NGÔ ĐỨC HÀNH giới thiệu ĐOÀN THỊ KÝ

NHÀ THƠ ĐOÀN THỊ KÝ, VẺ ĐẸP GIẢN DỊ CỦA TÂM HỒN
Ngô Đức Hành
Đầu tháng 3/2026, tại Hà Nội có một sự kiện văn hóa đối với người yêu thơ. Đó là sự xuất hiện của bốn nữ thi sĩ họ Đoàn. Các chị đều là những người nổi tiếng, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có lẽ, đây là lần xuất bản mới nhất của chị Đoàn Thị Ký xuất bản tác phẩm.
Lấy mốc tập thơ đầu tiên Dòng sữa nuôi tôi (in chung), NXB Việt Bắc năm 1975 thì Thi phẩm tứ nữ họ Đoàn (in chung), NXB Hội Nhà văn năm 2026 đã cách 51 năm. Nếu lấy mốc, tác phẩm gần nhất là Vật hiến tế (truyện ngắn và tản văn), NXB Văn hóa năm 2014 thì cũng đã 12 năm. Như vậy, nửa thế kỷ viết văn, nhà thơ Đoàn Thị Ký mới in 5 tác phẩm (không tính 2 tác phẩm in chung). Như vậy là ít.
Tôi nhớ, tại buổi ra mắt nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét, Đoàn Thị Ký tìm cảm hứng từ những điều rất gần gũi của đời sống, từ những chi tiết tưởng chừng giản dị như một góc phố, một buổi chiều, một kỷ niệm gia đình để mở ra những suy ngẫm về cuộc đời với giọng điệu dịu dàng và đậm chất nữ tính.
Tôi lạc vào “thế giới tâm hồn” của nhà thơ Đoàn Thị Ký từ sự gần gũi, giản dị nhưng là mạch chảy âm thầm trong hơn 50 năm bền bỉ với thơ ca của chị.
Nhà thơ Đoàn Thị Ký tâm sự: “Tôi sinh ở làng Tử Nê, xã Minh Đạo, Bắc Ninh. Năm 1953, khi lên 3 đã phải ngồi thúng cha mẹ gồng gánh tản cư qua Phú Tho rồi lên Tuyên Quang và trưởng thành ở làng Tằm, bên dòng Lô, tỉnh Tuyên”. Như vậy, gốc Bắc Ninh, nhưng chị lớn lên nhờ đất và người Tuyên Quang. Tâm hồn chị thuộc về Xứ Tuyên.
Dòng sông, dẫu là suối hay sông cả; con đường, dẫu là đường làng hay quốc lộ đều có ngã ba. Sông Lô nơi chị Đoàn Thị Ký lớn lên cũng vậy. “Thị xã nằm dọc sông Lô / Ngã ba có tự bao giờ ai hay?”. Đời người cũng thường có “ngã ba” của số phận. Đoàn Thị Ký đã có những năm tháng lụi lầm bên ngã ba sông ấy: “Ngã ba hôm ấy mưa tuôn / Trắng trời, trắng đất cánh chuồn nhỏ ngoi”. (Có một ngã ba). Bài thơ giới thiệu chị lớn lên ở một ngã ba của dòng sông Lô. Hơn thế xác tín, cuộc đời từng đứng trước sự lựa chọn của “ngã ba số phận”.
Sau khi học hết cấp 3, chị Đoàn Thị Ký vào Đại học Sư phạm Việt Bắc (1967-1971), ra trường về dạy học 2 năm ở Trường Sư phạm cấp 2 Tuyên Quang. Do có năng khiếu văn chương, lại là người viết trẻ ở địa phương miền núi, chị được Hội Nhà văn Việt Nam mời dự dự Lớp bồi dưỡng Người viết trẻ ở Quảng Bá (Hà Nội. Sau khi kế giảng “khóa đào tạo” này, chị trở lại Xứ Tuyên, nhưng làm phóng viên Ban Văn nghệ, báo Tuyên Quang. Năm 1982, tỉnh Hà Tuyên (cũ) thành lập Hội Văn nghệ thì chị về Hội.
4 năm sau tức là năm 1986, nhà thơ Đoàn Thị Ký về Trường Viết văn Nguyễn Du. Sau 3 năm “tu nghiệp” ở mái trường đặc biệt này, chị về “đầu quân” cho Liên hiệp Đất hiếm Việt Nam, nay là Công ty cổ phần Đất hiếm Việt Nam (thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam). Khi đó những người lãnh đạo Liên hiệp hy vọng xin giấy phép Tạp chí Đất Hiếm. Chờ đợi mãi không thành, năm 1995 nhân cơ hội Ủy ban Kiểm tra Trung ương thành lập Tạp chí Kiểm tra thì chị xin chuyển sang đây. Chị thích làm phóng viên, cái nghề có thể mang đến cho chị khoái cảm đi đây đi đó.
Nhà thơ Đoàn Thị Ký làm phóng viên, gắn bó với Hà Nội từ đó cho đến lúc nghỉ hưu, năm 2005. Chị nói vui: “Tóm tại cuộc đời chị là hòn đá lăn đi lăn lại, không có rêu bám... nên không làm ai sợ ngã”. Chị Đoàn Thị Ký là một người hiền hậu, giản dị và chân thành.
Đoàn Thị Ký vào Đại học ở những năm cuối thập niên sáu mưới đời sống tinh thần hứng khởi, lãng mạn bởi, đó là cái thời “đỉnh cao muôn trượng” (Tố Hữu), nhưng đó cũng lúc “đất nước gian lao” như khái niệm của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến. Miền Bắc đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng vật chất khó khăn, con người quen với sự đạm bạc mà chất đầy tình nghĩa.
“Đồng quà tấm bánh từ tâm / Của trọng một nghĩa tình thâm trọng mười / Bần thần lặng nhớ xa xôi / Tre nhà ấm bụi cha ngồi vót nan”, (Tre nhà ấm bụi). Chắc chắn lúc nhận được chục quả trứng gà người cha nhặt trong ổ hàng ngày để gửi cho con, chị đã òa lên khóc. Bài thơ ra đời bằng một cảm xúc mãnh liệt, trước sự lo lắng của mẹ, cha.
"Cây rơm con dấu của làng/ Thanh thiên bạch nhật mùa màng uy nghi / Chân trời góc biển mùa đi / Cọng rơm ở lại ôm ghì đất đai / Ghì như con gái con trai / Cái đêm hoa lý, hoa mai hồng trần", (Cây rơm). Thời đó ai cũng vất vả, nông thôn càng vất vả. Ở khu vực nông thôn, dẫu là miền núi hay đồng bằng, đầu hồi nhà đều có cây rơm. Rơm là hình ảnh nhà nông, thức ăn dự trữ cho gia súc những ngày mùa đông, mưa bão, rơm trộn với bùn ruộng, trát thành tường bao quanh nhà dân, đun nấu, hoặc ít nhất là dùng làm mồi lửa của cái thời “gọi nhau xin lửa qua rào”, (thơ Nguyễn Bao).
Ngày ấy, chăn đắp mùa đông là một thứ cực kỳ xa xỉ, vậy nên rơm lót ổ cho người nằm ngủ. Nguyễn Duy từng có bài thơ “Hơi ấm ổ rơm” viết trên đường hành quân vào chiến trường phải ngủ nhờ nhà dân. Trong những năm tháng chiến tranh, Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc thì “Rơm làm mũ tránh bom, tránh đạn / Bọn trẻ tung tăng mỗi sớm đường làng”, (thơ Ngô Đức Hành). Thơ Đoàn Thị Ký ở mảng ký ức luôn gợi lại không gian, thời gian của sự yên bình.
Cây rơm gắn đời sống làng quê, có hồn làng quâ là thế. Nhưng, “Cây rơm con dấu của làng” là sự phát hiện, mới, lạ của nhà thơ Đoàn Thị Ký. Trong khổ thơ lục bát này, “Ghì như con gái con trai” tác giả muốn nhân cách hóa làm sống động cây rơm, cây rơm cũng có hồn có vía; “Cái đêm hoa lý, hoa mai hồng trần” là mỹ dụ trong nghệ thuật, ký ức trở nên đẹp lấp lánh.
Đoàn Thị Ký luôn vậy, suy tư trong tạo hình, biết làm mới những điều giản dị. Bản chất của văn học là lao động ngôn ngữ, tạo nên sự khác biệt là ở sáng tạo, nhiều khi chỉ ở một thi ảnh, một câu thơ đã trở thành “định đề” làm nên sức sống.
Nhà thơ Đoàn Thị Ký đa dạng đề tài, thể loại trong sáng tác. Trong 5 tác phẩm (in riêng) có cả trường ca, nhưng điều đặc biệt là chị luôn có ý thức về lựa chọn thể loại, mỗi bài thơ là một tác phẩm hoàn chỉnh, từ dòng thơ, đến khổ thơ, đoạn thơ. Về mặt cấu trúc, tứ thơ của chị luôn chứng tỏ cách nhìn, cách cảm, cách cảm độc đáo. Tôi thích nhất là thơ lục bát của nhà thơ Đoàn Thị Ký, dẫu đây là thể thơ truyền thống của thi ca, nhưng luôn “thách thức” nhà thơ, bởi dễ gieo vần nhưng khó có bài thơ hay.
Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh có hai câu thơ: “Xưa tôi sống trong làng / Giờ làng sống trong tôi”, (Làng), đúng với tất cả những nhà thơ có gốc gác từ làng, mang nặng ký ức trong tâm hồn. Trong ký ức về cố thổ của Đoàn Thị Ký có ký ức về mẹ. Bài thơ lục bát “Thưa mẹ, hạ tuần trăng” là cảm xúc từ một hoàn cảnh đặc biệt. Đó là ngày còn bé, thời dói kém, chị giúp mẹ giã vừng. Vừng là thức ăn thời bấy giờ. Trong vườn nhà ai không có luống đất để trỉa vừng, trỉa lạc?
“Vào bếp đưa mẹ chiếc muôi / Lanh chân cơm cũng chín rồi lẹ tay”, đấy là tiếng gọi, giục con gái của người mẹ. Chỉ có thế thôi, sắp đến giờ được ăn cơm với thìa vừng rắc trên bát. “Thơm vừng hay tôi đang bay / Mẹ cho vét cối được ngầy ngà thơm / Chiếc môi vẹt góc mẹ đơm / Dễ đâu sớt hạt lửa rơm dợm trào”. Điệp từ “ngầy ngà”, thi ảnh “chiếc môi vẹt góc mẹ đơm”; “lanh chân”, “lẹ tay”....những động từ trong câu thơ vừa dân dã, thương yêu, vừa là sự sáng tạo.
“Để rồi thấm thía nông sâu / Chữ nhiêu vọng tỉnh canh thâu bằng lời /../ Thôi đành nuốt lệ đầy vơi / Mà thơ những tiếng ru hời gần xa”, (Thưa mẹ hạ tuần trăng).
Bài thơ này, Đoàn Thị Ký sáng tác trong ngày giỗ lần thứ 48 của thân mẫu, vào tháng 12/2023. Mẹ mất gần nửa thế kỷ nhưng hình ảnh mẹ, với tất cả sự thiêng liêng của tình mẫu tử hiện lên căng chật trong từng câu thơ, cặp thơ. Mẹ về miền mây trắng ngót nửa thế kỷ, thời điểm 2023, nhà thơ Đoàn Thị Ký cũng đã lên “chức bà”. Bài thơ như chiết ra từ tỉnh thức của kiếp người. Không riêng “Thưa mẹ, hạ tuần trăng”, các thi phẩm lục bát của nhà thơ Đoàn Thị Ký đều có vẻ đẹp giác ngộ, phật tính trong cõi nhân sinh.
Nói như nhà LLPB, Đinh Thanh Huyền, trong sáng tạo nghệ thuật, giới không phải là sự lựa chọn có ý thức. Thơ Đoàn Thị Ký hẳn nhiên là tiếng nói của giới – nhưng điều này không phải do chị là đàn bà; điều quan trọng là nhịp điệu ngôn ngữ, cách nhìn của chị. Cái tôi trữ tình, với tư cách là phương diện nghệ thuật, dường như “những điều rất gần gũi của đời sống” (như cách nói của Trần Đăng Khoa), trong văn bản của chị cất tiếng nói của ngàn năm quy ước.
“Đàn ông như gậy ăn mày / Người xưa đúc kết, người nay vận vào/..../ Quá mù trời chẳng ra mưa / Vân vi thầm hỏi gậy xưa ngắn dài?”, “Sao không ăn xuống củ mài / Tréo ngoe tiếng mõ thuyền chài ăn lên/.../ Nửa vòng lục bát bỏ quên / Đàn ông sực tỉnh gọi tên đàn bà”, (Hũ gạo đang còn). Những câu thơ lục bát giản dị nhưng ám ảnh ở sự chiêm nghiệm, ở hình tượng mà tác giả sử dụng, với tư cách là nghệ thuật thi ca.
Ngoài đời nhà thơ Đoàn Thị Ký là một người chân quê, hồn hậu, chất phác...và thơ chị về đề tài cũng lấy từ cuộc sống, nhưng chị ý thức rất rõ về sáng tạo. Đọc thơ chị, người đọc nhận ra sự tinh tế, phía sau mỗi câu thơ luôn có thông điệp thẩm mỹ. Dẫu là thơ lục bát hay các loại thơ vận luật khác như 5 chữ, 7 chữ...đều nhận ra chị chăm chút ngôn ngữ, diễn đạt chặt chẽ, sáng tạo.
Thuở bé, Đoàn Thị Ký được mẹ chăm chút và được thừa hưởng tâm hồn yêu văn chương của người cha là ông giáo làng Đoàn Công Trình. Ông có giọng ngâm thơ rất truyền cảm..., cứ thế tình yêu thơ lớn dần. Hồi ức lại cuộc đời và sự nghiệp, nhà thơ Đoàn Thị Ký, trải lòng, cuộc đời chị cũng gặp nhiều may mắn, từ khi đi học đến lúc bước vào thi đàn. Chị được nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Vương Trọng... truyền đạt kinh nghiệm, chỉ bảo.
Tâm hồn mơ mải đó đây, duyên phận đến với nhà thơ Đoàn Thị Ký muộn màng. Chị từng kết duyên với nhà viết kịch, nhà thơ Phạm Đình Hưng người Kẻ Bưởi, Hà Nội, không có con cái. Phủ nữ ai chẳng có khát khao làm mẹ? Thơ là nhu cầu tâm sự với chính mình.
“Hạt mưa như thể đi tìm / Chút hơi ấm của con tim đôi hồi / Câu thơ gói hạt mưa rơi / Chúng mình vừa mở có thời xa xưa”, (Cái đêm ấy thế mà mưa). Thiệt thòi làm nên nỗi đau man mác trong Đoàn Thị Ký.
“Mũi hái cong vòi moi / Chẽn lúa cong eo lưng con gái / Bầu trời cong vành nón trăng liềm / Cong mình tôm câu thơ ban mai búng nước / Được là mình / Duyên nghiệp /.../ Nhẹ như không...”, (Được là mình). Dẫu vậy, nhà thơ Đoàn Thị Ký đã sống hết mình, thanh thản vì luôn sống đúng mình. Chị có hạnh phúc được là mình./.
Ngày 17/7/2026
NĐH

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét