Thứ Tư, 12 tháng 8, 2020

ĐƠN VỊ CỦA THƠ

 

 

ĐƠN VỊ CỦA THƠ

                  

                   Vũ Nho                         

                                                         

          Có một thời,  người ta đưa ra khái niệm nhà thơ một bài ,  nhà thơ của tập và nhà thơ  của nhiều tập. Sở dĩ có chuyện này vì có người làm thơ chỉ làm một, hai bài,  nhưng là  một,  hai bài nổi tiếng. Trong khi đó có người làm và in được cả tập thơ (nhưng lại không có bài nổi trội), và có người in đến 2, 3 tập thơ song vẫn không có bài nào, thậm chí câu nào được người ta để ý.  Thời ấy in được một tập thơ riêng thì đã ghê lắm rồi,  nên có 1 tập riêng,  2 tập riêng  thì danh hiệu nhà thơ gần như là chuyện hiển nhiên,  không cần bàn cãi.

          Thời bây giờ,  một cây bút thường thường bậc trung của một hội văn nghệ địa phương cũng có xông xênh trong túi vài tập thơ là chuyện thường ngày ở huyện. Nếu cứ gọi nhà thơ theo kiểu tính đơn vị  tập thơ ( chứ không phải bài thơ ),  chắc số người đạt danh hiệu này phải “lấy xe mà chở,  lấy đấu mà đong”.

          Việc phong danh hiệu nhà thơ là chuyện của Hội Nhà văn,  chuyện của các Hội văn nghệ. Nhưng có một điều là thơ được người ta tiếp nhận với đại lượng nào?

Nhiều tập thơ chăng? Con số không phải là không nói một cái gì đó. Tuy vậy, thơ cũng như văn,  cũng như nhiều sản phẩm khác: “Quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Dù có bao nhiêu tập thì khi đọc, người ta vẫn đọc theo bài, đánh giá thơ vẫn là theo bài.

 Một tập thơ chăng? Phải có nhiều bài đến mức nào đó mới thành tập được,  dù là tập mỏng. Vẫn là theo số lượng. Nhưng dù là tập thơ mỏng, người ta cũng không thể tiếp nhận nó ngoài cách đọc từng bài.

Như vậy đơn vị để trao đổi giữa tác giả và bạn đọc là bài thơ?  Quả vậy. Có thể có người chẳng có tập, nhưng một bài lẻ hay  vài bài chẳng phải là đối tượng tiếp nhận hay sao. Với một tập thơ hay nhiều tập, chỉ có bài hay, bài nổi trội mới là đáng kể . Có nhà thơ đã ước ao được một đôi bài. Nghe có vẻ rụt rè,  khiêm tốn quá. Nhưng thực tế là vậy đấy. Hãy xem : ông Bạch Cư Dị,  nhà thơ nổi tiếng đời Đường với số lượng khoảng 2.800 bài thơ. Nhưng liệu bạn nhớ được mấy bài trọn vẹn của ông ngoài mấy câu bản dịch Tỳ bà hành? Ấy là thời đó, thơ đường luật tứ tuyệt hay bát cú chỉ vỏn vẹn 28 chữ hoặc 56 chữ thôi. Chẳng là bao nhiêu so với sức nhớ khổng lồ của bạn.

 Có nhiều người coi việc tiếp nhận thơ chủ yếu là  bằng câu thơ. Nó là cái đơn vị nhỏ nhưng khá trọn vẹn để làm nên bài. Phải chăng nói bài thơ, nhưng câu thơ mới là quan trọng? Cũng đúng. Người đọc, sau khi tiếp cận với bài thơ, chỉ có câu thơ hay là ở lại. Vì vậy câu thơ là đơn vị cực kì quan trọng. Nhưng chẳng lẽ người làm thơ chỉ viết những câu thơ hay và đem xuất bản?

Tôi cho rằng bài thơ là đơn vị sản phẩm cơ bản đối với người viết, nhưng câu thơ hay lại là đơn vị  sản phẩm còn lại đối với người đọc. Bởi thế khi viết thơ,  người sáng tác chú trọng đến bài, nhưng cũng không thể bỏ qua câu thơ xương cốt, linh hồn của bài thơ . Bài thơ, câu thơ hay là mục tiêu cho người viết.

 

                                                    Vũ Nho  chủ trang

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2020

MỐT HỌC ĐÒI SÀNH ĐIỆU Ở GIỚI TRẺ

 

MỐT HỌC ĐÒI SÀNH ĐIỆU Ở GIỚI TRẺ

* Vũ Thị Hương Mai

Mốt chạy theo hàng hiệu hiện nay có lẽ cũng đang là một thảm kịch đối với một bộ phận giới trẻ học đòi lối sống sành điệu. Mặc dù gia đình không khá giả gì, thậm chí là túng thiếu nhưng các cô cậu ấy lại tìm mọi cách để có cái diện mạo "bằng bạn bằng bè". Trong lớp người ấy có thể kể ra vài gương điển hình như" Nga quê ở tận Lâm Đồng, một sinh viên ngoại ngữ năm thứ 2, thuộc gia đình nông dân không lấy gì làm khá giả. Nhưng cô dám "tậu" cho mình bộ nữ trang đắt tiền, bộ kính hiệu D & G và các loại quần áo, giày dép mốt nhất. Có thể toàn bộ khoản tiền gia đình gửi cho hàng tháng cô dùng vào việc mua một bộ đồ trang điểm, còn tiền sinh hoạt hàng ngày thì nay "giật" chỗ này mai "giật" chỗ khác của lũ bạn. Cách sống ấy của cô đã khiến bạn bè trong phòng, trong lớp học thấy khó chịu và dần dần xa lánh, chỉ còn thân thiết với mấy cô bạn cùng cảnh ngộ.

Câu nói của không ít dân chơi "rỗng ruột": "chiếc áo không làm nên thầy tu nhưng không có áo thì biết đấy là đâu" có lẽ là hợp lý? Nhưng sự thật là nó đã trở thành câu "danh ngôn" của giới chuộng hàng hiệu. Nhưng cũng chính quan niệm sai lầm đó mà đã có những người đã tự đánh mất mình. Điều đó được minh chứng bởi một "tín đồ" hàng hiệu đã không vượt qua được sự cám dỗ của bản thân mình, cũng chỉ vì sống chung với những tiểu thư con nhà giàu. Đó là trường hợp của Lan, một cô gái xinh xắn 21 tuổi. Cũng chỉ vì bản thân luôn khát khao có được những mẫu mốt mới, nhưng lại không có điều kiện để mua nên đã nhiều lần Lan lấy trộm của các bạn trong phòng cất vào va li quần áo của mình. Đến khi cả phòng thấy mất nhiều đồ đã mở cuộc điều tra và mọi người đã tìm được trong va li của cô từ chiếc áo Bosini, chiếc mắt kính Evita, son môi hiệu Lancôme, đến cả đồ lót Jockey... Sau sự việc như vậy, chắc hẳn mọi người đều có thể đoán được kết cục của nó, cả phòng đã tẩy chay và đề nghị cô chuyển đi nơi khác.

Lại có một kiểu sành điệu mà bình thường khó lòng chúng ta có thể ngờ tới, đó là chơi "hàng mượn". Ra ngoài đường có thể nói vô vàn các nam thanh nữ tú bóng bẩy ngồi trên xe tay ga đời mới, điện thoại di động đắt tiền, quần áo đều mang các thương hiệu nổi tiếng... nhưng biết đâu trong số lại đang dùng "hàng mượn" trong vài tiếng đồng hồ.

Tình cờ chúng tôi có vào một cửa hàng sửa chữa xe máy, chủ thợ là một thanh niên trẻ tuổi, có phong cách thoải mái, nên chúng tôi đã nhanh chóng nói chuyện cởi mở với nhau. Trong thời gian ngồi đợi sửa xe, tôi đã chứng kiến anh chủ thợ tên Huy này hướng dẫn tận tình một thanh niên khác vào giới chơi "hàng mượn" của nhóm anh ta với lời thuyết phục: "Đã bước ra đường chơi thì phải bằng bè bằng bạn. Trang bị cho mình "xịn" từ đầu đến chân thì có nói cái gì cũng linh và dễ dụ được các em sa lưới. Chỉ có điều chi phí tiêu sài của người ta một đêm là cả trăm, cả nghìn đô, còn mình thì chỉ cần một đến hai trăm nghìn đồng". Anh ta còn giải thích cặn kẽ rằng "Hai trăm nghìn nếu gói ghém, khéo tiêu thì vẫn chỉ: Giá thuê một chiếc Sylan/một giờ là 60.000 đồng; Áo vest khoác ngoài chính hiệu của Pháp là 40.000 đồng; điện thoại di động thời mới và nhẫn cẩm thạch là 50.000, số tiền còn lại vẫn đủ uống vài chai bia. Buổi tối đèn màu nhá nhem, quần áo bên trong không cần xịn nhưng quan trọng là một cái áo khoác ngoài thật ngon, đi xe @ hoặc Dylan và điện thoại di động đời mới thỉnh thoảng lại đưa lên Allo".

