Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

GHI CHÉP của NGUYỄN KIM RẪN

 

GHI CHÉP của NGUYỄN KIM RẪN 

anh_kim_ran

 

TRÍ TUỆ CỦA TRÁI TIM

Một lần trong cuộc họp, Bạn tôi nói sai một vấn đề gì đó. Bị phê bình. Bạn cố cãi. Thế là tôi huy động tất cả bằng chứng lý lẽ đề phủ nhận ý kiến của bạn. Mục đích làm cho bạn phải tâm phục, khẩu phục. Bạn cúi đầu không nói gì…
          Khi tan họp, mọi người ra về, bạn ngồi lại. Đầu hơi cúi, vẻ mặt buồn rười rượi. Tôi bảo :
          - Về thôi!
         Bạn tôi rơm rớm nước mắt và nhỏ nhẹ:
          - Sao Rẫn nói nhiều thế? Có phải nói thế người ta mới hiểu đâu...


        Ôi! Lời nói nhẹ nhàng ấy mà có sức nặng như một quả bom công phá tâm não tôi. Tôi lặng đi. Tôi đã làm tổn thương bạn mình rồi.. Bạn đã thua tôi về lý lẽ trong cuộc họp nhưng lại dạy cho tôi một bài học hành xử rất đáng quý. Bạn đã khiến cho tôi sau này, mỗi lời nói, hành động đều phải lưu ý tới chuyện có lý có tình. Cuộc sống là như thế. “Tình yêu lớn mạnh hơn lửa thép” (Tố Hữu). 

Trong bài viết về Triết lý “Truyện Kiều”, GS Hoàng Ngọc Hiến đã viết: “Tác  giả TRUYỆN KIỀU”vẫn là một trí tuệ lớn, không phải là “trí tuệ của trí tuệ” mà đây là “trí tuệ của trái tim”. Những chữ trong dấu ngoặc kép (“”) là ông trích Lép Tôn-xtôi, khi đại văn hào này bàn về Gor-ki. Những ý kiến trên thật là chí lý. Đáng để cho chúng ta học tập. Tôi còn nhớ, Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã từng có một truyện ngắn mà tôi tạm tóm tắt như sau: Một đứa bé ăn mày đói quá. Nó lấy mấy mảnh sành cho vào cái túi nhỏ rồi đến bà hàng bún riêu, lắc túi ra vẻ có tiền để mua bà một bát bún. Ăn hết bát bún nó bỏ chạy. Bà bán bún hô hoán lên: “Thằng ăn cáp, nó ăn cắp tiền của tôi. Bà con ơi, bắt lấy nó hộ tôi”! Mọi người nghe vậy đuổi theo. Chẳng ai hiểu gì cũng cứ đuổi theo. Rồi người này bảo: “Nó lấy túi tiền của bà ấy”. Người kia lại nói: “Nó cướp dây chuyền vàng” v…v… Cứ vậy họ cố đuổi theo thằng bé. Một người to khỏe, lực lưỡng chắn đầu đường, thấy thằng bé chạy đưa chân ra hất nhẹ làm nó ngã sấp. Thế là cả biển người kia ập đến. Người đá, người rút guốc quật, người đạp lên mình ... Cho tới lúc nó mềm nhũn người, không kêu, không thở được nữa thì bà béo bán bún riêu ấy cũng vừa tới nơi, Mọi người hỏi: 
          - Nó lấy của bà nhiều tiền không?
          - Ha… ai…hai xu…bát…bún,,,
          Mọi người ngớ ra. Lúc ấy mới biết mình quá đà. Nhưng đã muộn. V
à, không ít người lại thấy thương thắng bé tội nghiệp.
          Từ câu chyện trên ta thấy: Với bà bán bún: Ăn không trả tiền là ăn cắp tiền của bà. Ăn cắp thì phải bắt, phải trừng trị để đòi lại (dù chỉ 2 xu). Lý lẽ của bà là như thế. Nhiều người trong chúng ta đều cho rằng như vậy là hợp lý. Song vì 2 xu mà hét toáng lên để mọi người hiểu lầm là mất nhiều tiền, để đuổi theo đánh hội chợ một đ
a trẻ thì nên chăng? Rồi những người đánh đứa trẻ họ lảng tránh. Khi nhà chức trách đến thì chỉ có bà ta là người hô hoán lên để người ta đánh chết thằng bé, liệu bà có bị phiền hà, có mất tiền không? Có khi tốn kém bằng trăm lần hai xu(!) Cũng có khi còn bị giam giữ nữa. Nếu thằng bé bị chết, mà nó linh thiêng liệu nó có để yên cho bà ta? Nếu nó sống lại được, nó thù bà ta, nó tham gia băng nhóm xã hội đen, nó có để yên cho bà ta?
            Giá như bà ta thương thằng bé đói khổ, tha cho nó, biết đâu nó không cảm ơn bà. Và, biết đâu sau này bà có chuyện rủi ro, nó lại là kẻ có ích cho bà ta. Hai xu với bà chẳng là gì song thiếu một tấm lòng dẫn đến họa lớn. ”Luẩn quẩn” và ”sáng suốt” là như thế đó. Chân lý vốn rất đơn giản. Cho nên, tôi luôn tâm niệm rằng: Chúng ta hãy sống có tình, chúng ta nên dùng cái thứ ”Trí tuệ của trái tim” trong hành xử hàng ngày.

 

                                             Cổ Nhuế, ngày 23 tháng 5 năm 2018

 

 

  1. CHÚNG TÔI LÀM TẬP SAN

Năm học 1968 – 1969, chúng tôi học năm thứ 2 khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội. Cuộc sống lúc ấy vô cùng khó khăn. Bàn học là 4 cọc tre đóng xuống đất rồi đặt lên một ván gỗ. Ghế là 4 cọc tre và 2 đoạn tre luồng vắt ngang để ngồi. Ăn bữa cơm độn ngô, bữa mì luộc (không có lò bánh mì mà bột mì đen nhào nước nặn thành tấm ri luộc). Canh toàn nước. Rau rất ít. Thịt ướp của Trung Quốc, có khi đã có giòi. Vẫn ăn và vẫn sống vui vẻ. Vẫn ca hát, vẫn Hội diễn văn nghệ từ Khoa đến Trường. 
          Trong năm học này có tác giả Nguyễn Du và “Truyện Kiều”. Thầy Trần Văn Thận (Bí thư Đảng bộ Khoa, Phó Chủ nhiệm khoa) giảng dạy phần này. Thầy động viên chúng tôi tập nghiện cứu theo các chuyên đề. Các chuyên đề được tập hợp lại đóng thành một tập san để cả lớp tham khảo. Nhiều bạn hào hứng chọn đề tài và sưu tầm tài liệu để viết bài.
          Tập san do tôi (Lúc đó là cán sự Văn học Việt Nam) phụ trách. Tôi mời một số bạn cùng tham gia. Công việc rất khó khăn: Giấy tốt hiếm, màu vẽ thiếu và cả bàn làm việc cũng không có (vì đang ở nơi sơ tán). Song Ban biên tập chúng tôi không quản ngại. Lấy giường làm bàn vẽ, viết. Sau mỗi buổi học lại bò ra mà vẽ, viết. Tôi lại nghĩ : tập san về Văn học Trung đại cần có bài thơ chữ Hán. Tôi đã liều làm bài thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán. Bài thơ như sau:

 

   

      

      

      

      

Phiên âm:

Tiểu sinh bái độc Nguyễn Du thi

Thấu kiến thi trung hồng huyết ly

Bách cảnh, bách tình vô thuỳ tỷ

Cánh độc cánh khoái, luận nan hoàn.

(Nghĩa là: Kẻ học trò nhỏ này cúi đầu đọc thơ Nguyễn Du, thấy rõ trong thơ có máu đang chảy. Trăm cảnh, trăm tình khó ai sánh bằng; Càng đọc càng khoái, luận bàn khó hết cái hay của câu chữ).

Làm xong tôi đi bộ nửa cây số lên phòng thầy Lê Trí Viễn (lúc đó là Chủ nhiệm khoa), nhờ thầy xem thử. Thầy bảo: “Chú mới học cổ văn mà làm được như thế là tốt.”. Thế là tôi chép vào tập san của chúng tôi. Tập san hoàn chỉnh có độ dày 90 trang cả thảy. Sau khi các bạn đã xem và đã ghi nhận, các thầy đã đánh giá, tôi cất giữ cẩn thận cho đến tận bây giờ. Không biết các bạn của tôi còn nhớ không? Tôi xin trình lên đây để các bạn của tôi nhớ lại nhé! Và cũng mong các bạn Facebook của tôi hiểu một phần nào cuộc sống của chúng tôi một thời khó khăn ấy.

Bắc Từ Liêm, ngày tháng năm 2018

 

 

trechantrau

 In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét