ĐĂNG LẠI 4 BAI ĐÃ IN BÁO GIÁO DỤC THỜI ĐẠI THÁNG 7/2025
Tản mạn chuyện… thẩm thơ
Bài 1:NHỮNG NỂ PHỤC VÀ TRANH LUẬN
RẤT NỂ NHÀ THƠ XUÂN DIỆU
Không rõ tôi đọc
bài Xuân Diệu tổng kết cuộc thi thơ năm nào. Nhưng tôi ấn tượng mãi về sự tinh
tế của ông Hoàng thơ tình. Hai ví dụ nhà
thơ Xuân Diệu góp ý tôi nhớ mãi.
Một nhà thơ viết về hương hồi hay
hương thảo quả với cô thiếu nữ miền núi:
-
Hương
ngát thơm nồng nếp váy xanh
Nhà thơ Xuân Diệu phê rằng chữ “nồng” rất thô! Váy áo
phụ nữ mà “nồng mùi” thì chẳng có gì hay
cả! Ông đề nghị chữa:
-
Hương
ngát thơm vào nếp váy xanh
Cũng là thơm thôi, nhưng “nồng” thì dở, còn “vào” thì ổn!
Cũng trong bài
nhận xét ấy, có nhà thơ cũng khá có tên tuổi viết:
Nón che chung trời mưa lổ đổ
Đôi môi hương sấu chín dịu chua
Nhà thơ Xuân Diệu
phê rằng, nói mồm, môi chua là nói đến người ốm! Cho nên chữ “chua” dù được giảm nhẹ “dịu chua” nhưng vẫn còn
thô. Ông đề nghị bỏ bớt đi! Mà quả nhiên bỏ đi, câu thơ hay hẳn lên:
Nón che chung trời mưa lổ đổ
Đôi môi hương sấu chín
Rất đẹp và rất gợi cặp môi của người bạn gái!
Thì ra thơ nói đủ
hết, thật hết lại không hay bằng nói thiếu!
PHỤC NHÀ THƠ TỐ HỮU BIẾT LẮNG
NGHE
Chuyện rằng nhà thơ Tố Hữu viết bài
thơ Xuân
sớm đăng báo, trong đó có hai câu:
Nghé con mày đứng cho ngoan
Chớ ăn mất lá hàng xoan mới trồng
Tôi cũng dân nhà
quê chăn nghé từng tranh luận với nhà thơ Huy Cận, nhưng lại không để ý chi tiết
này.
Một lần về Thái Bình công tác, tôi được
các đồng nghiệp cho biết một nhà giáo Thái Bình đã cảm thán và viết:
Lá xoan đắng lắm bác ơi
Nghé không xơi được, vậy thời bác SAI!
Chà, ông (bà)
này cũng tinh tường chứ bộ! Dám phê và dám chịu trách nhiệm về lời phê của
mình.
Chẳng rõ có ai thông tin cho nhà thơ Tố
Hữu hay không. Tôi tin là có. Hoặc bằng cách nào đó mà hai câu này đến tai nhà
thơ. Sau đó nhà thơ đã lẳng lặng chữa câu thơ trên thành:
Nghé con mày đứng cho ngoan
Chớ xô hàng chuối hàng xoan mới trồng
( Xem bài Xuân sớm, trong Tố Hữu
thơ, nxb Giáo Dục, 1994, trang 419)
Chữa rất khéo!
Mà cái chính, rất đáng khâm phục là nhà
thơ rất phục thiện!
TRANH LUẬN CHUYỆN LÔNG NGHÉ
VÀ CÁ VỚI KĨ SƯ CANH NÔNG NHÀ THƠ HUY CẬN
Tôi không nhớ
chính xác , nhưng chắc là năm Trường
ĐHSP Việt Bắc, và khoa Văn kỉ niệm 30 hay 35 năm thành lập ( 1996 hoặc
2001). Nhà thơ Huy Cận là khách mời của khoa. Ông còn được mời làm Chủ khảo cuộc
thi thơ của sinh viên. Sau khi liên hoan với Khoa Văn, có chút hơi bia, rượu,
tôi mạnh dạn gặp nhà thơ và “có ý kiến”:
-Thưa bác Huy Cận, bác có bài thơ “Thi
nghé” rất nổi tiếng được đưa vào sách giáo khoa Ngữ Văn Trung học cơ sở. Xin mạn
phép bác để góp ý rằng bài thơ đó bác có chỗ SAI ba lần!
-???
- Vâng, tôi xin
nói ngay: bác viết : Lông nó đen là
sai lần thứ nhất. Đen nháy là sai lần
thứ hai. “ mẹ nó liếm, càng đen/ mặt trời
làm bàn chải, từng tia nắng vuốt thêm” là sai lần thứ ba!
Nhà thơ Huy Cận
ngớ ra vì có thằng cha ít tuổi mà dám bảo mình sai BA LẦN, lại trước mặt cán bộ
và sinh viên khoa Văn. Ông chống chế:
-
Đây
là tôi viết con nghé đã lớn, sắp thành trâu cày!
-
Trời,
bác có dám đánh cược với tôi không ạ? Tôi cùng bác ra ngay chỗ ga Quán Triều để
xem con trâu nhá! Xin thưa bác rằng “con trâu đen lông mượt” nó chỉ đen da
thôi, chứ lông nó không hề đen. Tôi có thâm niên cưỡi trâu, tôi biết. Lông trâu
khá thưa và có màu bàng bạc như hoa cỏ may đó. Còn lông nghé thì khá dày, và nó
có màu vàng rơm nhàn nhạt ạ!
Đến đây thì nhà thơ, kĩ sư canh nông không dám đánh cược
với cái tay có thâm niên chăn trâu, cưỡi nghé.
Nhân chuyện lông nghé,
tôi tiếp tục:
-
Thưa
bác Huy Cận, bác có bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” khá hay trong sách giáo khoa
THPT. Tôi nghe người ta đồn thế này không biết thực hư ra sao. Nay gặp bác, xin
được hỏi cho rõ ạ!
-
???
-
Người
ta nói rằng bác là kĩ sư canh nông, vốn hiểu biết về biển cũng hạn chế thôi.
Bác đi thực tế, dân Hòn Gai kể cho bác nghe các loại cá để bác viết. Mấy câu ấy
là:
Cá Nhụ, cá Chim cùng cá Đé
Cá Song lấp lánh đuốc đen hồng
Cá ĐUÔI ÉN quẫy trăng vàng chóe
Bác đã viết
nguyên như thế. Nhưng cô đánh máy sơ ý nên đánh máy SAI thành “ cái đuôi em”.
Thế rồi mọi người đọc là “cái duôi em quẫy…”. Có thật thế không ạ?
- Không phải, chính tôi viết “ cái đuôi em quẫy trăng vàng
chóe”!
- Cám ơn bác! Tôi giải tỏa nghi vấn bấy
nay. Nhưng thưa bác khi bác gọi cá bằng EM trong bài thơ này là khá dở, có thể
nói rất dở!
-???
- Bác gọi cá bằng
EM, không sao! Ở chỗ khác thì được! Nhưng chả nhẽ trong bài thơ này, “Đoàn thuyền
đánh cá” nghĩa là “Đoàn thuyền đánh EM” sao? Mà đánh cá về để chơi ư? Để nâng
niu các em cá ư? Không! Cá đánh về đưa vào nhà máy cá hộp Hạ Long để làm thực
phẩm. “Cá ơi ta xẻ cá ra, ta làm nước mắm, ta pha xì dầu”. Chả nhẽ lại đối xử với
EM CÁ như vậy sao?
-!!!
Bởi thế nên tôi
không khen bác cái câu thơ “ cái đuôi em
quẫy” mà tôi còn kịch liệt chê! Bởi vì nó “sái”!
Tôi vẫn tin rằng câu thơ này phải là
“Cá đuôi én quẫy…” trong mạch thơ nói về các loại cá!
Ai khen bác thì cứ khen, còn tôi xin
phép bác được chê câu thơ này dở, rất dở!
Dẫu sao cũng cám ơn bác về cuộc đổi
thoại thẳng thắn này!
MẤY ĐIỀU TRAO ĐỔI LẠI VỚI NHÀ THƠ Vũ Quần Phương
Tôi họ Vũ, nhưng chắc không có dây mơ rễ má gì với bác Vũ Quần Phương.
Chỉ là tình cờ trùng họ thôi. Nhưng tôi viết về nhà thơ Vũ Quần Phương hơi bị
nhiều. Từ bình bài thơ, giới thiệu tập thơ đến viết về tập bình thơ, viết tiểu
luận “Vũ Quần Phương với thơ hay”…
Tôi học được nhiều điều ở nhà thơ, người bình thơ nổi tiếng này. Dĩ
nhiên tôi cũng có những trao đổi lại với anh Phương trên tinh thần thẳng thắn
và thân ái.
Chỉ kể ra đây mấy điểm để
thấy không phải lúc nào nhà bình thơ cũng thành công.
Chẳng hạn bình bài thơ Sao không về vàng ơi
của Trần Đăng Khoa, anh cho rằng mất của khó làm thơ. Rồi lại nhận định mất chó
thì chỉ “buồn cái tay” ( Mày không bắt
tay tao, tay tao buồn làm sao). Trong khi đó con chó Vàng, với chú Khoa là
một người bạn, bạn khác loài nhưng vô cùng quan trọng.
Với Tố Hữu, người bình đã không thật cận nhân
tình khi chê rằng nhà thơ Tố Hữu làm tuyên huấn “Công việc tuyên huấn đôi lúc
lấn vào cảm xúc thơ. Anh bộ đội trong bài Bầm ơi chào mẹ lúc ra đi
có một ngôn ngữ rất tuyên huấn :
Con đi mỗi bước gian lao
Xa bầm nhưng lại
có bao nhiêu bầm”
( Bầm ơi)
Không có người con nào lúc xa mẹ lại
nói thế (Xa mẹ con có khối mẹ khác!). Đây
là Tố Hữu đã mượn để vun đắp tình quân dân, xây dựng phong
trào “mẹ chiến sĩ” ( 30 tác giả văn chương, sđ d, trang 188).
Chỗ này nghe qua thì đúng, nhưng ngẫm lại thì
không phải. Nhà phê bình đã quên rằng, đây là anh con trai đang
an ủi mẹ, làm cho mẹ đừng lo lắng. Anh nói thế để yên lòng
mẹ chứ không có tuyên huấn tuyên truyền quân dân gì ở đây. Cái việc này,
người con thường rất hay làm. Đi ra trận, Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi,
nhưng bao người con đều nói một câu chắc nịch: “Bao giờ giặc xong/ Lại về Việt
Bắc” ( Tố Hữu - Bà mẹ Việt Bắc) và trong Bầm ơi cũng vậy : “Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm”. Chả
lẽ đây cũng là tuyên huấn nói?
Một ví dụ khác về trường hợp
câu thơ của Bác “ Quân
vụ nhưng mang vị tố thi – Việc quân bận rộn chưa làm
thơ được). Vị bác sĩ đã cố gắng hiểu những chữ Hán (vốn
không dành cho thầy thuốc). Nhưng ở đây, anh quá nệ vào câu dịch
không chuẩn : Việc quân đang bận xin chờ hôm sau. Có đến hơn ba lần anh
dẫn câu thơ dịch này với ý “xin khất”, với ý “chờ”. Khất, chờ đi
liền với ví dụ khác: (Chờ cho kháng chiến thành công đã/ Bạn
sẽ ăn mừng sinh nhật ta). Thực chất Bác không hứa hẹn gì mà chỉ nói rằng :
Việc quân bận rộn chưa làm thơ được.
Vũ Quần Phương đã hiểu không chính xác từ
“dã kê”, gà đồng, tức là loại gà hoang chứ không phải là gà trong xóm.
Vì vậy bình bài thơ của Phù Thúc Hoành, tác giả viết: “giữa hiu quạnh hoang vu
gặp ấm áp làng mạc : tiếng gà đồng” (tr. 87) là không thuyết phục. Gà hoang ( dã kê) càng làm nổi rõ sự hoang
vắng, làm gì có làng nào ở đây! Cũng vì không rành tiếng Hán, nên câu thơ của
Nguyễn Hạ Huệ “Băng ki nguyên tự hương”, Nguyễn Vinh Phúc dịch: “Hương bay từ
tấm thân ngà”; nhưng người bình thơ lại bình “gió vờn tóc và gió mang hương ướp
da”. Da tự tỏa hương khác xa với gió mang hương để ướp da. (Mà chữ ướp da nghe cũng không nhã vì gợi sự ướp
xác!).
MÀU CỦA BÔNG HOA
Khi còn là sinh
viên khoa Văn tôi đã để ý đến câu chuyện “màu hoa” trong bài ca dao:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay
Các bậc tiền bối
khả kính đã bàn về nụ tầm xuân, hoa tầm xuân.
Lúc ấy các nhà nghiên cứu chỉ bàn xung quanh bốn câu thôi, và tôi nhớ chỗ
mắc mớ nhất mà họ tranh cãi đó là câu "Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc".
Người bình thứ nhất thì cho rằng chắc là do chép nhầm, phải hiểu chữ
"xanh" ấy vốn là chữ "ánh" hoặc chữ "cánh" thì mới
hợp lý bởi vì không thể có "bông hoa màu xanh, lại xanh biếc". Nó có
thể có ánh biếc khi nó là màu tím, màu vàng hay màu hồng... Rồi Lãng Bạc lại
bàn lại và muốn đổi chữ "nở" thành ra chữ "nảy" vì hoa tầm
xuân chỉ có màu trắng hay hồng nhạt. Vậy chỉ có nụ tầm xuân mới nảy ra còn non
tơ nên có thể xanh biếc (?) Nói tóm lại mọi người đều đem so sánh bông hoa tầm
xuân ở ngoài đời với bông hoa kì lạ "xanh biếc" ở trong ca dao và muốn
sửa lại từ ngữ cho nó "hợp lí".
Tôi dù non lí lẽ nhưng đủ tỉnh táo để cho rằng các vị tiền bối khả kính đã quên mất đây là bông hoa tầm xuân nghệ thuật,
bông hoa lí tưởng, bông hoa đặc biệt nở trong con mắt của người si tình. Với anh ta, cô gái kia cũng như bông hoa
này là « một, là riêng, là thứ nhất »
có một trên đời mà thôi. Thử ngẫm xem nếu bông hoa này cũng có màu như các bông
tầm xuân khác, nghĩa là nó khá phổ biến, thì làm gì phải thốt lên câu "anh
tiếc lắm thay".
Tôi giữ tinh thần đó cho đến khi bình
cả bài ca dao có tên «Cuộc gặp muộn mằn».
Điều quan trọng nhất là khi anh tìm ra cô, phát hiện được cô như là
"Điểm đỏ giữa muôn xanh" (Xuân Diệu) thì đã quá muộn màng. Anh chỉ có
thể đứt ruột đứt gan mà thốt lên lời tiếc nuối. Sự tiếc nuối càng có ý nghĩa lớn
vì cô gái là bông hoa xanh biếc. Bông hoa hiếm hoi tưởng như không có thật trên
đời !
Cái màu xanh biếc tưởng như là bất hợp lí, không thể nào phù hợp với hoa
tầm xuân hóa ra lại có lí trong tâm trí chàng trai công phu tìm kiếm !
BÁO GIÁO DỤC THỜI ĐẠI SỐ 161 NGÀY
7/7/2025

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét