NGUYỄN DU SINH RA TẠI HÀ NỘI NAY VÀ TUNG TĂNG KHẮP PHỐ PHƯỜNG HÀ NỘI
Không rõ Nguyễn Du có sinh ra ở đấy không (1765), nhưng chắc chắn ông đã lớn lên ở Hà Nội, hay đúng ra phải gọi là Thăng Long, vì cái tên Hà Nội ngày ấy đâu đã có (1). Cũng không rõ ngày Nguyễn Du thường nô đùa, chạy nhẩy, ngày ấy Thăng Long đã mấy phố bao phường. Chỉ biết ông lớn lên giữa lúc loạn lạc, vận nước liên miên thay ngôi, đổi chủ. Quyền bính ở đất Bắc hết nằm trong tay anh em họ Trịnh tranh giành ngôi chúa hãm hại lẫn nhau, lại lần lượt rơi vào tay của Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm, rồi đến Ngô Văn Sở, trước khi Quang Trung đem quân ra Bắc đại phá quân Thanh năm 1789, để rồi sau đó quy một mối về Gia Long khi ông thống nhất đất nước năm 1802. Thật là một thời kỳ hỗn loạn. Ngoài 20 tuổi Nguyễn Du đã phải lánh mình về quê vợ ở Thái Bình trong mười năm gió bụi 𝑡ℎ𝑎̣̂𝑝 𝑡𝑎̉𝑖 𝑝ℎ𝑜𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑎̂̀𝑛, rồi lại lui về ẩn thân ở nguyên quán Hà Tĩnh, ngày ngày làm 𝑁𝑎𝑚 𝐻𝑎̉𝑖 Đ𝑖𝑒̂́𝑢 Đ𝑜̂̀, kẻ câu cá ở bể Nam, làm 𝐻𝑜̂̀𝑛𝑔 𝑆𝑜̛𝑛 𝐿𝑖𝑒̣̂𝑝 𝐻𝑜̣̂, gã thợ săn trên rặng Hồng Lĩnh. Ông sống ẩn dật nghèo khổ, bệnh tật suốt 3 tháng mùa Xuân không cả tiền thuốc men, 𝑡𝑎𝑚 𝑥𝑢𝑎̂𝑛 𝑡𝑖́𝑐ℎ 𝑏𝑒̣̂𝑛ℎ 𝑏𝑎̂̀𝑛 𝑣𝑜̂ 𝑑𝑢̛𝑜̛̣𝑐. Mãi đến năm 37 tuổi Nguyễn Du mới ra làm quan cho Gia Long. Cách nay hai trăm năm (1813), ông được Gia Long cử làm chánh sứ đại diện vua nước Nam sang Trung Hoa. Trên đường đi từ Phú Xuân đến Bắc Kinh, ông đã có dịp ghé thăm Thăng Long lần đầu sau hai mươi năm xa cách. Lòng đầy cảm xúc nhìn lại kinh đô cũ với biết bao kỷ niệm, ông đã viết 𝐿𝑜𝑛𝑔 𝑇ℎ𝑎̀𝑛ℎ 𝐶𝑎̂̀𝑚 𝐺𝑖𝑎̉ 𝐶𝑎. Trước khi đọc Cầm Giả Ca tưởng cũng nên đọc lại 2 bài thất ngôn 𝑇ℎ𝑎̆𝑛𝑔 𝐿𝑜𝑛𝑔 ông viết cũng vào dịp ấy :
𝑇𝑎̉𝑛 𝑙𝑖̃𝑛ℎ 𝐿𝑜̂ 𝑔𝑖𝑎𝑛𝑔 𝑡𝑢𝑒̂́ 𝑡𝑢𝑒̂́ đ𝑜̂̀𝑛𝑔, 𝐵𝑎̣𝑐ℎ đ𝑎̂̀𝑢 𝑑𝑜 đ𝑎̆́𝑐 𝑘𝑖𝑒̂́𝑛 𝑇ℎ𝑎̆𝑛𝑔 𝐿𝑜𝑛𝑔. Chưa vào đến cố đô, từ xa ta đã nghe tiếng ông reo mừng : Kìa là rặng Tản Viên, nọ là dòng Lô Giang, ta sắp về đến Thăng Long rồi. Nhưng than ôi, vào đến năm cửa ô thì bao là ngỡ ngàng, chua xót. Vị vua Thế Tổ triều Nguyễn muốn xóa hết dấu tích nhà Lê đã san bằng thành xưa, quách cũ (2). Cả cái tên Thăng Long 昇 龍 là rồng bay lên cũng bị cải là Thăng Long 升 隆 hưng thịnh. Những 𝑡ℎ𝑖𝑒̂𝑛 𝑛𝑖𝑒̂𝑛 𝑐𝑢̛̣ 𝑡ℎ𝑎̂́𝑡, nhà cửa tự nghìn năm trước, nay đã biến mất. Thay vào đó là quan đạo, là dọc ngang đường xá. Những cố cung, điện đài từ thời Lý Trần đã bị phá đi để xây thành mới. Đâu là điện 𝑇𝑟𝑢𝑛𝑔 𝐻𝑜𝑎̀ Đ𝑎̣𝑖 𝑁𝑜̣̂𝑖 ? Đâu là ngõ cũ nơi ông vẫn chơi đùa cùng bè bạn 𝑚𝑦̃ 𝑛ℎ𝑎̂𝑛, ℎ𝑖𝑒̣̂𝑝 𝑡ℎ𝑖𝑒̂́𝑢 ? Đêm nằm giữa lòng Thăng Long ông trằn trọc không sao ngủ, thao thức nhìn vầng trăng xưa mãi soi trên bức tường thành mới lạ. 𝐶𝑜̂̉ 𝑡ℎ𝑜̛̀𝑖 𝑚𝑖𝑛ℎ 𝑛𝑔𝑢𝑦𝑒̣̂𝑡 𝑐ℎ𝑖𝑒̂́𝑢 𝑡𝑎̂𝑛 𝑡ℎ𝑎̀𝑛ℎ. Âm nhạc ngày trước nay cũng biến mất. 𝑄𝑢𝑎̉𝑛 ℎ𝑢𝑦𝑒̂̀𝑛 𝑛ℎ𝑎̂́𝑡 𝑏𝑖𝑒̂́𝑛 𝑡𝑎̣𝑝 𝑡𝑎̂𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ. Sáo đâu, giây đâu sao tiếng nghe nhốn nháo, chói cả tai thế này ? Chả trách lúc ngồi trên chiếu tiệc ở Thăng Long, nghe lại tiếng đàn ngày trước, nghe lại dòng 𝑛ℎ𝑎̣𝑐 𝑣𝑎̀𝑛𝑔 của đại nội triều Lê, ông đã viết Long Thành Cầm Giả Ca, Bài Cho Người Gảy Đàn Thành Thăng Long, mà ngậm ngùi với người cầm giả trước những dập vùi của ba đào lịch sử.
Nhưng có thật là chuyện chỉ giản dị thế không ? Có thật chỉ là nỗi tiếc thương cho một kiếp má đào tài hoa bạc mệnh ? Hay vì đang làm quan cho Gia Long, không thể bày tỏ lòng luyến tiếc cái vang bóng của triều Lê ngày trước, nên Nguyễn Du đã mượn hình ảnh người gảy đàn để nhỏ lệ khóc thương cho hồn ma bóng quế của đất đế kinh ngàn năm thanh lịch ? 𝑇ℎ𝑎̀𝑛ℎ 𝑞𝑢𝑎́𝑐ℎ 𝑡ℎ𝑜̂𝑖 𝑑𝑖 𝑛ℎ𝑎̂𝑛 𝑠𝑢̛̣ 𝑐𝑎̉𝑖, 𝐾𝑦̉ 𝑥𝑢̛́ 𝑡𝑎𝑛𝑔 đ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑏𝑖𝑒̂́𝑛 𝑡ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 ℎ𝑎̉𝑖. Thành quách còn bị đổi dời, huống gì là phận người trôi dạt. Bao nương dâu rồi cũng nhạt nhòa thành bể khơi. 𝑇ℎ𝑢𝑎̂́𝑛 𝑡𝑢̛́𝑐 𝑏𝑎́𝑐ℎ 𝑛𝑖𝑒̂𝑛 𝑛𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦̉ 𝑡ℎ𝑖̀, 𝑇ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡𝑎̂𝑚 𝑣𝑎̃𝑛𝑔 𝑠𝑢̛̣ 𝑙𝑒̣̂ 𝑡𝑟𝑖𝑒̂𝑚 𝑦. Một chớp mắt, một làn hơi, một trăm năm, dài ngắn khác nhau là bao. Những việc trôi qua làm ta đau lòng, nước mắt tuôn đẫm áo. Nhiều người đã thêu dệt nên mối tình lãng mạn thời trai trẻ giữa Nguyễn Du và người con gái gảy đàn ấy. Thậm chí có người lại còn trách ông vì muốn giữ thể diện của đường đường chánh sứ nên 𝑠𝑜𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑎̃𝑛 𝑡𝑟𝑢̛̀𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑢̛̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑡𝑢̛𝑜̛̉𝑛𝑔 𝑡𝑢̛𝑜̛̣𝑛𝑔, 𝑘ℎ𝑎̉ 𝑙𝑖𝑒̂𝑛 đ𝑜̂́𝑖 𝑑𝑖𝑒̣̂𝑛 𝑏𝑎̂́𝑡 𝑡𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑖, mở trừng hai mắt mà không dám nhìn mặt người xưa. Tôi không tin là thế. Tôi cho hiểu như thế là không phải với Nguyễn Du. Tôi không tin là đã có gì giữa họ. Nàng không đơn thuần là một cầm giả, chẳng phải là người tình cũ, mà là hồn phách của cả kinh thành Thăng Long. Trở về Thăng Long sau mấy mươi năm xa cách, 𝑚𝑎̂́𝑡 𝑇ℎ𝑎̆𝑛𝑔 𝐿𝑜𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑢̛ 𝑇ℎ𝑎̆𝑛𝑔 𝐿𝑜𝑛𝑔 đ𝑎̃ 𝑚𝑎̂́𝑡 𝑡𝑒̂𝑛, lòng Nguyễn Du lúc bấy giờ hẳn đang dạt dào một trời hội cũ, chứ đâu riêng lẻ gì một bóng hồng nhan. 𝑇ℎ𝑖𝑒̂𝑛 𝑛𝑖𝑒̂𝑛 𝑝ℎ𝑢́ 𝑞𝑢𝑦́ 𝑐𝑢𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑎𝑛ℎ đ𝑜𝑎̣𝑡, 𝑡𝑎̉𝑜 𝑡𝑢𝑒̂́ 𝑡ℎ𝑎̂𝑛 𝑏𝑎̆̀𝑛𝑔 𝑏𝑎́𝑛 𝑡𝑢̛̉ 𝑠𝑖𝑛ℎ. Nhìn cảnh vân cẩu đổi thay, do việc tranh giành quyền lực của các dòng họ, cảnh con người bị xô dập trong bão tố, cảnh những người thân cũ đã chết mất một nửa, nhớ lại những giấc mộng của một thời hùng tâm tráng trí, ông hẳn đau đớn nhìn Thăng Long của ngày xưa đã chết. 𝑇𝑎̆̀𝑛𝑔 𝑙𝑎̆𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔 𝑘𝑖𝑒̂́𝑚 𝑦̉ 𝑡ℎ𝑖𝑒̂𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ, cây kiếm dài ngày xưa ngạo nghễ tựa lưng vào trời xanh, tự bao giờ đã 𝑙𝑖𝑒̂𝑢 𝑙𝑎̣𝑐 𝑡𝑟𝑎́𝑛𝑔 𝑡𝑎̂𝑚 ℎ𝑢̛ đ𝑜𝑎̉𝑛 𝑘𝑖𝑒̂́𝑚, đã biến thành cây kiếm cụt vô tích sự ? 𝑉𝑎̆𝑛 𝑡𝑢̛̣ ℎ𝑎̀ 𝑡𝑎̆̀𝑛𝑔 𝑣𝑖 𝑛𝑔𝑎̃ 𝑑𝑢̣𝑛𝑔 ? Chữ nghĩa ích gì cho buổi ấy, hay chỉ làm mộng thêm đau xót, làm bể dâu thêm thắt ruột, day lòng. 𝑆𝑜𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑎̃𝑛 𝑡𝑟𝑢̛̀𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑢̛̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑡𝑢̛𝑜̛̉𝑛𝑔 𝑡𝑢̛𝑜̛̣𝑛𝑔. Mở trừng hai mắt chẳng thấy gì ngoài trống không mộng tưởng. 𝐾ℎ𝑎̉ 𝑙𝑖𝑒̂𝑛 đ𝑜̂́𝑖 𝑑𝑖𝑒̣̂𝑛 𝑏𝑎̂́𝑡 𝑡𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑖. Thương thay, ta ngồi đây giữa Thăng Long mà nào có thấy Thăng Long, ngồi đây giữa Thăng Long mà Thăng Long nào có thấu cho lòng ta ! Chao ôi, làm người thật chẳng khó lắm sao !
Tô Thẩm Huy , trung tuần tháng 10, 2013
Chú Thích:
1 - Minh Mạng đổi tên Thăng Long ra Hà Nội năm 1831, 11 năm sau khi Nguyễn Du mất.
2 - Năm 1805, Gia Long cho phá Hoàng Thành Thăng Long để xây thành mới, nhỏ hơn, hình vuông, theo mô thức của Pháp. Thành mới xây xong năm 1812 một năm trước khi Nguyễn Du trở lại Thăng Long.
3 - Long Thành Cầm Giả Ca là bài đầu trong tập Bắc hành Tạp Lục, gồm 131 bài thơ chữ Hán, ghi lại những cảm tưởng của Nguyễn Du trên đường đi sứ, nhìn thấy cảnh sống cơ cực, nghèo khổ của người dân Trung Hoa giữa đám quan lại tham ô, ăn sung, mặc sướng, hay ghi lại những lời lên tiếng luận công, kể tội các nhân vật trong lịch sử Trung Hoa mỗi lần ông ghé thăm các di tích cũ, làm giới sĩ phu Trung Hoa phải ngả nón thán phục.
4 - Nguyên tác 2 bài Thăng Long :
Bài 1
Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan bão tử
Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung
Kìa núi Tản, sông Lô, bao năm rồi vẫn thế,
Ta đầu đã bạc, nay còn được về thấy lại Thăng Long.
Dinh thự tự ngàn năm trước giờ biến thành đường xá!
Tường thành mới xây xóa mất dấu cung điện ngày xưa!
Các người đẹp quen biết ngày ấy giờ tay bồng tay bế,
Trẻ nhỏ cùng chơi đùa thuở trước giờ già hết cả rồi.
Cả đêm nằm thao thức, khổ tâm không sao ngủ,
Tiếng sáo nghe văng vẳng dưới trăng thanh.
傘 嶺 瀘 江 歲 歲 同,
白 頭 猶 得 見 昇 龍.
千 年 巨 室 成 官 道,
一 片 新 城 沒 故 宮.
相 識 美 人 看 抱 子,
同 遊 俠 少 盡 成 翁.
關 心 一 夜 苦 無 睡,
短 笛 聲 聲 明 月 中.
Bài 2
Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú quý cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự phù trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh
Vầng trăng ngày trước đang soi lên bức tường thành mới.
Thăng Long, kinh đô của bao triều đại cũ là đây ư ?
Đường xá sao dọc ngang bốn phía, xóa mờ dấu tích cũ,
Đàn sáo phút chốc bỗng nhốn nháo những âm thanh khác lạ.
Tự nghìn xưa phú quý vẫn là miếng mồi giành giật nhau.
Bè bạn từ bao năm trước nay nửa còn, nửa mất.
Việc đời vốn chìm nổi, chẳng nên than thở.
Trên đầu ta tóc cũng bạc trắng hết rồi.
古 時 明 月 照 新 城,
猶 是 昇 龍 舊 帝 京.
衢 巷 四 開 迷 舊 跡,
管 弦 一 變 雜 新 聲.
千 年 富 貴 供 爭 奪,
早 歲 親 朋 半 死 生.
世 事 浮 沉 休 嘆 息,
自 家 頭 白 亦 星 星.
5- Dưới triều Lê, thành Thăng Long còn có tên là Đông Kinh, để phân biệt với Tây Kinh ở Thanh Hóa. Dưới đây là họa đồ kinh thành Đông Kinh với sông Nhị ở phía bên phải, kề bên là hồ Hoàn Kiếm như là một nhánh phụ lưu của Nhị Hà, tháp Báo Thiên ở giữa, vương phủ chúa Trịnh ở bên dưới tháp, Quốc Tử Giám ở phía trên đỉnh tháp, hồ Tây ở phía trên, cùng với chùa Trấn Vũ. Thành Đông Kinh hình chữ nhật với điện Kính Thiên, Thái Miếu, Đông cung... được bao bọc bằng 2 vòng lũy, nằm giữa hồ Tây và tháp Báo Thiên
CHÉP TỪ TRANG NGUYỄN TUẤN SƠN


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét