Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

NGUYỄN QUỐC CHÍNH bình thơ PHẠM LƯU VŨ

 


KHI MỘT CHỮ “THÔI” KHÉP LẠI CẢ CÀN KHÔN

Có những bài thơ dài hàng trăm câu mà đọc xong chẳng còn mấy chữ để nhớ. Lại có những bài chỉ tám câu, thoạt nhìn như một cuộc nghịch chữ bên chén rượu, đọc qua bật cười, đọc lại thấy phía sau tiếng cười thấp thoáng cả một cõi nhân sinh. Khúc văn tế tháng Bảy năm Bính Ngọ của Phạm Lưu Vũ thuộc loại .., “khó nhằn” khi phải viết
Giời cứ mưa lúc khoan lúc nhặt
Ta cứ buồn muốn chặt mình ra
Khúc đem hơ lửa qua loa
Khúc ninh nhựa mận cúng ma Ba tuần
Lại gặp gã hồi xuân nửa dưới
Nửa trên thì mắc lưới càn khôn
Đem dâng lên món mộc tồn
Bài văn gieo đến vần ồn thì… thôi.
Cái duyên của bài thơ bắt đầu từ việc nó mang tên một “khúc văn tế” nhưng nhất quyết không chịu trang nghiêm theo cách người ta vẫn hình dung về văn tế. Tháng Bảy vốn gợi mùa xá tội vong nhân, mưa ngâu, khói hương, những linh hồn không nơi nương tựa và khoảng cách mong manh giữa người sống với người đã khuất. Phạm Lưu Vũ dựng lên cái phông ấy, rồi ngay câu thứ hai đã bất ngờ phá vỡ nó:
Ta cứ buồn muốn chặt mình ra.
Buồn thông thường thì người ta khóc, uống rượu, bỏ đi đâu đó hoặc ngồi nhìn mưa. Còn ông này buồn đến mức muốn “chặt mình ra”. Và rồi quả nhiên cái thân ấy được chia thành từng khúc: khúc đem hơ lửa, khúc đem ninh nhựa mận. Một nỗi buồn đang rất trữ tình bỗng trượt sang bếp núc, món ăn, mâm cúng. Người viết biến chính mình thành lễ vật của nỗi buồn mình.
Đấy là một kiểu hài hước đáng chú ý: không đứng ngoài cuộc đời để cười thiên hạ, mà lôi chính mình lên thớt trước.
Nhưng nếu bài thơ chỉ dừng ở đó thì mới là một màn tự trào khá duyên. Bốn câu sau mới khiến tiếng cười bắt đầu có chiều sâu:
Lại gặp gã hồi xuân nửa dưới
Nửa trên thì mắc lưới càn khôn.
“Nửa dưới” còn hồi xuân, “nửa trên” đã mắc lưới. Một câu thơ nghịch ngợm mà dựng được cả chân dung con người trung niên: thân xác vẫn ham sống, vẫn còn bản năng, còn cái đầu đã bắt đầu mắc vào trăm thứ suy tưởng về trời đất, tuổi tác, được mất và sinh tử.
Một con người bị chia làm hai.
Phần xác chưa chịu già. Phần tâm đã bắt đầu hỏi chuyện càn khôn.
Nhưng nghĩ kỹ hơn, chẳng riêng gì tuổi trung niên. Con người từ thuở nào chẳng thế. Một phía luôn muốn sở hữu, yêu, ghét, ham muốn, níu giữ; phía kia lại khát khao hiểu đời, hiểu mình, tìm một con đường thoát khỏi chính những ràng buộc ấy. Ta vừa muốn bước ra khỏi chiếc lưới, vừa ngày ngày tự tay đan thêm mắt lưới.
Bởi vậy “lưới càn khôn” là một hình ảnh đắt. Nếu đặt nó trong trường liên tưởng Phật học mà bài thơ gợi mở, chiếc lưới ấy chính là bóng dáng của vô minh và những chấp trước khiến chúng sinh mắc trong vòng sinh diệt. Cái lưới không nhất thiết do một quyền lực bên ngoài giăng ra. Nó được kết từ chính ham muốn, sợ hãi, ái luyến, hơn thua và sự không thấy rõ bản chất của hiện hữu.
Thành thử “gã hồi xuân nửa dưới” thoạt đầu rất đáng cười, nhưng cười một lát lại thấy có bóng mình trong đó.
Rồi đến:
Đem dâng lên món mộc tồn.
Đây có lẽ là chỗ chơi chữ tinh quái nhất của bài.
“Mộc tồn” trong khẩu ngữ vốn là cách gọi tránh một món ăn. Đặt sau “hơ lửa”, “ninh nhựa mận”, nó hoàn toàn ăn nhập với lớp nghĩa trần thế, thậm chí có chút nhậu nhẹt dân gian của mấy câu đầu. Nhưng nếu dừng ở nghĩa ấy thì ta mới đọc được lớp ngoài.
Tách hai chữ ra, “mộc tồn” lại gợi một cách đọc khác: còn - Hữu.
Và chữ Hữu ở đây có thể được soi chiếu bằng chi Hữu (bhava) trong Thập nhị nhân duyên của Phật giáo.
Mười hai chi duyên khởi nối tiếp nhau: Vô minh - Hành - Thức - Danh sắc - Lục nhập - Xúc - Thọ - Ái - Thủ - Hữu - Sinh - Lão tử.
Hữu đứng sau Ái và Thủ, trước Sinh.
Có Ái nên nắm giữ. Có Thủ nên tiếp tục Hữu. Còn Hữu thì còn điều kiện dẫn tới Sinh; có Sinh thì tất yếu còn Lão – Tử.
Bởi thế, nếu đọc “mộc tồn” bằng cuộc chơi chữ của thi ca, ta có thể nghe phía sau món ăn dân gian một câu khác:
Hữu vẫn còn.
Mà còn Hữu thì còn luân hồi.
Còn luân hồi thì vẫn chưa ra khỏi “lưới càn khôn”.
Đến đây, “mộc tồn” và “lưới càn khôn” bỗng bắt được nhau. Hai câu thơ tưởng như một câu nói tục vui và một câu nói chuyện trời đất lại âm thầm nối thành một vòng nhân duyên:
Nửa trên thì mắc lưới càn khôn
Đem dâng lên món mộc tồn.
Con người còn ham muốn, còn Ái, còn Thủ, còn Hữu, thì cái lưới vẫn còn đó. Cái “gã hồi xuân nửa dưới” vì vậy không phải một chi tiết đặt vào chỉ để gây cười. Chính phần ham muốn ấy làm cho cả chuỗi phía sau chuyển động.
Tiếng cười bỗng chạm vào một câu hỏi rất cũ của con người: Ta mắc trong càn khôn vì càn khôn giữ ta, hay vì chính ta chưa chịu buông càn khôn?
Tất nhiên, không nên biến tám câu thơ thành một bài giảng Phật học. Thơ không phải giáo trình triết học, và sự liên tưởng của thi ca không cần vận hành như một phương trình kinh viện. Cái đáng kể ở đây là khả năng kéo những trường nghĩa tưởng rất xa nhau lại gần: thân xác và tâm linh, món ăn và sinh tử, dục vọng và càn khôn, tiếng cười dân gian và Thập nhị nhân duyên.
Một mâm cúng cô hồn, thế là bỗng chứa cả chuyện luân hồi.
Nhưng Gã thích nhất vẫn là câu cuối:
Bài văn gieo đến vần ồn thì… thôi.
Cái tài của câu thơ nằm ở chỗ nó chống lại chính sự quan trọng hóa của bài thơ.
Đang càn khôn. Đang vô minh. Đang Hữu. Đang luân hồi. Đang tháng Bảy, cô hồn, mưa gió. Đang có vẻ sắp bước vào một câu kết triết lý thật ghê gớm…
Thì thôi.
Chỉ một chữ ấy kéo toàn bộ bài thơ từ cõi cao xuống mặt đất.
Nhưng kỳ lạ thay, chính lúc bị kéo xuống, bài thơ lại mở ra một tầng nghĩa cuối cùng.
“Thôi” là một chữ rất Việt Nam. Thôi uống. Thôi cãi. Thôi giận. Thôi yêu. Thôi nghĩ. Thôi nhé. Thôi được rồi. Và cuối cùng là thôi một kiếp người.
Nó có thể là dấu chấm, cũng có thể là buông tay.
Đặt bên cạnh “lưới càn khôn” và cái Hữu vẫn còn, chữ “thôi” bỗng trở nên đặc biệt.
Đang Ái.
Đang Thủ.
Đang Hữu.
Đang mắc lưới.
Bỗng:
Thôi.
Chưa chắc đã giác ngộ.
Nhưng ít nhất đã xuất hiện một động tác tinh thần rất gần với sự buông: ngừng níu giữ.
Và đôi khi, giữa một đời người luôn muốn thêm - thêm tiền, thêm danh, thêm tình, thêm chữ, thêm cả những lời giải thích cho chính mình - biết nói một chữ “thôi” đã là việc không dễ.
Cái đáng quý hơn nữa là bài thơ không bắt người đọc phải giải nghĩa nó theo một con đường duy nhất. Người bình dân có thể bật cười vì “nhựa mận”, “mộc tồn”, “hồi xuân nửa dưới”. Người từng trải nhìn thấy một người đàn ông chưa chịu già. Người thích triết lý có thể nhìn thấy bóng dáng Vô minh - Ái - Thủ - Hữu - Sinh - Lão tử. Người yêu ngôn ngữ có khi chẳng quan tâm gì đến những tầng nghĩa ấy, chỉ khoái cái cách bài thơ đang lên giọng nghiêm trọng bỗng tự tay dập mình xuống bằng hai tiếng “thì… thôi”.
Tất cả đều được.
Bởi thơ không phải chiếc két sắt mà nhà thơ cất nghĩa vào rồi giao cho người đọc một mã số duy nhất. Thơ hay giống một căn nhà có nhiều cửa. Tác giả bước vào cửa trước, người đọc có thể vào từ cửa bên, thậm chí trèo qua một ô cửa sổ. Miễn là khi vào trong vẫn thấy có người ở, có hơi ấm, có một thứ gì khiến mình chưa muốn bước ra ngay.
Và có lẽ chỗ thú vị nhất của tám câu thơ này cũng không nằm riêng ở “càn khôn”, “vô minh” hay “mộc tồn”. Nó nằm ở thái độ tự giễu.
Phạm Lưu Vũ không đứng trên cao để giảng chuyện nhân sinh. Ông lôi chính mình vào cuộc. Không đứng ngoài dục vọng để phê phán dục vọng, mà nhận mình là “gã hồi xuân nửa dưới”. Không nói thiên hạ mắc lưới, mà để chính cái “nửa trên” của mình mắc trước. Không dựng một bài văn tế trang nghiêm để dạy đời, mà đang tế ma lại đem luôn bản thân ra làm món cúng.
Đấy là chỗ tiếng cười có phẩm giá.
Cười người rất dễ. Cười được chính mình mới khó.
Và đó cũng là khoảng cách đáng kể giữa hài hước với cay độc trong văn chương. Người dùng chữ chỉ để chế giễu thiên hạ thường khiến cái tôi của mình ngày một phình ra. Người biết đem chính mình ra cười thì sau mỗi tiếng cười, cái tôi lại nhỏ xuống một chút.
Nhỏ mãi.
Cho tới khi giữa càn khôn chỉ còn một chữ:
Thôi.
Tháng Bảy, người ta cúng những linh hồn phiêu dạt. Phạm Lưu Vũ dựng một mâm cúng bằng tám câu thơ, bỏ vào đó chút mưa, chút buồn, chút thịt da, chút hồi xuân, chút vô minh, chút Hữu, một nhúm càn khôn và cả cái tôi của mình.
Rồi khép lại.
Gã đọc xong bỗng nghĩ: có khi cái hay của thơ không nằm ở việc nó nói được bao nhiêu điều lớn lao.
Mà nằm ở chỗ, sau khi đã đi một vòng từ dục vọng đến vô minh, từ Hữu đến luân hồi, từ một món ăn rất trần thế đến cái lưới mênh mông của càn khôn, nhà thơ vẫn còn đủ tỉnh táo để nói: thì… thôi.
—-


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét