Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2015

NHỮNG CÂU THƠ HAY THỨC CÙNG BÓNG TỐI

TS Đường Văn

NHỮNG CÂU THƠ HAY

THỨC CÙNG BÓNG TỐI


ĐƯỜNG VĂN

          Đọc tập thơ Thức cùng bóng tối: 72 trang in, với 56 bài và 1 chùm thơ  2 câu (16 bài), chuyên 1 thể thơ sáu tám dân tộc (NXB Văn học, 2014) của cây bút trẻ khiếm thị Nguyễn Việt Anh, thấy hồn thơ lục bát quê Hà Nội này thật lắng sâu cảm nhận, trầm tư, suy tưởng về bản thân và cuộc sống, đăm đắm một nỗi buồn tái tê mà trong sáng, một niềm tin xanh tươi, trẻ trung vào tương lai. Tất cả khởi xuất từ một chàng trai mới ngoài 30 xuân mà đã trải gần 20 năm đằng đẵng không được nhìn thấy ánh mặt trời!
          Quyết  tâm chọn thể lục bát như 1 lối độc tấu của thơ mình, thật ra, Nguyễn Việt Anh cũng là người đi sau, ít nhất nối sau Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn…những tên tuổi đã thành danh lục bát gia…trên thi đàn Việt cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. Tuy nhiên, lục bát Nguyễn Việt Anh cũng đã bắt đầu hé lộ những phẩm tính tư tưởng – thẩm mỹ đáng chú ý của riêng mình, mà tôi vừa bước đầu nhận diện và khái quát trong đoạn trên. Đó cũng là những ưu điểm cơ bản của tập thơ Thức cùng bóng tối. Còn về nhược điểm, hạn chế: cũng khá rõ. Chẳng hạn, các đề tài, chủ đề thể hiện trong nội 1 thể thơ (tuy ngắn gọn, (bài dài nhất không quá 20 câu. Hầu hết các bài từ 4 – 8 – 10 – 12 câu), nhưng vẫn gây cảm giác đơn điệu, cũ kỹ. Một số câu, chữ, hình ảnh còn dễ dãi, khuôn sáo, một số vần gieo còn gượng ép
          Nhưng trong bài viết nhỏ này, tôi chưa muốn và cũng chưa có điều kiện để nhìn nhận, phân tích và đánh giá tập thơ đầu tay của Việt Anh một cách toàn diện, tỉ mỷ. Tôi chỉ làm được một việc rất nhỏ, nghiêng về cảm xúc, thưởng thức và không mấy khó khăn, là trích, lẩy ra một số câu thơ, bài thơ trong tập, mà tôi cho là được, là hay, rồi điểm xuyết đôi dòng phẩm bình theo cái gu thẩm mỹ của riêng mình, ngõ hầu chia sẻ cùng bạn đọc gần xa. 

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015

VÔ ĐỀ của PHẠM CÔNG TRỨ với lời bình HOÀNG DÂN

Nhà văn nhà giáo Hoàng Dân

Vô đề
                                                                       Phạm Công Trứ

Sau mỗi hàng lục bát
Có một nụ cười buồn
Trong mỗi chàng thi sĩ
Có một thằng trẻ con

Trong mỗi một phiến đá
Có một pho tượng rồi
Còn anh nhà điêu khắc
Bỏ phần thừa mà thôi

Trong mỗi một chiếc lá
Có một bài thơ rồi
Còn anh là thi sĩ
Giải mã từ mà thôi
            
Lời bình của Hoàng Dân
Sau mỗi hàng lục bát
Có một nụ cười buồn
Hiển nhiên là thể thơ lục bát hay bất kì một thể thơ nào khác đều chẳng có liên quan gì đến chuyện buồn, nhưng người viết ra những câu thơ thì có thể buồn, nhất là thơ lục bát. Buồn vì bị ám ảnh bởi những lời ru nẫu ruột nẫu gan chập chờn văng vẳng qua bao kiếp người: “Đêm qua mới gọi là đêm/Ruột xót như muối, dạ mềm như dưa”. Buồn vì một tình yêu đơn phương. Buồn vì mất một người bạn. Và buồn vu vơ: “Hôm nay trời nhẹ lên cao/Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Xuân Diệu)… Đó là cái sự buồn của người làm thơ, tức thi sĩ, mà thi sĩ đích thực thì vốn hồn nhiên như trẻ con:
Trong mỗi chàng thi sĩ
Có một thằng trẻ con

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

Mồng hai Tết… nhớ cô Kí

Nhà thơ nhà giáo Trần Trung

MỒNG HAI TẾT VIẾNG CÔ KÍ
Trần Tế Xương

Cô Kí sao mà đã chết ngay
Ô hay, trời chẳng nể ông Tây!
Gái tơ đi lấy làm hai họ
Năm mới vừa sang được một ngày.
Hàng phố khóc bằng câu đối đỏ
Ông chồng thương đến cái xe tay
Gớm ghê cho những cô con gái,
Mà vẫn đua nhau lấy các thầy

Lời bình của  Trần Trung

Mồng hai Tết… nhớ cô Kí


Cái tên thầy Kí – tức Kí Lục, người ghi chép giấy tờ, sổ sách trong các sở Tây xưa, lại đi kèm với cái tên “ăn theo”, như một thứ logic của thời Tây sang – cô Kí – tức vợ thầy Kí. Danh giá quá đỗi! Phải là những thầy Kí, thầy Phán, thày Cò… làm cho Tây Lang Sa, ăn lương Tây, mới có cơ hốt bạc “trăm nghìn vạn mớ”; mới được dịp thụ hưởng hương vị ẩm thực: “Tối rượu sâm banh sáng sữa bò”.

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

TẠM BỢ với lời bình của người đọc


Chử Văn Long
TẠM BỢ
Ngày chúng ta thương nhau về ở chung nhà
Có gian buồng không đủ mua cánh cửa
Anh nhặt nhạnh gỗ thùng, gỗ chợ
Miếng bằng gang tay, miếng khuyết tựa vành trăng
Để ghép nên cánh cửa
Với ý nghĩ một thời gian tạm bợ
Khi nào có sẽ thay cánh cửa vững bền…
Bây giờ em không còn, cái tạm bợ lại còn nguyên
Đau xót làm sao đời người nhiều khi ngắn hơn những gì tạm bợ
Đau đớn biết bao mỗi khi tay anh đụng vào cánh cửa
Tạm bợ còn đây mà em đã đâu rồi?
Chép lại bài thơ từ năm 2002, lúc ấy đã bước qua lâu rồi những thời khốn khó, nhưng khi bắt gặp “Tạm bợ” của Chử Văn Long, mọi kỷ niệm lại ùa về thế là vội vàng chép lại vào sổ tay bên cạnh những bài thơ mình thích, Trong cuộc đời mình không bao giờ nghĩ là sẽ gặp nhà thơ bởi công việc của mình chẳng bao giờ liên quan đến văn thơ cả, thích thì thich vậy thôi chứ chuyện gặp gỡ các nhà văn nhà thơ để mà bình thơ mà đọc thơ cho thỏa niềm đam mê với mình lại là một cái gì đó thật xa vời.
Ngày chúng ta thương nhau về ở chung nhà
Có gian buồng không đủ mua cánh cửa
Anh nhặt nhạnh gỗ thùng, gỗ chợ 
Miếng bằng gang tay, miếng khuyết tựa vành trăng
Để ghép nên cánh cửa
Với ý nghĩ một thời gian tạm bợ
Khi nào có sẽ thay cánh cửa vững bền…


LỜI BÌNH CỦA KHUẤT  THANH LÂM

Đoạn thơ đầu nói đến cái hạnh phúc đơn sơ của những đôi vợ chồng trẻ, chỉ cần thương nhau là đã đủ để sống chung một gian buồng còn thiếu thốn đủ thứ, thiếu cả cái duy nhất để làm cho gian buồng kín đáo cho hạnh phúc lứa đôi. Cái thiếu thốn, cái tạm bợ không chỉ của tác giả mà của nhiều người thế hệ 4-5x như mình, bài thơ làm sống lại những kỷ niệm của một thời khốn khó nhưng vẫn ngập tràn hy vọng ở tương lai: Khi nào có sẽ thay cánh cửa vững bền…
Khổ thơ sau làm người đọc nghĩ đến một cái gì đó xót xa cho một đời người, cái hạnh phúc trăm năm tưởng như mãi mãi lại ngắn ngủi lại mong manh không bằng những cái tạm bợ và khi tác giả mất đi người vợ, mất đi cái tưởng chừng như vững bền mãi mãi mới giật mình mới thảng thốt, mới chua xót nhận ra rằng người vợ yêu dấu của mình, nơi để mình lui về trú ẩn trong cuộc đời đã vĩnh viễn rời xa mình rồi vậy mà cái tạm bợ lại còn nguyên hiện hữu: 
Bây giờ em không còn, cái tạm bợ lại còn nguyên
Đau xót làm sao đời người nhiều khi ngắn hơn những gì tạm bợ

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

CON SÂU VÀ CON BƯỚM,...HAI CON CHIM SẺ,...MỘT BỨC TRANH,...


Nhà thơ dịch giả Triệu Lam Châu


THƠ X. MIKHANCOV TRONG BẢN DỊCH VIỆT, TÀY CỦA TRIỆU LAM CHÂU

Con sâu và con bướm xinh

Một con sâu, bộ lông xồm xoàm
Bò chậm chạm trên nhành cây nhỏ
Về phía bướm xinh đang đậu đó.

Đôi cánh bướm rực rỡ sắc màu
Như trang phục lộng lẫy ngày dạ hội.
Nhìn thấy con sâu, bướm ta liền nói:
Thoáng thấy bóng anh, tôi đã bực mình
Chỉ muốn vụt bay đi chốn khác.

Nói xong, bướm ta liền bay đi
Lẫn vào trong ánh trời lấp loá
Con sâu vẫn bò từng bước nhỏ
Rồi cũng thành một con bướm xinh.

Đạo lý nảy ra từ lông vũ:*
Hãy đừng quên xuất xứ của mình!
                                           1980

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

TỨ TỬ HÀNH ĐÔNG


TỨ TỬ  HÀNH ĐÔNG

Tặng HD – LC cùng LN, LD, CĐ và ĐC

ĐƯỜNG VĂN

Tứ tử hành đông, hướng Thạch Bàn,
Long Biên, sông Cái lạnh… man man…
Mừng Gương, Khúc khích*…nào, nâng chén!
Hưu … hắt! dường tan,… mấy dặm ngàn!...

Ngũ phụng ran ran, khoái luận đàm:
Nhân tình, thế sự, nổ … mê đam…
Vàng ngơi cũi lạ, la oang oác,
chênh giọng ngâm, ca, méo nhịp đàn!...

Càfe đậm, sánh, bưởi quê ngon!
Mải lắng Thời gian*: tích - tắc dồn.
Thưởng hương ly * ngát phòng, tinh khiết,
Bà Chín* vô, ra, hãnh diện… ròn!...

Con cháu bên nhà nghe, rúc rích,
ngắm ông - bà tiếp khách qua sông;
Nhanh nhánh nụ cười, tươi ánh mắt,
Sáng mồng ba*, hoan hỉ, cởi lòng!

Mặn khen hủ lão hay bày chuyện
lông bông, rủ bầu bạn chơi cùng.
Hẹn bén giêng hai*, mình tái ngộ,
Nhớ bên đoài, sóng vỗ bờ đông…!

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Hình tượng CẬU VÀNG trong sáng tạo nghệ thuật của KIM LÂN




H×nh tƯ­îng “CËu vµng”
trong s¸ng t¹o nghÖ thuËt cña Kim L©n
Nguyễn Thị Lan
1. Kim L©n (1921-2007), mét trong nh÷ng nhµ v¨n xuÊt s¾c nhÊt cña v¨n häc ViÖt Nam hiÖn ®¹i.
Kh¸c víi nhiÒu nhµ v¨n trÎ b©y giê viÕt rÊt µo ¹t, nhµ v¨n Kim L©n viÕt rÊt dÌ xÎn. ¤ng tù ®ïa m×nh lµ L·n «ng. Trong tiÓu sö v¨n häc, in trong kû yÕu cña Héi nhµ v¨n ViÖt Nam, tËp “Nhµ v¨n ViÖt Nam hiÖn ®¹i” vÒ s¸ng t¸c, t¸c phÈm cña Kim L©n ®­ưîc giíi thiÖu chư­a ®Çy hai dßng: t¸c phÈm ®· xuÊt b¶n: “Nªn vî nªn chång” (TruyÖn ng¾n 1955), “Con chã xÊu xÝ” (TruyÖn ng¾n 1962), “HiÖp sÜ gç”, “«ng c¶ Ngò”, “TuyÓn tËp Kim L©n” (1998,2003).
NghÜ  nhiÒu, sèng kü, viÕt Ýt, Kim L©n cã thÓ nh×n tËn m¾t c¸i g× m×nh viÕt ra ®· t×m ®­ưîc chç ®øng l©u dµi víi ®êi.

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2015

KHI TÌNH YÊU ĐẾN

                                                                  
Nhà văn nhà giáo Hoàng Dân


Khi tình yêu đến
                                               Lê Thị Kim

                                               Tình yêu không là gió
Chợt gần rồi chợt xa
Tình yêu không là cỏ
Mọc lan man thềm nhà

Em có một tình yêu
Mỏng manh như chiếc lá
Em có một tình yêu
                                                 Như sóng ngầm biển cả

Em biết nói thế nào
Về anh màu áo vải
Đôi dép lốp trật quai
Rút hoài chưa chặt lại

Anh bất ngờ như bể
Đến lặng thinh như tờ
Vẫn lành như chim sẻ
Bắt em ngồi làm thơ

Mười năm anh ở rừng
                                                  Em còn là "con nhỏ"
                                                  Ở khoảng giữa hai ta
                                                  Ầm ì bom đạn nổ

          Tại anh, chỉ tại anh
           Em dễ quên dễ nhớ
           Nhìn chi cũng hóa thành
           Gương mặt anh rạng rỡ

           Đang ăn cơm bỗng hát
           Giữa giấc ngủ mỉm cười
            Em bất thường lạ thật
            Bắt đền anh, anh ơi!
           
Lời bình của Hoàng Dân
Tình yêu là phẩm chất thiên phú, do đó có lẽ vào thuở sơ khai của xã hội loài người, tình yêu cũng sơ khai chăng? Nó sơ khai cả trong suy nghĩ lẫn cách biểu hiện. Nói cách khác, nó là một thứ tình yêu hoang dã? Cho đến nay, người ta có thể phần nào hiểu được buổi đầu của xã hội loài người qua các đứa trẻ, hiểu được tình yêu sơ khai qua sự rung động của mối tình đầu, hiểu được khát vọng khám phá thế giới của loài người qua những câu hỏi hồn nhiên của trẻ thơ mà người lớn không sao trả lời được; chẳng hạn: ai sinh ra con? ai sinh ra bố mẹ? ai sinh ra ông bà? ai sinh ra con gà, con chó, con trâu... ? ai sinh ra ông trời?... Thế cho nên bốn câu thơ mở đầu của bài thơ có vẻ như mơ hồ, khó hiểu:

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2015

VĨNH BIỆT BẠN BÙI TRUNG THÔNG!

VĨNH BIỆT BẠN BÙI TRUNG THÔNG!

Bùi Lan Hoa thông báo qua điện thoại bạn Bùi Trung Thông đã mất. Quá đột ngột. Đến viếng mới biết tin đầy đủ. Người bạn cùng với gia đình đi Cao Bằng. Khi cảm thấy khó chịu, Bùi Trung Thông đã táp xe vào ven đường. Rồi anh bị ngất và cấp cứu đã không khắc phục được bệnh tim. Hôm nay 9/1/2015, rất động bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã đến nhà tang lễ bệnh viện 354 phố Đốc Ngữ để viếng và vĩnh biệt Bùi Trung Thông. 63 tuổi bạn đã ra đi để lại muôn vàn thương tiếc cho người thân và bạn bè. Xin chia buồn cùng gia đình! Cầu chúc cho linh hồn bạn siêu thoát miền cực lạc!


                                                                                      Vòng hoa của nhóm bạn


                                                                                           Chờ viếng


                                                                                      Anh Định ghi sổ tang


                                                                                    Tang quyến và mọi người trong Lễ truy điệu


                                                                                  Trưởng bạn lễ tang đọc điếu văn
Trưởng nam Bùi Trung Hiếu nói lời cảm tạ

Đi vòng quanh linh cữu vĩnh biệt!

KHÔNG HỢP NHAU,...TRÁI CÂY,...NHÀ VĂN VÀ ANH HỀ...

      
Triệu Lam Châu


THƠ X.MIKHALCOV TRONG BẢN DỊCH VIỆT, TÀY CỦA TRIỆU LAM CHÂU   

Không hợp nhau

“Chào cậu! Lâu rồi ta không gặp nhau
Mừng cậu có một cuộc hôn nhân hợp pháp
Cậu béo lên, ăn mặc chỉnh tề…
Nay sống ra sao? Cậu hãy kể mình nghe!”

“Nay mình không còn ăn món ăn sinh viên
Và sống như một người chồng thực sự
Không làm gì trái với lương tâm…
Hàng ngày mặc áo đã được là
Bữa ăn luôn đợi mình ở nhà.
Vợ mình như một con chim non chu đáo
Mình bị ốm, cố chữa cho mình
Và cứ nói chuyện huyên thiên không dứt
Huyên thiên suốt ngày đêm
Rồi huyên thiên đến mức
Vụt biến ra khỏi nhà
Để tự nấu tự ăn…”
“Vậy thì…
Cưới vợ để làm gì cơ chứ?”
“Để đăng ký cư trú!”
                                    1976
                      
               Bấu hạp căn

“Xo t’uộng! Hâng lai hây bấu rẩp căn
Mẩng bạn mì tu rườn mẻn phép
Bạn biẻo them, slửa khoá kèn xình…
T’ởi slổng p’ần rừ? Lẩn hây  t’ỉnh  đuổi!”

“Cứ này hây bấu kin t’ồng p’ửa slon slư
Oạ slổng t’ồng lạo phua chăn dỉnh
Nắm hất lăng phít xá slim ky…
Mọi uằn nủng slửa bâư kiểng lướn
Toón kin ngòn lầng thả d’ú rườn.
Mjề hây t’ồng nổc eng d’au d’oỏng
Hây p’ần khẩy lẻ te chướng ngòi
T’ọ te cảng liền xiền bấu t’ặng
Phuối bặp bặp gừn uằn
Phuối liền xiền thâng mạ
Phứt bân pây, oóc khói tu rườn
Sle táng cươm, táng kin…”
“P’ận lẻ…
Au mjề mà hất lăng?”
“Sle tình ten  t’ỉ  d’ú!”
                            1976

             Trái cây

Trái cây tự khoe rằng:
“Mình đang chín ngon ngọt”