Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2025

NGUYỄN THỊ BÌNH giới thiệu

 ĐÔI ĐIỀU VỀ “TỪ NHỮNG TRANG VĂN”

CỦA NGUYỄN THỊ THIỆN
anh_nha_giao_-_nha_van_nguyen_thi_thien
NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ THIỆN


NGUYỄN THỊ BÌNH
Tôi đã biết nhà văn Nguyễn Thị Thiện từ khá lâu qua sách báo nhưng mãi năm 2024, dự Hội nghị Lý luận phê bình Văn học toàn quốc tại Hà Nội, mới có dịp gặp chị, vậy mà cứ như chị em đã biết nhau từ lâu. Đọc cuốn Tiểu luận & Phê bình “Từ những trang văn”, NXB Hội Nhà văn quý IV, 2024 - chị gửi tặng, tôi thật sự nể phục chị ở vấn đề chị chọn lựa và dấn thân trong tác phẩm. Ai cũng biết viết tiểu thuyết lịch sử là rất khó và viết phê bình về tiểu thuyết lịch sử là việc không phải ai cũng làm được. Với hơn 300 trang khổ thường, ngoài phụ lục và mấy bài khác, trọng tâm cuốn sách viết về tác giả và tiểu thuyết lịch sử; những bài viết đa phần đã được đăng tải trên các Báo, Tạp chí uy tín.

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2025

GIỚI THIỆU THƠ ĐƯƠNG ĐẠI NGA

 


GIỚI THIỆU THƠ ĐƯƠNG ĐẠI NGA

THÁI XUÂN NGUYÊN

Tác giả: Vadim Teryokhin
Vadim Teryokhin sinh ngày 27 tháng 1 năm 1963 hiện sống và làm việc tại thành phố Kaluga, thuộc vùng Kaluga, Nga. Ông là phó chủ tịch Hội nhà văn Nga. Ông từng giữ chức thứ trưởng Bộ trưởng Văn hóa tại Vùng Kaluga. Năm 1985, ông tốt nghiệp khoa chế tạo máy bay tại trường quân sự cấp cao Kadan; năm 1996 ông tốt nghiệp Viện văn học mang tên Mác-xim Gorky. Ông là một trong những nhà văn xuất sắc của Hội nhà văn Nga và tham gia tích cực trong các hoạt động của thi ca thế giới.
Xin trân trong giới thiệu dưới đây một chùm thơ mới sáng tác của ông.
CHÙM THƠ NGA TĐK GỬI

СЛОВО И МУЗЫКА
Вадим Терёхин
Слышишь, заводит сверчок
Песню на лире запечной.
Как бы мир не был жесток,
Слово и музыка вечны!
Мы рождены, чтоб пропасть
Канет во мгле бесконечной
Слава, богатство и власть.
Слово и музыка вечны!
Как же нам жить на земле?
Тихо, неспешно, сердечно.
В мире, лежащем во зле,
Слово и музыка вечны!
Жизнь поместилась в семь нот,
Но в суете быстротечной
Всё в этом мире пройдёт.
Слово и музыка вечны!
Dịch nghĩa:
ÂM NHẠC VÀ LỜI CA

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2025

PHIẾM ĐÀM của ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

PHIẾM ĐÀM của ĐỖ CHIÊU ĐỨC 

Thành Ngữ Điển Tích 117 : 

                                U, UYÊN, UNG, ƯNG.

     ĐỖ CHIÊU ĐỨC

                      Inline image
                                       Phong hỏa hí Chư hầu

     U là U VƯƠNG 幽王 : Ông vua cuối cùng của đời Tây Châu (Tây Chu), với sự tích như sau :