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

TIM NÚI VÀ TRÁI TIM THI SĨ

 

 

Tim núi và trái tim thi sĩ

(Đọc tập thơ “Tim núi’ của Trịnh Công Lộc, nxb Hội Nhà văn, quý III, 2019)

                                                                   Lê Hoài Nam

Được sáng tác trong ba năm, từ 2016 đến 2018, khi ấy tác giả cũng đã ở tuổi ngoai lục tuần, thơ đã ở độ chín, trầm tĩnh và lịch duyệt:…Gặp người già chầm chậm/ Lần đi từng bước một/ Mau đưa tay đón trước/ Như dìu đỡ mẹ mình/ Đi đường thấy người ngã/ Chẳng biết quê quán đâu/ Dang tay đỡ lấy họ/ Mình như bớt cơn đau/ Sinh ra cùng đất mẹ/ Lầm lỡ đến từ đâu/ Máu đã khô, đã tạnh/ Sao vẫn từ biệt nhau/ Biển giang tay đón trước/ Như sông kia bắt đầu (Đón trước)

Cuộc chiến tranh năm 1979, đang là giáo viên dạy văn của một trường THPT ở Quảng Ninh, Trịnh Công Lộc được điều động tăng cường lên  làm nhiệm vụ ở biên giới phía bắc, chứng kiến tất cả những gì mà cuộc chiến khốc liệt đã diễn ra. Sau gần bốn mươi năm nhớ lại con tim tác giả vẫn quặn đau.Nói về nỗi đau, tác giả không thảng thốt, gào thét hay mùi mẫm, bi lụy; anh nói bằng sự trầm tĩnh, nhẹ nhàng, có lẽ lối nói này mang hiệu quả lớn hơn:..Còn ai nguyên vẹn đâu/ Mà linh hồn siêu thoát/ Đêm đêm nghe tiếng thác/ Nước cũng nấc từng cơn/ Vẫn riêng có hoa thơm/ Phần máu xương gửi lại/ Hoa như nến thắp lên/ Thác còn thao thức mãi/ Thác gọi sông gọi suối/ Goi mây gần mây xa/ Bỗng đâu nghe tiếng lạ/ Vừa bay qua mái nhà…(Thác gọi)

Tôi rất thích hai câu cuối, nó được viết bằng cảm giác tinh tế, cái cảm giác mà chỉ người có trái tim nghệ sĩ mới có.

Không ít những bài thơ, câu thơ, thoáng đọc thì thấy nó có vẻ khuôn thước, khô khan, cảm xúc được giấu kín. Chẳng hạn, tác giả mô tả thu Hà Nội, đề tài mà đã nhiều người viết, nhưng anh vẫn gópmột giọng điệu:…Và đêm đêm ẩn hiện Cổ Ngư/ Thấp thoáng trăng soi mắt biếc/ Hoa sương nở khung trời dát bạc/ Nhè nhẹ lay dào dạt bên thềm…(Trái tim mùa thu). Như vậy, lối viết có vẻ cũ, nhưng ý tưởng và cảm xúc thì vẫn tươi mới. Chính vì cách viết ấy mà trong tập có khá nhiều câu thơ xuất thần, đọng lại trong trí nhớ bạn đọc:…Sợi duyên sợi chặt sợi bền/ Dệt nên hoa cỏ, dệt nên mắt người (Xe sợi tình yêu)…Em tìm ra biển rộng/ Mây vô lối trên đồng/ Gió lang thang khắp nẻo/ Cứ thổi vào hư không…Em tìm ra đường rộng/ Chưa đi đã hết ngày/ Đành thu vào gang tấc/ Vo chiều vào trong  tay (Chiều). Lá cây thì ở đâu chả có, lá nhiều và “tầm thường” đến nỗi người ta chẳng mấy khi để ý, nhưng trong cái nhìn của nhà thơ Trịnh Công Lộc thì nó không hề “vô tri vô giác”: Chẳng gì dễ gần hơn lá/ Từ vườn cây, ngõ xóm, lối đi/ Chẳng gì dễ thương như lá/ Khi vàng khô vẫn nhỏ nhẹ thầm thì…Gió mấy độ, mấy mùa với lá/ Lá bao phen đổ trận cuồng phong/ Gió cứ thổi chan chan mưa nắng/ Lá dịu dàng nhẹ mát như không (Lá).

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2020

BẾN CŨ XUÔI VỀ

 

BẾN CŨ XUÔI VỀ

                                                                                    Truyện ngắn của Trần Văn Thước

 

        Từ làng tôi có hai lối lên phố huyện. Một lối thong dong đường liên xã chừng bảy cây số; một lối qua bến đò sông Lăng, tắt ngang làng Quảng gần

được già nửa đường. Dọc hai bên lối xuống bến đò xanh rợp bờ tre dây.Giống tre dây thân nhỏ gióng dài, từng khóm, tửng khóm kết thành bờ cao vút. Không một tầm cấp dông bão nào đủ sức mạnh quật đổ bờ tre dây. Làng lấy thứ cây bé nhỏ kiêu hùng ấy đặt tên cho bến - bến đò Tre. Đi lối lụy đò thường là các bà các cô đi chợ huyện mỗi tháng ba phiên ngày bảy và mấy đứa học trò cấp ba không có hoặc không muốn phiền nhờ xe đạp.

                  .

 

     Bây giờ ngưới làng tôi vẫn kể chuyện này:

     Một dêm trăng muộn bờ bên vọng sang tiếng gọi đò.Ông Lân xuống đò nhanh gấp tay chèo. Tiếng gọi vống sang khẩn thiết mà con đò áp bờ gặp cảnh vắng tanh. Bến làng chưa từng có chuyện đùa đò nên ông giữ chèo chờ khách.Bất ngờ lưng chừng dốc bến ré lên tiếng khóc trẻ con. Ông Lân chạy lên thấy đứa trẻ nằm trong lòng thúng có dây ràng miệng buộc chặt vào bờ tre. Xem ra kẻ bỏ con vẩn còn chút lương tâm. Sợi dây ràng gi để đứa trẻ khỏi giãy lăn và tiếng gọi khẩn thiết hàm ý đánh động gửi gắm. Ông Lân bế đứa bé xuống đò, tay rung nựng tay chèo gấp. Đến giữa sông đứa trẻ khóc giãy lên, rúc ngực ông đòi bú.Ông dừng tay chèo, vỗ về đứa bé:  “Cơ duyên cho ta được gặp con.Con chờ ta ở bờ tre, ta đặt tên con là Trúc. Còn nửa dòng sông sông rộng nữa mới đến bờ. Con ăn tạm giọt nước sông ta uống từ tấm bé. Con bằng lòng cho ta làm cha thì ăn thì nín ngay nhé”. Ông Lân vốc nước giữa dòng cho bé Trúc ăn ba giọt.Bé Trúc nín ngay,tóp tép ngon lành ba giọt nước.

          Chỉ hôm sau khắp làng xôn xao chuyện đứa trẻ nằm trong thúng ràng bờ tre.Có người chê trách ông Lân vợ chết chưa được giỗ đầu đã léng phéng   rồi chạy làng nên người ta đem trả “hậu quả”. Những người hiểu tính nêt ông Lân thì cho rằng ở hiền gặp lành,ông trời có mắt.Ông Lân đi bộ đội ngót chục năm ở chiến trường Tây Nguyên. Sau ngày đất nước thống nhất ông về  làm chồng cô bạn từ thuở cắt cỏ chăn trâu. Mấy năm sau vâng lời mẹ già, vợ chồng ông tiếp việc đò giang. Bà Lân ba lần mang thai không đậu.Rồi sau chuyến đò chở khách thập phương về hội làng Dưỡng Thông bà đột ngột bỏ chồng bỏ bến. Các bác sĩ bảo căn bệnh nan y đường đột ấy thường đổ vào những người cả thương cả nghĩ. Sống hiền thác linh bà Lân xui khiến người đàn bà trót dại đem đứa trẻ đến bến đò cho chồng được làm bố. Bé Trúc đang khóc giãy nín ngay là nhờ vị sữa,lời ru trộn trong giọt nước sông Lăng.

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2020

MÙA HOA GẠO

MÙA HOA GẠO

Cụ Gạo ở xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tình Thái Bình có mấy trăm năm tuổi, là cây di sản quốc gia đã qua đời vì cơn bão số 2. Xin chia buồn với nhân dân xã Thượng Hiền,  các thi nhân Miền Cổ Tích!

Xin giới thiệu bài tản văn của Phạm Ngọc Tâm Dung, một con dân của xã như một nén nhang tiễn biệt!

vunhonb.blogspot.com

 

Tản văn của Phạm Ngọc Tâm Dung

 

Cứ độ tháng ba, tháng tư, là tôi lại nao nao nhớ mùa hoa gạo. Không hiểu tại sao, người xưa lại đặt cho loài cây cổ thụ cái tên giống như tên hạt vàng nuôi sống con người này. Làng tôi có khá nhiều cây gạo, nhưng đáng được lưu danh nhất là "ông" gạo xóm Tám và đặc biệt là hai "cụ" gạo Đình Trung.
Bà nội tôi kể rằng: khi bà còn bé tý, hai cây gạo to sừng sững có gốc sù sì hàng chục người ôm đã hùng vĩ, oai phong như thế này rồi.Đêm nằm gối đầu lên tay bà, tôi nghe người kể những truyện ngày xửa, ngày xưa...Theo lời bà tôi: Vùng quê tôi xưa nghèo lắm, cứ đến mùa "lộc đa hoa gạo" là mùa đói khát và bệnh dịch. Có những đận tháng ba, bao người bỏ làng ra đi phiêu bạt kiếm ăn. Có nhà mang theo những đứa trẻ. Khi lớn lên, và cha mẹ cũng qua đời, muốn về quê cha đất tổ mà chẳng nhớ nổi tên làng, chỉ nhớ hai cây gạo cổ thụ có hoa đỏ ối ở tỉnh "Thái" mà lần tìm được quê. Bởi lẽ, tìm được hai cây gạo cổ thụ hùng vĩ, qua bao thăng trầm bão gió, chiến tranh ...như cây gạo làng tôi, cả vùng đồng bằng bắc bộ còn chưa hẳn cơ hồ đã có được, nói chi "tỉnh Thái" của tôi.
Rồi tôi nín thở nghe bà kể về thời bà còn trẻ, chính mắt bà đã được xem chức sắc và trai đinh hàng phủ rước quan nghè vinh quy bái tổ. Bất chợt trời mưa, đám rước đông nghịt cờ lộng quần áo xanh đỏ ẩn dưới gốc cây gạo, mà...tịnh vô chả ướt ai sất...!Và mỗi lần dưới gốc cây, bao giờ tôi cũng hình dung ra bàn tay khổng lồ của các vị thần. Đã đôi lần, tôi cố tình chờ cơn mưa bất chợt mà đứng dưới gốc cây để...chờ bàn tay thần linh...Tôi kể chuyện này cho tụi bạn tôi nghe, đứa nào cũng tin hết !
Có những trưa hè, ngồi hóng mát dưới bóng cây na dại, bác tôi lại kể về "ma cây gạo":tầm canh ba, các cô gái làng đi bán gạo hay vào đồng gặt lúa thường..."giáp mặt" các loại ma, quỷ ...Khi tàng hình là một người đàn bà áo trắng,tóc dài đến gót chân, chải tóc, lúc thì hóa ra người đội nón rách, áo tơi ra đi từ cây gạo, hoặc vắt vẻo ngồi thổi tiêu trên cành cao... nhưng mà chả hại ai bao giờ. Dù rất sợ ma quỷ nhưng sức hấp dẫn của cây gạo Đình Trung vẫn mê hoặc bọn trẻ con chúng tôi. Có một đứa quả quyết rằng: "ma làng" thật ra cũng chỉ là những người làng ta ngày trước, chết mà thành. Họ cũng vì yêu ...gốc gạo mà lần trở về, vui chơi như hồi còn sống, nên không có gì...đáng sợ! Bao năm tôi cứ suy tư về câu nói ngày ấy của người bạn mục đồng và lạ thay càng về già tôi càng thấy... có lý!

                                                 Tâm Dung


Thứ Năm, 6 tháng 8, 2020

CHÙM CUỐI HÈ 2020


CHÙM CUI HÈ 2020

                 Trn Trung

1/PHƯỢNG HNG

Ríu rít phượng hng

N cười đ

Xòe

Lan lan b nước…

C chi liu r bên h

Buông lơi li Tình-S

 

Sc phượng đây,

Giăng khp đt tri và nng nàn hương la

Gi hè thc dy muôn nơi…

 

Khác chi khp nước non này

Cùng con người xưa nay

Chân mc, tht thà và t thân kiêu hãnh

Mc, Cơn-Lc-Đc lng hành muôn phương!

Mc, đến thi này…tình người phôi pha biến thái!

 

Kìa, phượng hng vn khoe sc đ tươi

Và, cht ngt bng lăng lăn lóc tím

Và, hoa sa lng thơm đm sâu…

Như n hôn bt tn

 

Thu ban đu.

( Hà Ni, 31/7/2020-Dch Cô-Vít tr li !?)


2/KHÓ NÓI

C chi: “Cháy nhà ra mt chut” !

Thi A-còng (@)-Tin, nhung nhúc chut tnh, chut điên !

Này chù.

Này cng…

Hám hôi vây ba, giăng khp mi min.

Nhung nhúc tàn phá, khoét đc

Nhung nhúc lên ngôi

Mà,

Dân-Tình-Ta, thi nào ch… chiến bi!

Đt by, tung b … biết bao gi cho xu

Ci khô, ci tươi… đt lò, đến bao gi cho hết, cho trong !?

Thi nay,

Nhan nhn, nhung nhúc lũ Chut-Người !

Nhan nhn

Chém gió như…Ai !

 

Tanh hôi ngp tràn làng quê-ph th

Chut ư ?

Nói di :

Hay là…

Nhà-Ta-Đang…

 

Cháy !?


Thứ Ba, 4 tháng 8, 2020

ẨN DỤ TRONG "TRUYỆN KIỀU"

ẨN DỤ TRONG "TRUYỆN KIỀU"

Bài của Trần Đình Sử

Truyện Kiều sử dụng rất nhiều ẩn dụ. Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi Truyện Kiều gồm có khoảng 240 câu có ẩn dụ trong số 3254 câu, chiếm tỉ lệ 7,2%. Mọi người đều biết ngôn ngữ thơ thực chất là ngôn ngữ ẩn dụ, do đó thành phần ẩn dụ gia tăng rõ ràng có tác dụng tạo nên chất thơ cho lời thơ, làm cho văn chương Truyện Kiều thêm bóng bẩy, thấm thía. Lê Trí Viễn từng nhận xét rất đúng: "Cách nói nhiều hình tượng trong Truyện Kiều là cách nói bằng ẩn dụ, không có trang nào là không thấy một vài ẩn dụ(1)

Khái niệm "ẩn dụ" mà chúng tôi nói đây mang nội dung hiện đại. Trong thuật ngữ phong cách học cổ điển Trung Hoa có thuật ngũ tỉ dụ bao gồm ba hình thức: minh dụ (A như B), ẩn dụ hay ám dụ (A là B) và tá dụ (mượn B thay cho A, A vắng mặt. Ví dụ: Tuế hàn nãi tri tùng bách chi hậu điêu dã. “Tùng bách” được ví với người quân tử, nhưng ở đây nó không được nói ra, vắng mặt). ẩn dụ trong nội dung hiện đại rõ ràng là bao gồm cả hình thức "tá dụ" nêu trên và chỉ phân biệt với "minh dụ", được hiểu là phương thức so sánh hình ảnh.

Ẩn dụ nói chung là phương thức tu từ thường gặp trong thơ ca (và cả trong các văn bản khác) có cấu tạo như sau: Nó đem từ ngữ hay phương thức biểu đạt vốn để chỉ sự vật A hay hành động A, mà chỉ trực tiếp sự vật B hay hành động B hoàn toàn khác, mà lại không thấy rõ sự so sánh giữa chúng với nhau. Người ta cũng gọi đó là ví ngầm, cái đem dùng làm ví là dụ thể, cái được ví tức là được nói đến là dụ chỉ. Trong văn học ẩn dụ là hình thức tu từ nhằm phát hiện cái tương đồng giữa hai sự vật khác lạ. Hai sự vật dụ thể và dụ chỉ càng khác xa nhau bao nhiêu thì ẩn dụ càng gây ấn tượng bấy nhiêu. Đó là ẩn dụ có giá trị nhận thức, phát hiện. Một số nhà nghiên cứu cho rằng ẩn dụ ở phương Tây thiên về giá trị nhận thức, còn ẩn dụ trong văn học phương Đông thiên về giá trị biểu cảm(2).



Truyện Kiều là tác phẩm văn học cổ điển thời trung đại, ẩn dụ của nó nằm trong quỹ đạo thi ca phương Đông. Ở đây ẩn dụ ít có giá trị nhận thức, phát hiện mà nặng về giá trị biểu cảm. Ẩn dụ biểu cảm có loại thể hiện cảm xúc nhất thời, thoáng qua. Có loại cảm xúc hằng thường. Chính vì nặng về giá trị biểu cảm hằng thường mà người ta thường sử dụng những ẩn dụ quen thuộc như là sáo ngữ. Nguyễn Du có những ẩn dụ biểu cảm độc đáo, nhưng vẫn có cội nguồn trong thơ văn Trung Quốc:

Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2020

Thử so sánh một số tục ngữ Đức và Việt Nam



Khảo dị Tục ngữ Đức & Việt Nam

Tiến sỹ Nguyễn Văn Hoa – Dịch giả thơ Đức ( Tháp Dương – Bắc Ninh Việt Nam )
 
1. Lịch sử vấn đề
Thiển nghĩ có thể chia văn học thành nhiều dòng chảy khác nhau
-in ra giấy
- truyền khẩu
-lan truyền trên mạng
Mỗi dòng chảy có vị trí độc lập ;
Mỗi cá nhân có kho tàng ngôn ngữ riêng , theo lứa tuổi , nghề nghiệp , theo địa văn hóa.
Trong khuôn khổ bài viết này , mình chỉ đề cấp đến Tục ngữ , loại văn học truyền khẩu , truyền miệng.
Hàng ngày trong đối thoại hai người , thường xen kẽ chèn vào các câu Tục ngữ , Và do đó làm cho câu chuyện thêm sâu sắc , xúc tích , ngắn gọn ; Giới hạn mình chỉ sơ khởi so sánh những câu tục ngữ , nó na ná nghĩa như nhau ( nghĩa đen hoặc bóng ).
Quá trình mình chuyển ngữ Thơ Đức sang tiếng Việt , trong giới hạn mật độ chữ hữu hạn , mình cố gắng học hỏi cách nói của Tục ngữ Đức & Việt , sao bài thơ sát ý , giải mã được thông điệp mà tác giả gửi gấm & học theo cách gieo vần & nhịp điệu , hình ảnh của bài thơ đó.
2. Tục ngữ là gì ?
2.1 Cách hiểu của người Việt 
Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền đạt, thường gieo vần lưng.
Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền đạt, thường gieo vần lưng.


                                                                     TS. Nguyễn Văn Hoa

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2020

NHỮNG BÔNG HOA KHUYẾN HỌC được giải thưởng!



NHỮNG BÔNG HOA KHUYẾN HỌC
          Qua “Hoa khuyến học” số 1, 2 và “Tình người khuyến học”, “Gương sáng khuyến học  của Hội khuyến học phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
                                                                   Vũ Nho
         Cuối  tháng 9 năm 2019, tôi có cơ duyên tham dự hoạt động vinh danh các tập thể cá nhân đóng góp xuất sắc cho phong trào khuyến học của phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Và tôi được  tặng  4 tập sách   do Hội tổ chức in ấn rất sang trọng. Hai tập  “Hoa khuyến học” và  hai tập “Tình người khuyến học”, “Gương sáng khuyến học”. Đây là những ấn phẩm văn hóa rất độc đáo về hoạt động khuyến học. Ngoài bài viết về phong trào khuyến học, còn có các bài viết về gia đình, cá nhân là tấm gương sáng, các em học sinh đoạt giải học sinh giỏi quận, thành phố, quốc gia và quốc tế.  Tác giả là các cán bộ khuyến học của phường, của các tổ, các hội viên. Thể loại gồm văn, thơ, nhạc, ảnh.
          Hội khuyến học phường Dịch Vọng Hậu là đơn vị khuyến học xuất sắc của thành phố Hà Nội và của cả nước. Từng được nhận Bằng khen của Hội khuyến học quận Cầu Giấy, Hội khuyến học thành phố Hà Nội, Trung ương Hội khuyến học Việt Nam. Và được Trung ương Hội khuyến học Việt Nam tặng cờ thi đua xuất sắc.
          Bốn ấn phẩm được in đẹp, trình bày trang nhã là một tài liệu quý về phong trào khuyến học  và xây dựng xã hội học tập của phường Dịch Vọng Hậu.
          Người đọc sẽ biết được lịch sử phát triển phong trào khuyến học của phường và kinh nghiệm  hoạt động qua các bài viết của Chủ tịch Hội Nguyễn Thị Tý, Phó chủ tịch Nguyễn Chiếm Sơn,  Phó chủ tịch Tạ Thị Ngọc Thanh, Phó chủ tịch Trần Thị Bích Hải.
          Đặc biệt nhất là các bài viết của cán bộ, hội viên về những tập thể xuất sắc, những tấm gương gia đình hiếu học, tích cực tham gia phong trào khuyến học của phường qua đợt phát động thi viết về phong trào khuyến học.
         Một gia đình 5 thế hệ  khuyến học là gia đình TS Nguyễn Thị Kim Thành và em trai là PGS. TS Nguyễn Ngọc Thiện. Trong bài viết của    Nguyễn Thị Tý - Chủ tịch Hội khuyến học phường có thống kê “ 5 thế hệ đã đóng góp cho xã hội 5 phó giáo sư, 10 Tiến sĩ, 9 thạc sĩ, gần 30 kĩ sư, cử nhân, bác sĩ… Đặc biệt có 3 người khi trẻ được nhận giải thưởng quốc tế”. Gia đình PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thiện còn có một thư viện trên 10.000 đầu sách.
          Một  dòng họ tích cực khuyến học là họ Lê của ông Lê Xuân Thê, một dòng họ 15 đời lập nghiệp ở làng Hậu (Dịch Vọng), trước đây không có người đỗ đạt cao. Chỉ từ sau Cách mạng, dòng họ mới có nhiều người đỗ đạt.  Ông Thê là tấm gương thành đạt, là Thủ khoa ngành vật lí vô tuyến, có 6 cuốn sách được in, được đặc cách công nhận học vị Thạc sĩ, tham gia đào tạo cao học ( Người khơi nguồn dòng chảy).




Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2020

TÔ NHI NÔ TÀNG HÌNH




TÔ NHI NÔ TÀNG HÌNH
          R. Rô-đa-ri ( Ytalia)
          Vũ Nho dịch qua bản tiếng Nga

Một hôm chú bé Tô-nhi-nô không thuộc bài. Trên đường đến trường, chú rất lo sẽ bị gọi lên bảng. “ Ồ! Giá mà mình biến đi được!...” – chú nghĩ thầm.
          Như thường lệ, bài học bắt đầu, thầy giáo điểm danh. Khi thầy gọi đến  tên Tô-nhi-nô, chú đáp : “Có”, nhưng chẳng ai nghe thấy. Thầy giáo nói:
          - Đẳng tiếc là Tô-nhi-nô không đến. Hôm nay thầy muốn hỏi bài em ấy. Nếu như em ấy bị ốm, chúng ta hi vọng là chỉ ốm nhẹ thôi.
          Lập tức Tô-nhi-nô hiểu rằng mong muốn của chú đã được thực hiện, chú đã thành người tàng hình. Sung sướng quá, chú  bay vụt ra khỏi bàn như một cái nút chai, lao thẳng vào cái sọt chứa đầy giấy vụn. Ra khỏi sọt, chú lại phóng vào lớp, giật chỏm tóc các bạn và làm đổ tung tóe các lọ mực. Cả lớp bỗng trở nên om sòm, huyên náo. Các bạn cãi cọ, hờn giận nhau, và tất cả đều nghĩ rằng một người nào đó có lỗi trong những trò nghịch ngợm này. Dĩ nhiên, không ai nghĩ đến Tô-nhi-nô tàng hình.
          Cuối cùng, Tô-nhi-nô cũng chán trò tiêu khiển đó. Chú rời khỏi trường và chui vào ô tô. Chú ngồi vào một ghế trống. Còn chuyện lấy vé, tất nhiên chú không nghĩ đến. Vì người soát vé không thể nhìn thấy chú. Đến bến sau, một xi-nho-ra lên ô tô mang theo một cái túi nặng trịch. Bà ta nhìn thấy một chỗ trống – chỗ Tô-nhi-nô đang ngồi, không đắn đo, bà ta đặt ngay cái túi của mình lên người Tô-nhi-nô. Chú bé đáng thương của chúng ta suýt ngạt thở, còn xi-nho-ra kêu lên:
          - Thế này là thế nào? Thật là một sự bịp bợm. Có lẽ bây giờ không nên đi ô tô nữa chăng? Các ông bà xem đây, tôi đặt cái túi xuống, thế mà nó cứ treo lơ lửng thế này!
          Hành khách trò chuyện, cãi cọ nhau, ai cũng chửi mắng sở giao thông thành phố.
          Đến trung tâm, Tô-nhi-nô chui ra khỏi ô tô, đoạn luồn ngay vào cửa hàng kẹo bánh và chén liền! Đầu tiên chú thọc tay vào nhộp bánh sữa phủ kín nho khô, sau đó chén thả cửa các loại sô cô la và đủ thứ bánh kẹo khác. Người bán hàng khi nhìn thấy quầy hàng vợi hẳn đi bèn nghi ngờ ngay cho một xi-nho oai vệ, người mua kẹo ca ra men cho bà thím  già của mình. Xi-nho tất nhiên là phản đối.


                     Vũ Nho