công- tội, lí – tình,…

          Chẳng hạn như  “ Chuyện bây giờ mới kể” viết về hai cặp bộ đội và thanh niên xung phong Quang – Duyên, Đạt – Túc. Họ sống trong lửa đạn, cận kề cái chết hàng ngày. Họ yêu nhau say đắm.  Đạt và Túc cố ý phạm khuyết điểm để Túc có thể rời mặt trận. Tác giả kể “Lao động nặng  nhọc mà trụ được thì cơ bắp càng khỏe ra, phổi thở nhiều khỏe ra, mọi “cơ quan đoàn thể” cũng được khỏe theo, không trừ bộ phận nào, kể cả cái bộ phận không ai khuyến khích phục vụ mặt trận cũng khỏe ra…và…nó cũng đòi phải có việc làm…

          Ở chiến trường, ba tuần là quá đủ để đôi trai tài gái sắc tiến đến đỉnh cao nhất của tình yêu…tình người”.

Túc bị kỉ luật về quê, mang theo giọt máu của Đạt,  sinh ra thằng Quyết Thắng tên của con đường. Khi hòa bình Đạt tìm về, họ làm lễ cưới. Đạt bị chất độc da cam nên không sinh con được nữa. Dù sao họ cũng mãn nguyện vì mình còn may mắn hơn bao nhiêu đồng đội. Trong khi đó Duyên cũng khát khao như Túc, nhưng Quang kìm nén được. Họ không vượt quá giới hạn. Sau Duyên bị thương  nặng. Quang cũng bị thương không còn khả năng làm cha.  Quang về Thủy Nguyên tìm Duyên không gặp. Quang gặp lại Đạt, Túc, rồi khăn gói vào chủa Vĩnh Nghiêm tìm Duyên, nhưng  lại cũng không gặp. Câu chuyện kết lửng ở đó. Không biết đến bao giờ họ mới gặp lại nhau. Dù chiến tranh đã kết thúc lâu rồi…