     CHÂU U VƯƠNG 周幽王(796—771 Trước Công Nguyên) Họ Cơ 姬, tên Cung Niết 宫涅, "Sử Ký" ghi là Cung Tinh 宫湦. Con của Châu Tuyên Vương, là đời vua thứ 12 cũng là đời ua cuối cùng của đời Tây Châu, ở ngôi được 11 năm thì mất nước (796- 771 trước Công Nguyên). Tương truyền :
      Năm thứ 3 đời U Vương có mỹ nữ Bao Tự nhập cung, được U Vương vô cùng sủng ái, chẳng bao lâu sau sanh được con trai là Bá Phục. U Vương bèn phế Thái tử Nghi Cửu là con của Thân Hoàng hậu, lập Bá Phục làm Thái tử. Bao Tự có gương mặt thật đẹp, nhưng lại luôn ưu sầu, U Vương đã thử rất nhiều cách để làm cho nàng cười, nhưng đều thất bại. Cuối cùng phải đốt Phong hỏa đài để hiệu triệu chư hầu đến cứu giá. Bao Tự trông thấy chư hầu kéo binh đến một cách vội vàng, cờ xí rợp trời, quân reo dậy đất, đồng thanh hô to cứu giá, bèn cất tiếng cười vang vì thấy các chu hầu bị gạt. U Vương thì tỏ ra rất hài lòng mãn nguyện vì đã làm cho người đẹp bật cười, còn các chư hầu thì ngỡ ngàng đem quân về xứ. Sau mấy lần đốt Phong hỏa đài để đổi lấy tiếng cười của người đẹp, U Vương đã mất đi cái uy tín của Thiên tử đối với chư hầu, nên khi Thái tử bị phế là Nghi Cửu chạy sang cầu cứu với ngoại tổ ở đất Thân. Thân Hầu bèn đem binh sang hỏi tội. Hai quân đánh nhau, U Vương yếu thế, đốt Phong hỏa đài để cầu chư hầu các nơi đem binh đến cứu viện, nhưng các chư hầu lại sợ bị gạt để làm trò cười cho Bao Tự, nên đều án binh bất động. 
     Cuối cùng, U Vương thua chạy đến Li Sơn thì bị giết. Chấm dứt triều đại Tây Châu và mở ra triều đại Đông Châu khi thái tử Nghi Cửu lên ngôi và thiên đô về đông. 

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2025

“Hồn Việt” và “dặm đời” trong thơ Lê Cảnh Nhạc

 

VŨ NHO GIỚI THIỆU

“Hồn Việt” và “dặm đời” trong thơ Lê Cảnh Nhạc

Tập thơ “Đi về phía mặt trời”, Nxb Hội Nhà Văn, 2024

PGS.TS. Vũ Nho

v_nho_nguyn_kh

          Nhà báo, nhà thơ Lê Cảnh Nhạc viết văn xuôi và làm thơ. Anh đã in bốn tập truyện và truyện kí. Anh từng in các tập thơ : Khúc giao mùa, nxb Hội Nhà văn, 2005; Không bao giờ trăng khuyết, 2010; Khúc thiên thai, 2015;  Non nước đàn trờì, 2015;  đều do nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Tập thơ thứ 5 của anh có tên là “Đi về phía mặt trời”, do cơ duyên mà đến tay tôi. Tôi đọc và ngạc nhiên, khâm phục về sức cảm, sức viết của anh.  Nhan đề của tập thơ giàu tính biểu tượng, thể hiện khái quát nội hàm hướng về mặt trời, hướng về ánh sáng.

Tập thơ gồm 123 bài được chia làm 2 phần với tên gọi: Dặm Đời và Hồn Việt. Dặm Đời là những bài thơ có tính riêng tư về cuộc đời tác giả, về những cảm xúc  tình bạn,  tình yêu, hạnh phúc. Còn Hồn Việt là những bài thơ về đất nước, quê hương, trong đó không chỉ  quê Nghệ Tĩnh, mà hầu như mọi vùng miền trên đất Việt Nam, kể cả hải đảo cho đến đất liền khắp Bắc, Trung, Nam. Có lẽ với cương vị nhà báo, tác giả đã  có điều kiện và phương tiện đi rất nhiều nơi. Điều đặc biệt là nơi nào  người đặt chân đến đều có thơ ghi lại, gửi lại, neo lại. Phải là người giàu cảm xúc lắm, nhạy cảm lắm mới có thể làm như vậy. Có thể dẫn ra nhiều khổ thơ  tràn đầy tình đất, tình người:

          Chè Hương Trà thắp đọt nắng quê em

          Sông dâng mỡ màu cây trái tươi xanh

          Ngô trổ cờ mướt phù sa đồng bãi

          Rặng gió bầu ngậm hương rừng núi

          Bậu mật ong ngọt lịm vị môi mềm

                   ( Hương Khê tình đất tình người)

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2025

THĂM MƯỜNG PHĂNG VÀ CỨ ĐIỂM ĐỒI A1

 


THĂM MƯỜNG PHĂNG VÀ CỨ ĐIỂM ĐỒI A1

                   Nguyễn Hồng Quang

Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn nơi đặt sở chỉ huy của

chiến dịch Điện Biên năm xưa, không khí thật mát mẻ bởi có rất nhiều cây to cổ thụ cành lá

xanh tốt, có nhiều loài chim quí mà ở nhiều nơi khác đã vắng bóng. Nhiều cây hoa ban vẫn

còn đang khoe sắc.Từng chùm phong lan nở rộ trên cây rất đẹp. Con đường nhỏ đi trong

rừng đến khu hầm và sở chỉ huy dài khoảng 2km hoàn toàn dưới bóng cây râm mát. Rừng ở

đây thật nguyên sơ, thơm mát mùi thảo mộc. Không gian tĩnh lặng nhưng không mịt mùng

kì bí. Người dân ở đây có một lời nguyền và thành nguyên tắc là: Không chặt bất cứ một

cây gì, không lấy bất cứ thứ gì trong khu rừng này. Khi nào chẳng may, cây nào bị gió bão

gẫy đổ vướng đường đi, thì cắt bỏ sang một bên chứ không đem đi nơi khác. Mặc dầu

không thấy tường bao hay rào bảo vệ nhưng trông khu rừng thật sự tự nhiên không có dấu

hiệu bị tàn phá.

UỐNG RƯỢU VỚI CHỒNG MỘT "ĐOẠN TRƯỜNG THƠ”

 


UỐNG RƯỢU VỚI CHỒNG

MỘT "ĐOẠN TRƯỜNG THƠ”
                                     ĐẶNG VĂN SINH
Lời dẫn
(Ngay từ đầu gã đã dị ứng với kiểu sinh hoạt hội đồng như một hình thức “phổ cập” hay là “xã hội hóa” dẫn đến hội chứng người người làm thơ, nhà nhà làm thơ bắt đầu từ một nghị quyết. Thế nhưng chẳng biết ma xui quỷ khiến thế nào, đầu năm 2005 (Ất Dậu), gã lại nhận lời bình một bài lục bát rất hay của tác giả Nguyễn Lam Điền, rồi còn chường mặt ra đọc trước cử tọa nữa. Sắp đến rằm tháng giêng, xin đưa lại để bà con rộng đường dư luận.)
Đ.V.S.
Đọc bài thơ, hẳn là giới mày râu phải ngạc nhiên, bởi từ cổ chí kim, hiếm có người đàn bà ngồi buồn rủ chồng uống rượu. Nhân vật trung tâm của bài thơ hiển nhiên là người vợ, anh chồng chỉ đóng vai trò thứ yếu, xuất hiện như một cái cớ, thông qua hình tượng chén rượu để người vợ bộc lộ tâm trạng . Ngay từ những câu đầu tiên, người đọc đã thoáng nhận ra, có một cái gì đó bất ổn, mất cân bằng, bị dồn nén quá lâu, luôn có nhu cầu giải phóng. Đây là tâm trạng dằn vặt, u uất của cặp vợ chồng gặp rủi ro sau những tháng năm dài bươn chải kiếm sống. Có điều họ là những người đủ bản lĩnh, hiểu được thế thái nhân tình, âm thầm nhìn đời mà chiêm nghiệm. Thực ra, rượu chỉ là cái cớ, người phụ nữ ấy chắc chả uống được đến nửa chén nhưng bản lĩnh thật đáo để, cương cường, quyết đoán đến mức dám thách thức cả thế gian. Cứ theo văn bản mà xét, hầu hết những câu thơ đều toát lên nỗi ngậm ngùi, ẩn chứa những giọt nước mắt, lúc thì lẳng lặng "nuốt vào lòng" mặc cho dòng đời đưa đẩy, lúc thì như muốn vỡ òa, hiển hiện thành lời cay đắng thậm chí chao chát. Cách vận dụng lớp từ láy, từ ghép ở đây đạt đến hiệu quả bất ngờ làm người đọc không khỏi sửng sốt trước khả năng diễn đạt ý tưởng bằng ngôn ngữ dân gian thông qua những cấu trúc gần với thành ngữ của tác giả: " Oái oăm là cái sự đời", " Ừ thì đắng nuốt vào lòng", "Này là bể khổ nguồn đau / Này là đò chật sông sâu chập chờn"... Đến đây thì chẳng ai còn nghi ngờ tính chất tượng trưng của rượu. Rượu chỉ là một cách nói còn nỗi cay đắng, nghèo hèn mới là có thật.

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2025

CHỮ TÂM

 


Tạp Ghi và Phiếm Luận : 


                                   Chữ TÂM

              ĐỖ CHIÊU ĐỨC

                     Inline image

      TÂM 心 là Trái Tim, mà trái tim nằm ở trong lòng ngực của cơ thể, nên TÂM còn có nghĩa là Lòng Dạ con người. TÂM là một Bộ 4 nét trong 214 Bộ Thủ của "CHỮ NHO... DỄ HỌC" theo diễn tiến chữ viết Tượng Hình như sau :

                 Giáp Cốt Văn     Đại Triện       Tiểu Triện        Lệ Thư           Khải Thư          
                Inline image
Ta thấy :
            Hình Trái Tim được vẽ có 4 ngăn hẵn hoi, lần lần chuyển biến như hình cái bụng nhọn bên dưới, qua chữ Triện thì thành những nét cong queo chỉ cuốn tim ở bên trên, đến Lệ Thư thì lại được kéo thẳng thành một nét dài và 3 chấm, và kịp đến chữ Khải như hiện nay (心) thì mới giống như là cụ Nguyễn Du đã diễn tả khi cho Thúy Kiều nhớ đến Thúc Kỳ TÂM, tức là chàng Thúc Sinh khi đang về thăm vợ cả là Hoạn Thư, như sau :

                            Đêm thu gió lọt song đào,
                   Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời !

        Cụ Nguyễn Du đã thi vị hóa chữ TÂM 心 giống như là "Nửa vành trăng khuyết và ba sao giữa trời !". Rõ khéo ví von chữ TÂM 心 một cách vô cùng nên thơ thi vị !

                            Inline image

       Chữ TÂM tuy chỉ đơn giản có 4 nét, nhưng lại hàm chứa rất nhiều ý nghĩa đối với con người và cuộc sống. Trước tiên...
      - TÂM 心 là Trái Tim, là một trong Ngũ tạng 五臟 : Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận 心,肝,脾,肺,腎 của con người, tương ứng với Ngũ hành 五行 là Hoả, Mộc, Thổ, Kim, Thuỷ 火,木,土,金,水, và lại ứng với Ngũ thanh 五聲 là Năm thanh sắc của con người. Đó là Tiếu, Hô, Ca, Khốc, Thân 笑, 呼, 歌, 哭, 呻 (là Cười, Hét, Hát, Khóc, Rên). TÂM ứng với hành Hỏa và thanh Tiếu là Cười, nên trong truyện võ hiệp của nhà văn Kim Dung, những người bị trúng phải Thôi Tâm Chưởng 推心掌, tuy trái tim bị dập nát mà chết nhưng trên gương mặt co rúm lại như đang nở một nụ cười. Sự thật khi tim bị nhói đau thì nét mặt lộ những vết nhăn như đang cười chứ không phải là cười thật.

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

MỘT SĨ QUAN BỊ “LÃNG QUÊN”

 


MỘT SĨ QUAN BỊ “LÃNG QUÊN”


                HỒ BÁ THƯỢC

 

           Tôi từ ngoài dốc U Bò về đến suối Cà Roòng, thấy anh Thơ đang ngồi trên mỏm hòn đá, tay lăm lăm ngọn lao nhìn xuống dòng nước quẩn, trong vắt. Nơi mấy con cá lượn lờ tụ lại trong khe. Tưởng không để ý đến mọi việc xung quanh, anh đột ngột hỏi:

  • Sao thế, về rồi hả?
  • Vâng. Có được nhiều cá không anh?
  • Cũng tàm tạm, tối nay đủ nồi canh chua liên hoan, sáng mai hai anh em về Binh trạm.
  • Còn mọi người ra sao?
  • Công trường giải thể, phần lớn cán bọ tiếp tục di chuyển vào tuyến trong, còn lại lui về tuyến sau. Ai yếu đau, cho đi an dưỡng, đi học thêm chuyên môn, hoặc bổ sung vào cơ quan. Có mấy trường hợp đi học nước ngoài. Chỉ còn lại hai anh em mình, chuyển sang bộ đội, bám trụ với con đường này.
  • Quyết định đâu, cho em xem?
  • Cả hai có chung một quyết định. Chú mày quân hàm thấp chẳng cần, anh cao hơn, giữ giấy quyết định. Cô văn thư phòng Chính trị “mổ cò” trên máy đánh chữ, tạch tè mãi mới được một bản. Họ nói đang thời chiến chẳng cần giấy tờ gì cũng được, có khi chỉ cần trao quyết định “mồm” cũng xong.

       Tôi ngẫm ra, anh nói rất có lý, vì trước khi vào Trường Sơn, Phòng tổ chức nhân sự ngoài hậu phương thu lại toàn bộ giấy tờ cá nhân. Nói làm như vậy để giữ bí mật khi đi làm nhiệm vụ “đặc biệt”. Chúng tôi “trần như nhộng”, đi đến đơn vị nào cũng chỉ chiếc ba lô “con cóc”, đôi lời cấp trên điện xuống đơn vị nói cán bộ được điều động bổ sung đến nhận công tác mới. Thế là xong thủ tục.

 Về Binh trạm, tôi có cảm giác không thay đổi mấy, chỉ chuyển dịch chút ít. Giống như từ chân phải, dịch sang chân trái, rồi từ chân trái, sang chân phải. Từ dân sự, chuyển sang quân sự, trên vai cũng vẫn chiếc ba lô bẹp, khoác bộ quần áo lính. Đơn vị bên này cũng thế, sang bên kia cũng vậy. Trang bị, đều do hậu cần Quân đội bao cấp hết, đến nỗi, người dân cũng được khoác áo lính, do con em bộ đội mang về cho người thân.

Tôi hỏi anh:

  • Em cấp bậc gì bên quân đội?
  • Chú mày chuẩn úy chuyên nghiệp, không số. Anh thiếu úy chính qui, có số má hẳn hoi.

Trong tri thức quân sự, tôi chưa được giáo huấn ngày nào về quân sự nên đầu óc đặc sệt, không một tí lỗ hổng nào, để chứa đựng những điều mới lạ. Thành ra, đầu óc cứ u u, mê mê. Anh bảo, anh có cấp bậc cao hơn, thiếu úy. Còn tôi cấp bậc thấp hơn, chuẩn úy nhưng khác ngạch, không giấy tờ gì, tôi cũng gật.

Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2025

SO SÁNH NHÂN VẬT THÚY KIỀU...

 

SO SÁNH NHÂN VẬT THÚY KIỀU CỦA “KIM VÂN KIÊU” VỚI “TRUYỆN KIỀU”

 


                                          VŨ NHO

Nguyễn Du đã bỏ nhiều công sức để nhân vật Từ Hải chỉ là một nhân vật tiểu thuyết trở thành nhân vật “anh hùng ca” như nhà phê bình Hoài Thanh đã viết rất thuyết phục ngay từ năm 1943. Đối với nhân vật Thúy Kiều cũng vậy. Nguyễn Du đã làm cho người con gái sinh trưởng ở Bắc Kinh bên Tàu trở thành người con gái Việt Nam như Phạm Công Thiện giải thích : “Đó là do cái thiên tài phi thường của Nguyễn Du và có khả tính lạ thường chuyển hóa một cái gì rất xa thành ra một cái gì rất gần gũi đến nỗi cái ấy đi vào trú ngụ tận lòng của cả một dân tộc. Có người ái quốc cực đoan có thể vội vàng cho rằng Nguyễn Du vô tình bỏ quên “dân tộc tính” của dân tộc để phải mượn một cô gái Tàu cho đề tài văn chương của mình. Thực ra Thúy Kiều của Nguyễn Du chẳng còn gì là Tàu nữa, cũng chẳng phải Tàu lai, mà là một cô gái Việt Nam thời Lê Mạt Nguyễn Sơ ở quê hương, vẫn muôn đời là một cô gái Việt Nam trẻ đẹp cho đến mấy ngàn năm sau nữa và lại còn có “dân tộc tính” hơn tất cả những người hăng hái chủ trương rầm rộ việc trở về nguồn” (Phạm Công Thiện – Nguyễn Du đại thi hào dân tộc, Viện triết lý Việt Nam và triết học thế giới, 1996, trang 148).

          Chúng tôi không đi sâu vào phân tích  tính dân tộc của nhân vật. Chúng tôi chỉ so sánh nhằm chứng minh rằng Thúy Kiều của Nguyễn Du không còn là Thúy Kiều của Thanh Tâm Tài Tử nữa.

          Trước hết, như chúng tôi đã so sánh ở phần thứ hai, mục 1 về việc Nguyễn Du tả tài sắc của chị em Thúy Kiều, đặc biệt là của nàng Kiều. Chúng tôi thấy rằng cần phải nhắc lại tóm tắt ở đây sự sáng tạo của Nguyễn Du : “Chín điểm khác biệt của Nguyễn Du, những khác biệt có chủ ý làm  cho Kiều và Vân đẹp hơn, tài năng hơn, và đáng yêu hơn. Ấy là chưa kể đến Nguyễn Du đã ngầm báo trước số phận hai nhân vật. Thúy Vân sẽ thuận lợi, suôn sẻ trong cuộc đời vì thiên nhiên tự nguyện chịu thua, chịu nhường

(mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da). Còn Thúy Kiều thì sẽ gặp nhiều tai ương, trắc trở vì thiên nhiên đố kị  hờn, ghen (Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh). Số phận Kiều đã được dự báo trước theo quan niệm tài, mệnh tương đố và «Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen ».

GHI LẠI TỪ GIẤC MƠ

 


GHI LẠI TỪ GIẤC MƠ

                     ĐẶNG XUÂN XUYẾN

THẰNG CHÁU” TRONG MƠ

*
Trưa (23 tháng 02 năm 2014), ngủ, lại mơ lên 344 Đường Láng. Thấy bà Mùi và bà Tý cãi nhau hăng lắm. Bà Mùi xông vào quán, ôm đồ đạc của bà Tý vất đầy ra ngõ, rồi chỉ mặt, chì chiết, chửi bà Tý là con mụ béo, con nhà quê. Bà Tý hăng tiết, chửi lại bà Mùi là con nặc nô, con “a đầu” rẻ rách, rồi cầm cán chổi tới tấp đập vào đầu bà Mùi. Đau quá, bà Mùi lăn đùng ra ăn vạ. Bà giãy hăng lắm. Vừa lăn vừa gào nhưng mắt vẫn canh chừng cán chổi của bà Tý: - “Ới làng ới xóm mau cứu tôi với. Con Tý nhà quê nó đang định giết tôi đây này…”
Định ra can 2 bà nhưng ngại lại sảy ra hiểu lầm rồi mang vạ vào thân như năm nào nên tôi lẳng lặng vào nhà tránh mặt.
Rõ ràng là đi lên tầng 2 nhà ở 344 Đường Láng, vậy mà khi bà Tý mang nước lên lại là cảnh tôi đang ngồi trên con đường đất mới mở, ở quê, không phải ở Hưng Yên, quen nhưng mà lạ lắm.
Một cậu bé quãng 10, 11 tuổi, nước da trắng trẻo, khuôn mặt sáng đẹp đến chào tôi, đưa chiếc ghế nhựa, lễ phép mời tôi ngồi, rồi vạch “chim” định đái vào tường nhà. Tôi quát: - “Cháu không được tè bậy như thế. Chú cho no đòn đấy!”. Thằng bé khúc khích cười, đi vòng ra sau, ôm cổ tôi, tình cảm hệt như với người thân vậy, rồi lừa lúc tôi sơ ý, tè luôn vào tường ngôi nhà kế sau.