Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

BẾP TRÈM






BẾP TRÈM



(Tản văn)

ĐƯỜNG VĂN



     Đông tây - kim cổ, ai cũng biết vai trò quan trọng, không thể thiếu của cái bếp đối với đời sống vật chất, tinh thần của mỗi gia đình. Nhìn vào bếp, qua một bữa ăn thường nhật, người ta có thể đánh giá khá chính xác mức sống, cá tính, sở thích, thậm chí gu văn hóa thẩm mỹ và ẩm thực của bà nội tướng - chủ bếp, chủ nhà. Bếp là nơi quan trọng nhất, sau ngôi nhà chính, sau gian (phòng) thờ, gian (phòng) ở và gian (phòng) khách. Bếp, là nơi thỏa mãn nhu cầu tất yếu đầu tiên - nhất khoái / tứ khoái trong đời sống con người: ĂN. Bếp, hiển nhiên dùng để nấu ăn, chuẩn bị bữa ăn, cũng có thể là nơi ăn uống của mỗi gia đình hằng ngày. Nhà ai mà chẳng có bếp! Bếp phổ biến còn hơn cả chuyện thường ngày ở huyện! Nhưng chính ở đây, nếu bạn để ý tìm hiểu kỹ một chút, sẽ thấy không ít vấn đề lịch sử, văn hóa, xã hội, kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật  ẩm thực, vô cùng phong phú, đa dạng và thú vị không chỉ về không gian, của mỗi đất nước, dân tộc, mỗi vùng miền, thậm chí mỗi dòng họ, mỗi giai tầng, mỗi gia đình rất khác nhau, mà theo thời gian (lịch đại), từng thời gian, mỗi thời đại, giai đoạn lịch sử xây dựng, kiến trúc bếp, cũng mỗi thời một vẻ, từ đơn sơ, nghèo nàn, cổ lỗ đến sang trọng, lịch sự, văn minh, tối tân hiện đại…

      Tôi hoàn toàn không đủ trình độ và cũng không có tham vọng tìm hiểu, khảo cứu đề tài BẾP ở những phạm vi to lớn, bao quát, vĩ mô như thế. Trong bài tản văn nho nhỏ này, chỉ xin trò chuyện đôi điều cảm nhận, gợi lại vài hồi ức về cái bếp nhà nông làng Trèm ngày xưa cho đến cái bếp Trèm quê hương tôi thời @ đổi mới, ngõ hầu cùng bạn đọc tiêu bớt cái oi ả giữa mùa hè viêm nhiệt.



     Bếp truyền thống của nhà Việt ở nông thôn miền Bắc, miền Trung, nói chung, thường được đặt theo hướng nào? Đại thể:

-         Vuông góc với hướng nhà chính.

-         Theo hướng nhà chính (nối với 1 đầu hồi hoặc lấy 1 gian buồng nhà chính làm bếp);

-         Đối điện với nhà chính.

     Bếp thường có 1 gian; đôi khi cũng có thể từ 2 – 3 gian (thêm chức năng nhà ngang, nhà ăn, nhà kho…). Bếp có thể liền với cổng.

     Bếp nhà thường dân hầu hết là nhà cấp 4, 1 tầng, mái chảy, có dải hiên hẹp hoặc không hiên, có cửa ra vào, cửa sổ, có hoặc không cánh cửa…)

     Bếp nhà nông dân làng Trèm xưa, trải các thời kỳ chiến tranh loạn lạc, thời hòa bình hợp tác, thời bao cấp khó khăn…trong đó có nhà tôi, nay bình tâm lần lần nhớ lại, vẫn thấy hằn trong trí nhớ những ấn tượng kinh khủng, ghê người!

     Chật chội, bẩn thỉu, ẩm thấp, lộn xộn, luộm thuộm, bừa bãi… Bếp đã nhỏ hẹp, lại dựng sát cạnh chuồng trâu, bò, lợn, chó, gà, cống, rãnh tù đọng. Từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, từ mái (ngói, lá, tranh, rạ) dui, mè, hoành, xà ngang, dọc, (gỗ, tre) đến tường (gạch, đất, vách phên) đều bắt bám những lớp mồ (bồ) hóng đen - nâu sẫm lưu niên, dày đặc, tỏa mùi hăng hắc (Quét làm phân bón ruộng rất tốt). Đi lại, đứng ngồi, bưng bê không quen, không khéo léo, gượng nhẹ sẽ dễ dàng ăn ngay 1 cục xôm xốp, mềm mềm đen sì vào đầu, vào vai, vào bát canh đang bốc khói, vào đĩa cá rô vừa rán ròn thơm lựng… Lúc ấy thì chỉ còn biết lạy trời mà chuẩn bị ăn mắng đoảng, ăn roi phạt của bố (mẹ)!

Chơi PATTAYA







Chơi  PATTAYA

          Vũ Nho

Con gái đặt phòng qua mạng ở khách sạn Citin Loft. Chín giờ đi taxi đến Trung tâm thương mại. Mua vé đi Pattaya. Chờ 10 phút thì có xe. Bến xe Bangkok thật lạ. Không hoành tráng như ở Việt Nam. Xe thì giống như xe chất lượng cao của Việt Nam. Chưa đến 20 chỗ ngồi. Đủ khách là đi chứ không có chuyện kèm, hay nhồi. Đường tới Pattaya là đường cao tốc mỗi bên ba làn xe chính. Xe chạy rất nhanh và êm. Dọc đường có dừng lại một trạm để đổ xăng và cho hành khách nghỉ. Cũng tựa như trạm xe bên Trung Quốc, trạm xăng rất rộng, có cửa hàng nhỏ, có cà phê. Đặc biệt là khu vệ sinh sạch như trong khách sạn ba sao.

Hai tiếng đến Pattaya. Xuống bến xe buýt rồi gọi taxi về khách sạn. Lạ là ở Pattaya không có taxi đo mét. Chỉ mặc cả quãng đường. Hai trăm bạt về khách sạn. Phòng tầng 7, rộng, đẹp ( 2000 bat một đêm).

Nghỉ ngơi xong, đi ăn trưa. Rồi ra bãi biển chơi. Hầu như không có mấy người tắm. Bãi biển đang được chỉnh trang đường, vỉa hè. Có hai vị tắm ở chỗ con tàu nhỏ là anh cao tuổi và một phụ nữ Trung Á.

Chơi biển, thưởng thức món xôi xoài. Tôi ấn tượng với xôi và nước cốt dừa. Ngon cực. Nhưng không thơm như xôi Tây Bắc. Sau đó lại nếm một món đặc sản khác tựa như phở xào ở Việt Nam.

Buổi tối, đi taxi để xem biểu diễn. Chương trình nghệ thuật có tên Tiffany’s show.  ( Vé mỗi người 8oo bạt) Nghe kể thì trong chương trình, có nhiều nghệ sĩ chuyển giới từ Nam sang Nữ. Trước khi xem, ở sảnh rất đông các “cô” này. Ai thích chụp ảnh với các cô thì đưa tiền. Các cô ăn mặc sặc sỡ, đầu đội những chiếc mũ lông chim. Tôi có chụp mấy bức ảnh không khí chung.

Vào nhà hát, nhân viên yêu cầu không được chụp ảnh. Vì vậy hầu như không có được các bức ảnh theo tôi là rất độc đáo, đặc sắc về trang phục.

          Chương trình ca múa, nhạc tổng hợp chừng gần hai tiếng với các điệu múa, bài hát, hoạt cảnh. Có hai “cô” diễn với bộ ngực khủng bọc trong lụa đỏ. Các cô nhún “ti”, rồi đi xuống chỗ khán giả để cho họ nắn. Một người hóa trang nửa mặt là nam tóc đen, nửa kia là nữ tóc vàng, hát đối hai giọng. Khán giả chỉ nhìn thấy mặt. Khi bài hát kết thúc mới bật đèn cho mọi người thấy đó chỉ là một người. Có một màn tốp ca. Người lĩnh xướng và cả tốp ăn mặc nửa trắng, nửa đen, đồng phục nam. Hát hết một lượt, họ vứt bỏ áo ngoài trở thành các cô gái. Và cuối cùng, người lĩnh xướng bỏ cả váy áo, cô thành người mặc bikini hai mảnh...

Trong chương trình có một bài hát “Sài Gòn đẹp lắm” ( tôi không nhớ tên gọi bài hát, chỉ thấy có câu điệp khúc “ Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ới, Sài gòn ơi!” được hát bằng tiếng Việt. Có cảnh đạp xích lô và những diễn viên mặc áo dài, đội nón múa phụ họa. Tiếp theo là cảnh nhà thờ nóc củ hành Nga với bài “ Kachiusa”. Điều thú vị là một lời Nga, kèm theo lời dịch Việt ( Không có lời Thái).

Kết thúc buổi diễn đi xe “Soỏng thẻo” ( một dạng ô tô nhỏ có hai hàng ghế ngồi dọc xe) về khách sạn nghỉ.

          Buổi sáng anh chị cao tuổi tiếp tục ra bờ biển chơi. Biển Pattay a là biển chơi chứ không phải biển tắm. Buổi sáng nước rặc. Có hơn hai chục chiếc dù bay kín cả khoảng biển. Có một khinh khí cầu nữa. Không có người tắm. Khách du lịch vén váy, quần lội xuống bãi, ra tàu để đi chơi biển hoặc đảo. Tất cả đi theo đoàn của các công ti du lịch.

Không khí biển thật trong lành, mát mẻ.

Anh chị cao tuổi về tắm trong bể bơi của khách sạn. Rồi thu dọn đồ đạc, trả phòng đi ra Trung tâm Fectivan để chuẩn bị về. Nhìn xa, trung tâm không có gì đặc biệt. Nhưng vào bên trong thì ôi thôi: cực kì hoành tráng. Không một nhà hàng, khách sạn hay khu Vincom nào của Hà Nội có thể sánh được. Chỉ có thể so sánh nó với West Field bên Úc hoặc siêu thị ở Thượng Hải.

Khách sạn Hilton cũng trong quần thể này. Riêng khu ăn uống rộng mênh mông. Khách đổi tiền lấy thẻ. Trong khu bán hàng bằng thẻ. Không mua hết, khách trả thẻ, lấy lại tiền. Anh cao tuổi xài một tô mì Thái có rất nhiều tôm và khá cay. Lại tráng miệng bằng món mực  viên chiên tổng hợp trông như viên sô-côla.

          Chỉ có một điều dở ở Pattaya, đó là cống ngầm đậy bằng nắp thép hở. Mùi cống rãnh thi thoảng lại xộc thẳng lên vào mũi du khách. Không rõ là các vị lãnh đạo thành phố có biết? Chắc là có, nhưng chưa có biện pháp khắc phục.

          Phía phải của khu thương mại bán vé ô tô về Bangkok. Lại mua vé và ngồi chơi mươi phút là có xe. Vẫn hai tiếng về Bangkok.  Xe đỗ ở gần Victory Manument. Con gái sợ tắc đường nên cả nhà đi tàu điện trên cao 5 ga gì đó. Rồi xuống, đi taxi về nhà. Quãng 5 giờ về nhà. Kết thúc hai ngày chơi Pattaya may mắn và thú vị.

 Buổi sáng trên biển

Khách lội xuống Tàu
 Tòa nhà Central Festival
Một góc bên trong tòa nhà
Anh chị cao tuổi cạnh đài phun nước

Nhà thơ Triệu Lam Châu trong tiến trình hội nhập



 

 

Văn học Việt Nam


Nhà thơ dân tộc Tày Triệu Lam Châu trên tiến trình hội nhập



1.  Tiểu sử nhà thơ Triệu Lam Châu:

Nhà thơ Triệu Lam Châu là người con dân tộc Tày, quê ở Nà Pẳng, Đức Long, Hòa An, Cao Bằng, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, tốt nghiệp Trường Đại học Mỏ Xanh Pêtécbua tại Liên bang Nga năm 1976, hiện công tác tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hoà, Phú Yên. Nhà thơ đã ấn hành 15 cuốn sách văn học, bao gồm thơ sáng tác, thơ dịch, tiểu thuyết dịch và hai đĩa hát CD – đồng thời đã từng đoạt Giải nhất toàn quốc Cuộc thi dịch văn học nước ngoài ra tiếng Việt năm 1994 do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức, Giải nhất toàn quốc cuộc thi thơ về tình hữu nghị Việt – Nga năm 2000 do Trung ương Hội hữu nghị Việt – Nga tổ chức, Giải ba về âm nhạc năm 2007 của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam.

2.  Tiến trình hội nhập với nền thơ Việt Nam và Quốc tế:

2.1 Thơ Triệu Lam Châu mang đậm hồn Tày-Việt

Là một người con sinh ra tại đất Cao Bằng nên nhà thơ Triệu Lam Châu sớm chịu ảnh hưởng tinh hoa văn hóa và thiên nhiên tuyệt sắc mà vùng núi miền sơn cước ban tặng, thơ ông thể hiện một nổi nhớ nhung da diết về quê hương Cao Bằng với những địa danh như núi Khau Mi-à, Khuổi Phước, Nà Sáng, Thang Dào, Mèng Vần, Chon Uai, cánh đồng: Nà Roỏng, Bó Gảy, Khau Mụ, Bó Xum, thác Nặm Thoong, đèo Kiéo Pỉt…

Trong các sáng tác của Triệu Lam Châu, quê hương Cao Bằng hiện lên sao mà thân thương gần gũi, tưởng như chỉ cần dõi mắt qua ô cửa là có thể thấy được thác Nặm Thoong, thấy đèo Kiéo Pỉt, tưởng như chỉ cần ngước mặt lên là chạm vào Nà Pẳng đầy trăng…

Bên cạnh da diết nỗi nhớ quê là đau đáu hoài niệm về người mẹ đã yên giấc thu, là tình yêu vẫn còn lung linh trong ký ức.

Em đi tìm anh khắp vùng núi Khau Mi-à
Vẫn tinh khiết mạch nguồn Khuổi Phước
Suối Bó Toòng vẫn vô tư cất giọng ngàn róc rách
Giọt lệ dài theo suối tới xa xăm



Em đi tìm anh khắp Nà Sáng đầy trăng
Suối ngọt lịm tình anh từ độ ấy
Vườn ổi Thang Dào sao mà run rẩy vậy
Bao trái tròn thơm lấp loáng như trăng



Em lại trèo lên đỉnh Mèng Vần
Núi vẫn tròn mà tình ai lại khuyết
Một mình giữa ngàn sâu cách biệt
Phía cuối trời anh có thấu trăng xanh?

(Em đi tìm anh khắp vùng núi Khau Mi-à)



Thiên nhiên và con người của núi rừng Tây Bắc đi vào trong thơ Triệu Lam Châu như là máu là thịt là bản chất của nhà thơ, nhà thơ tâm sự rằng: “Tôi được sinh ra và lớn lên ở bản Nà Pẳng, xã Đức Long, Hoà An, Cao Bằng. Mối tình đầu của tôi với  một cô gái họ Bế cùng làng diễn ra vào cuối những năm sáu mươi tới đầu những năm bẩy mươi của thế kỷ hai mươi. Chúng tôi đã có cùng nhau những kỷ niệm hết sức êm đềm và đẹp đến mức lý tưởng trên quê hương miền núi. Những kỷ niệm trong trẻo ấm nồng như suối nguồn quê núi Khau Mi-à. Tuổi thơ của chúng tôi là tuổi thơ của lao động nhọc nhằn, vất vả mà vui như hội. Đó là những ngày cùng nhau lên núi chăn trâu. Trẻ em miền núi trước bữa cơm trưa, thường chạy ra vườn cắt lá chuối, hơ qua lửa cho lá mềm, rồi gói cơm nắm – để chiều đi chăn trâu trên đồi. Và khi ánh chiều nghiêng, dưới vòm cây bên suối, cả lũ cùng mở gói cơm nắm ra ăn chung với nhau trong mùi thơm của lá chuối hơ lửa rất đỗi nồng nàn. Tôi cùng nàng đi chăn trâu hồi ấy đã từng cùng chung những buổi chiều thơm như thế. Rồi mùi thơm ấy như còn phảng phất trong lòng tôi hôm nay, dẫu như đã mờ xa hơn năm mươi năm rồi…”

Tất cả những kỉ niệm xưa êm đềm đó đã đi vào trong thơ ca ông với bóng dáng cô gái dân tộc tày tóc xỏa như dòng suối, da trắng ngần như hoa mai trắng trên nương, không gian trữ tình là dòng sông là ánh trăng sáng, là ngọn gió, là núi Chon Uai …thiên nhiên, núi rừng đã chứng kiến tình yêu giữa chàng trai và cô gái.

Theo ánh trăng buồn, em lại ra bên sông
Nà Khản vẫn thơm lừng gió núi
Nụ cười hiện giữa dòng vời vợi
Có còn dành cho riêng em như thuở ấy nồng say?



Trăng ơi trăng, sao sáng thế đêm nay
Có sáng lại một nụ thầm trong ngực
Sóng suối vẫn ngời trong ánh biếc
Chảy về nơi hội tụ một vầng tròn



Tình ai tròn mà vạt gió lại mòn
Em vẫn khum tay vốc ánh ngàn đáy suối
Để lại thấy ánh sao xa ngời ngợi
Để cùng nhau bay lên núi Chon Uai…

                   (Dưới chân núi Khau Mi-à)

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

TRI ÂM

                                 
                                                                         Nhà văn Vũ Công Hoan                                


 TRI ÂM

                                                                                                    Dư Hiển Bân

                                                                                               Vũ Công Hoan dịch

          Mưa tuyết cực lớn. Đêm hết sức yên tĩnh. Đằng sau nhà ông tự dưng bốc cháy, trong phút chốc, ngọn lửa đã liếm cả ngôi nhà tranh. Ông chạy ra, mang theo một cái nhị.
          Ông không quay đầu, mà có nhìn lại cũng không thấy gì. Bởi vì ông mù hai mắt.Gió ùa đến,lạnh thấu xương. Ông dò từng bước trong gío. Cuối cùng ông biến thành một chấm đen, mất hút ở chân trời.
         
          Từ đó ông phiêu bạt nơi đất khách quê người.
         
          Đi theo ông là một cây nhị cũ kỹ. Ông đi hết thị trấn nhỏ này đến thôn bản khác, dọc đường chỉ có ông và cây nhị.Tiếng nhị réo rắt, vang lên ở những nơi ông đi qua.Tiếng nhị, nhỏ nhẹ mỏng manh như sợi tơ nhện.

          Đêm đến ông ngủ trong miếu dột, sau đống rơm,ông ngồi yên lặng, hai mắt đui mù không động đậy, nhìn vào cõi hư vô. Ngón tay ông run rẩy. Ánh trăng màu nước rót trên dây nhị, gợn lên vân sóng ngân nga vang xa.
         
          Những nơi đi qua, ông xin một chút cơm nguội, hoặc một hai cái bánh bao.
          Thông thường ông chỉ ăn một nửa, nửa còn lại ông để ở nơi ngủ, cạnh đống rơm, hoặc trong miếu dột. Hôm sau ra đi ông để tại chỗ.
         
          Mọi người ai cũng bảo,ông mù này nghèo, mà ăn uống cầu kỳ, thức ăn để cách đêm ông không ăn.
         
          Ông không bảo sao, chỉ lắc đầu thở dài. Khi ăn xin, ông vẫn xin thêm, đem về chỗ ngủ. Thức ăn còn lại, ông để tại chỗ. Có khi xin được ít, ông không ăn, cứ để nguyên một chỗ.
         
          Hôm nay trời mưa tuyết, đầu choáng mắt hoa, ông ngả người nằm xuống, Khi thức dậy,tiếng một cô bé cất lên dòn tan:
          - Tỉnh lại rồi, cuối cùng ông đã tỉnh lại rồi.
         
          Ông gật gật đầu, từ từ ngồi dạy, rất xúc động, không có thứ gì cảm ơn, ông cầm cây nhị, nhắm mắt, ngón tay run run, khúc nhạc vang lên ngọt ngào lay động.
         
          Khúc nhạc chấm dứt. Tất cả trở lại yên tĩnh.
          Lâu lắm, cô bé chợt bừng tỉnh, khen ông
          - Ông kéo nhị hay quá, cháu sẽ đi nói với sư phụ, ông đi theo gánh xiếc của chúng cháu được không?
         
          Nói xong, y như một cơn gió, cô bé chạy như bay như biến.
         
          Một lúc sau cô quay lại, ngồi cạnh ông.
          Ông cười hỏi:
-         Không nhận phaỉ không? Phải, một gánh xiếc cần gì kẻ kéo nhị cà tèng?
Cô bé nói:
-         Ông đừng sốt ruột, để cháu lại cầu khẩn sư nương xem.

          Ông cười. Sau khi cô bé đi, ông cũng lặng lẽ đi, cứ từng bước từng bước, lang thang đến nơi xa. Tiếng nhị như nước chảy bám theo ông. Thời gian cũng trôi đi trong tiếng nhị.
Trong lang thang xin ăn, ông cũng già dần đi.

MONG MANH SẮC TÍM



Bùi Kim Anh

      
MỎNG MANH SẮC TÍM

Làm sao có thể đi qua mà không dừng chân hay chí ít cũng một thoáng ngoái nhìn một hồ nước nhỏ sớm mai, nhẹ nhàng nắng, nhẹ nhàng gió, nhẹ nhàng vài tán lá như đĩa nhỏ dềnh dềnh cùng đôi bông hoa tím hồng xoè trên làn nước dịu êm. Đừng thấy hoa xinh xắn, hiền hậu mà cố với tay, cố kều mà cấu, ngắt. Hoa súng đấy. Cũng nở trong đầm, hồ, trong ao như sen nhưng hoa súng không lan đầy, không nở đầy, không lan toả mùi hương bay xa theo gió như sen. Qua đầm sen mùa hạ ta như bừng tỉnh, như mát mẻ như vì vừa qua một chặng đường dài oi bức. Cấu một lá sen để ngồi. Cấu một lá sen để che nắng trên đầu. Ngó có bông sen gần bờ ngắt, để ngửi, để hít gần hơn, sâu hơn hương sen. Nhiều lắm sen tàn sen nở rộng lòng cho kẻ yêu sen. Thời nay còn có người bán sen, bán gương sen ngay bên đầm sen cho khách vãng lai dừng xe nghỉ tạm. Nhưng không ai làm vậy với hoa súng cả. Thanh mảnh hơn, hoa súng nở lưa thưa trên đầm rộng, không vươn cao cao giữa những phiến lá rậm rạp như sen, súng đâm bông xà trên mặt nước, ngoi lên gần gụi với nước. Những chiếc lá tròn - có loại súng lá bị khía chữ V nối từ mép lá tới phần cuống lá, có loại súng lá không bị khía - nổi trên mặt nước chỉ làm nền cho hoa mà chẳng hề che lấp dáng hoa. Như một cô gái mảnh mai hoa súng để ta ngắm vẻ đẹp thơ mộng mà mơ ước, mà tơ tưởng. Ngắt hoa ra khỏi đầm, tách hoa ra khỏi bức tranh cảnh sắc yên bình hoa súng trơ trọi, rũ héo. Màu tím hồng mộng mơ, màu trắng thanh sạch trở nên buồn tẻ. Về nét đẹp này hoa súng tựa như hoa quỳnh vậy.

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

LỜI THỀ LÁ SEN

                                                                      Nhà thơ Nguyễn Đăng Luận

 
Ngô Hồng Nhung ( Trà Vinh ) Bình bài thơ :

LỜI THỀ LÁ SEN – Nguyễn Đăng Luận
 

                                     Lá sen chưa kịp đi tu
                             Mà hoa cúc đã nhuộm thu óng vàng
                                    Yêu em mua cốm làng Vòng
                            Nâng niu anh gói trong lòng lá sen
                                   Lời thề hôm ấy của em
                           Thơm như cốm ướp hương sen giữa mùa
                                 Không ngờ anh thật không ngờ
                          Lá sen rách. Cốm bây giờ thơm đâu ?   

     ( Buổi Ban Đầu – Thơ tình Nguyễn Đăng Luận NXB Hội nhà văn 2003-2004 )                                   
Sao mỗi lần đọc đến thơ Nguyễn Đăng Luận là tôi cứ thấy thương cho cái hồn thơ yêu đời, yêu người lắm mà hình như chưa bao giờ tác giả được đáp lại, được trân trọng cái tình chân thật, đầy hoài mong và cũng đầy khắc khoải ấy! Mà biết đâu đó chính là cái ý đồ nghệ thuật, cái nét riêng bình dị đáng quý của tác giả? Dù với dụng ý nào thì trong thơ Nguyễn Đăng Luận ta không thể phủ nhận thi chất của người nghệ sĩ. Thơ ông có sự kết hợp hài hòa những cảm thức thẩm mỹ giống lối thơ cổ của Nhật Bản- không quên bản ngã và cái đẹp được song hành.
 Đối với Nguyễn Đăng Luận, thơ với đời, đời với thiên nhiên là một, trong sự gắn kết mật thiết. Khi đánh giá thơ ông, tôi không quá chú trọng đến thể thức, vần, nhịp điệu vì trong hai bài bình : “ Lời thề lá sen “ của Nhà thơ Ngô Quân Miện, nhà thơ Nguyễn Khôi đã nói rất rõ ràng rồi. Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là không cần thiết bởi thơ là sự sáng tạo độc đáo bằng trí tưởng tượng bay bổng của người nghệ sĩ nên thơ phải có được tính thơ, tính nhạc và tính họa thì nó mới có được sự cân đối chỉnh thể về nội dung và hình thức. Điều này, nhà thơ đã làm được nhưng với sự cách điệu rất riêng không thể cưỡng ép, một phong cách riêng của Nguyễn Đăng Luận!
Bằng sự tinh tế và nhạy cảm, nhà thơ đã phát hiện và khẳng định những nét đẹp hiện hữu trong những sự vật bình thường của đời sống: lá sen, hoa cúc, cốm Làng Vòng,…Tất cả những sự vật đời thường ấy được tác giả xâu chuỗi lại mà nên thơ, giàu chất thơ, chất trữ tình hiện đại.
Đến với bài thơ Lời thề lá sen, ta bắt gặp chính những điều tôi vừa nêu ở trên đó là tác giả đã khéo léo mượn vật, mượn cảnh để ngụ tình. Nghệ thuật miêu tả mà tác giả vận dụng đó là mượn“ Không gian mùa” để thể hiện ý và tình của mình nên tôi thiên về cảm nhận hơn là sự phân tích câu chữ trong bài thơ.

CHÓ SÓI VÀ CỪU TRONG THƠ NGỤ NGÔN CỦA LA PHÔNG TEN









CHÓ SÓI VÀ CỪU TRONG THƠ NGỤ NGÔN CỦA LA PHÔNG TEN
                                                (Trích)
                                                          H. Ten     
                                                                          Vũ Nho           

          1. Sách giáo khoa ngữ văn 9 tập hai có bài Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông ten của nhà phê bình nghiên cứu văn học Pháp kiêm triết gia, sử gia  H. Ten. Đây là một đoạn trích nhỏ trong công trình nghiên cứu La Phông ten và thơ ngụ ngôn của ông xuất bản năm 1853.
          Để có thể nắm được đoạn trích nhỏ này,  người học cần nắm được nội dung những bài thơ ngụ ngôn của La Phông ten có liên quan đến hình tượng Cừu và Chó Sói. Theo PGS.TS. Lộc Phương Thuỷ, chuyên gia nghiên cứu văn học Pháp, thơ ngụ ngôn của La Phông ten  có 3 tập gồm 12 quyển với tổng số 238 truyện ngụ ngôn.
Trong số đó  chỉ có 3 truyện  có nhân vật Sói và Cừu ( một truyện đã được Tú Mỡ dịch và in trong sách giáo khoa Ngữ văn 9). Hai truyện khác thì có một truyện liên quan trực tiếp đến Sói và Cừu. Đó là truyện nói về cuộc hoà hoãn giữa Sói và Cừu sau cuộc chiến kéo dài hàng ngàn năm. Hai bên trao đổi tù binh. Phía Sói nhận về những con Sói con. Phía Cừu nhận về những con chó chăn Cừu. Một thời gian sau  khi hoà bình, những con Cừu mập mạp nhất đàn bỗng tự nhiên biến mất. Kết luận là không bao giờ có hoà bình giữa những kẻ thù truyền kiếp. Một truyện khác nói về người chăn Cừu và đàn Cừu có liên quan đến Sói.
Không có một truyện ngụ ngôn nào nói riêng về Cừu hay nói về Cừu với những con vật khác.
Có những 14 truyện có nhân vật Sói. Khi thì là Sói và Ngựa; khi là Sói với người; khi là Sói với người đi săn; Sói với người chăn Cừu; Sói và Cáo (2 truyện); Sói và con Chó gầy; Sói, người mẹ và đứa con; Sói, dê cái, dê con; Sói, Ngựa và Cáo; Sói trở thành người chăn Cừu...Như vậy Sói là một nhân vật quan trọng, xuất hiện nhiều trong thơ ngụ ngôn của la Phông ten, tần suất xuất hiện cao hơn hẳn Cừu.
Nhận xét của H.Ten là nhận xét dựa trên 17 truyện trên chứ không phải chỉ là một truyện mà  chúng ta có trong tay. Tuy vậy cần thấy rằng khi nhà nghiên cứu, phê bình đã khái quát về hình tượng Cừu và chó Sói trong thơ  ngụ ngôn của La Phông ten thì  Sói và Cừu trong một truyện cụ thể cũng phải thể hiện đúng tinh thần khái quát đó. Có như thế thì việc khái quát của nhà phê bình mới có giá trị.

2. Đây là một đoạn trích trong cuốn sách chứ không phải là một bài viết độc lập, vì vậy cần  xác định đoạn trích chia làm hai phần (không nên tìm bố cục của bài nghị luận). Phần đầu cũng là trích chứ không phải mở bài của một bài nghị luận cho nên mới bắt đầu ngay bằng “Giọng của chú cừu non tội nghiệp mới buồn rầu và dịu dàng làm sao!”. Phần đầu nói về hình tượng Cừu(từ đầu cho đến ...với bao nỗi buồn rầu và tốt bụng như thế...), phần sau  tiếp đến hết nói về hình tượng Sói.

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

Tiếu lâm Gabrovo 7






TIẾU LÂM GABROVO 7 ( TIẾP)

MẤT SƯỚNG
Một vị khách du lịch ghé vào Gabrovo đến một cửa hiệu mua đồ lưu niệm. Sau khi chọn một món đồ trang sức, anh ta hỏi giá, trả tiền và bước ra.
          - Này, đợi đã, quay lại! – Người bán hàng gọi với – Anh hãy trả lại hàng cho tôi và cầm lấy tiền!
          - Vì sao?
          - Bởi vì rằng anh không mặc cả. Anh cần phải mặc cả, nếu không thì lợi nhuận buôn bán sẽ làm tôi mất sướng!

ĐO LƯỜNG
Người ta hỏi một người Gabrovo:
          - Làm ơn xem hộ mấy giờ rồi?
          -  Mười giờ … hai mươi lăm phút …năm chục giây!
Anh ta vừa liếc nhìn đồng hồ vừa đáp.

NÓ ĐÃI
Ba người bạn vào hiệu ăn. Họ ngồi quanh bàn. Hai người say sưa tán chuyện. Người thứ ba dân gốc Gabrovo, cầm lấy thực đơn và gạch hết những món đắt tiền, rồi thì thào với người phục vụ đang ngạc nhiên:
-         Lần này tôi sẽ trả tiền chiêu đãi…

LỜI KHUYÊN MIỄN PHÍ
Người Gabrovo gặp một bác sĩ quen trên phố, muốn tranh thủ lời khuyên không mất tiền, liền hỏi:
-         Bác sĩ ơi, ông sẽ làm gì khi bị cảm lạnh?
Tôi hắt hơi – Bác sĩ gốc Gabrovo trả lời.

BÀI HỌC
Người hàng xóm của cha MiNhiu đánh bạo hỏi vay tiền của cha khi chưa trả xong món nợ cũ. Ông già nghe anh ta trình bày và cho phép anh ta mở trap lấy số tiền cần vay.
-         Nhưng trong trap không có tiền! – Người hàng xóm kêu lên sau khi mở cái trap rỗng.
-         Đào đâu ra tiền, nếu như anh chưa hoàn lại chúng? – Cha bình thản trả lời.

GIỮA NHỮNG NGƯỜI GABROVO
-         Cái nhẫn đính hôn của cậu đâu?
-         Tuần này thuộc phiên vợ mình đeo.

ĐÁNH LỪA
Chàng Gabrovo ngủ trong khách sạn rẻ tiền. ban đêm, anh ta bị rệp cắn. Anh chàng vùng dậy, bật đèn sáng, mở toang cửa, sau đó len lén đống lại và lại nằm xuống ngủ. Người cùng buồng tỉnh dậy ngạc nhiên nhìn chàng Gabrovo. Anh chàng kia giải thích:
-         Tôi đánh lừa lũ rệp. Cứ để chúng ngỡ là tôi đã đi rồi!

TRONG HIỆU ĂN
Người Gabrovo:
-         Bồi bàn, tôi đánh rơi đồng mười chinh. Nếu anh tìm thấy thì trả lại cho tôi, còn nếu không tìm thấy thì giữ lấy mà trả tiền chè.

NGƯỜI SỐNG LÂU
Một nhà báo đến gặp một cụ già Gabrovo sống lâu trăm tuổi chăn dê và cừu trên núi để phỏng vấn.
-         Thưa cụ, cụ uống sữa cừu hay sữa dê ạ? – Nhà báo đặt câu hỏi đầu tiên.
-         Cái gì rẻ tiền hơn thì ta uống, con trai ạ! – Cụ già đáp.

Nho dịch ( Còn tiếp)













Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Hai cây phong








HAI CÂY PHONG

          Trích “ Người thầy đầu tiên” của T.Ai-ma-tốp

                            Vũ Nho

          Đoạn trích này là một đoạn rất hay, rất mẫu mực về văn miêu tả.  Nhưng để làm rõ cái hay đó, và nhất là để  cảm nhận được cái hay đó thì không dễ dàng. Tóm tắt câu chuyện trang 99 của sách giáo khoa cho  các em học sinh hình dung được hai cây phong liên quan đến nhân vật chính là An-tư-nai “ Khi An-tư-nai còn đang học ở trường làng, có hôm Đuy-sen mang về trường hai cây phong non và bảo em: “ hai cây phong này thầy mang về cho em đây. Chúng ta sẽ cùng trồng. Và trong khi chúng lớn lên, ngày một thêm sức sống, em sẽ trưởng thành, em sẽ là một người tốt...Em bây giờ trẻ măng như một thân cây non, như đôi cây phong nhỏ này...”. Nhưng nhân vật tôi kể chuyện Hai cây phong lại không phải là An-tư-nai. Đây là một học sinh thế hệ sau An-tư -nai rất nhiều. Khi anh ta  là cậu bé đi học thì hai cây phong non đã trở thành cây khổng lồ, anh ta cũng không biết  ai đã trồng cây phong, vì sao ngôi trường có hai cây phong ấy lại được làng gọi là “ Trường Đuy-sen”. Bởi vậy hai cây phong không chỉ là cây phong, mà nó còn là ngọn hải đăng đặt trên núi, là loại cây có tiếng nói riêng, tâm hồn riêng, là bóng mát che rợp tuổi thơ, là nơi cho các em  phóng tầm mắt nhìn vào miền đất quê hương “bí ẩn, đầy sức quyến rũ lẩn sau chân trời xa thẳm”.
          Cái hay của đoạn trích “Hai cây phong” chính là chất thơ và sự miêu tả tinh tế, thấm đẫm cảm xúc của nhân vật xưng tôi, một người học trò cách xa thế hệ của An-tư-nai bằng quãng thời gian cây phong non trở thành cây   khổng lồ.
          Trong mạch kể chuyện, người kể khi thì xưng tôi, khi xưng chúng tôi, rồi lại xưng tôi. Không thể nói là đoạn xưng tôi quan trọng hơn đoạn xưng chúng tôi, bởi vì mỗi mạch kể làm nổi bật một nội dung quan trọng.
          Đoạn văn người kể chuyện xưng tôi chủ yếu miêu tả vẻ đẹp của hai cây phong. Hình ảnh hai cây phong được giới thiệu khái quát về vị trí: mọc ở giữa một ngọn đồi phía trên làng. Đi về phía nào cũng nhìn thấy hai cây phong trước tiên. Hai cây phong được so sánh “như những ngọn hải đăng đặt trên núi” có ý nghĩa ca ngợi, đề cao vị trí và vai trò của chúng. Đó là tín hiệu của làng, biểu tượng của làng, định hướng của làng cho những người trở về cập bến quê hương.
          Người kể đã dùng biện pháp nhân hoá để nói về sự khác biệt độc đáo của hai cây phong. Một làng miền núi thảo nguyên không thiếu các loại cây. Nhưng hai cây phong “có tiếng nói riêng”, “có tâm hồn riêng”, có những bài hát riêng “chan chứa những lời ca êm dịu”. Bất kì thời điểm nào cũng có thể thấy được vẻ đẹp của hai cây phong. Về hình dáng : “nghiêng ngả thân cây, lay động lá cành”, về âm thanh “rì rào theo nhiều cung bậc khác nhau”. Những âm thanh đó khơi gợi những tưởng tượng vô cùng phong phú mà người kể đã khái quát “say sưa ngây ngất” : Như một làn sóng thuỷ triều dâng lên vỗ vào bãi cát; như một tiếng thì thầm thiết tha nồng thắm; cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào; reo vù vù như một ngọn lửa bốc cháy rừng rực.