Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

CẢM NHẬN NGẮN VỀ BÀI THƠ “NÓI VỚI MẸ - MÙA XUÂN” của Trần Mai Ngân

 


CẢM NHẬN NGẮN VỀ BÀI THƠ

“NÓI VỚI MẸ - MÙA XUÂN” của Trần Mai Ngân

*

Đặng Xuân Xuyến

Tôi gặp lại tiếng thơ nỗi lòng của Trần Mai Ngân khi đọc "Nói Với Mẹ - Mùa Xuân". Vẫn là cách viết đơn giản, không có gì đặc biệt, chỉ là những câu tự sự bình thường, những câu thơ chị thủ thỉ chuyện trò với di ảnh của Mẹ:

“Chiều nay về con cùng ngồi với Mẹ

Con nói nhiều mà Mẹ chỉ lặng im”

Vâng, chỉ thủ thỉ vậy thôi mà nghe những xót xa, những chất chứa hờn tủi. Lạ thế. Đọc những câu thơ mộc mạc, chân chất, không hề sử dụng chữ nào diễn tả sự hờn tủi, xót xa mà lòng lại trĩu nặng nỗi buồn, lại thấy xót xa cảnh cút côi vì vắng Mẹ? Đó là sự khéo léo dùng thi ảnh để lấy xúc động nơi người đọc của Trần Mai Ngân hay đấy là tiếng đích thực chân thành của con tim mà câu thơ chị viết mới dễ dàng chạm được vào trái tim người đọc?! Có lẽ thơ của chị được viết bằng những cảm xúc thật nên những câu thơ mộc mạc tự nhiên, không uốn éo làm dáng mới gây được xúc động nơi bạn đọc. 

 


Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

BỤI HOA TRINH NỮ


 

BỤI HOA TRINH NỮ

 

Truyện ngắn của Vũ Thiện Khái

 




 

      Mới bốn giờ sáng, bà vợ tôi đã lịch kịch trong nhà bếp. Đoán chừng bà ấy cẩn thận kiểm lại trong chiếc ba lô con cóc, đã bỏ mấy thứ thuốc men, bộ quần áo dự phòng với tấm võng, cái mùng màu chàm, hai kỷ vật còn lại từ thời chiến tranh tôi vẫn bảo quản rất cẩn thận để dùng trong mỗi dịp đi xa. Nghe bước chân lẹp xẹp, tôi ngồi dậy, làm vệ sinh cá nhân rồi xúc ấm pha trà. Hai chúng tôi cùng có thói quen ngồi rì rầm trò chuyện, cùng nhâm nhi với nhau vài tách trà nóng vào mỗi sớm mai yên tĩnh. Tôi kể lịch trình hai ngày cùng đoàn văn nghệ sĩ tổ chức đi thực tế khu rừng quốc gia Lò Gò - Xa Mát. Sau một giờ ngồi xuồng máy chạy ngược sông Vàm Cỏ, ghé cột mốc 132 xác định ranh giới nước ta và nước bạn Căm-Pu-Chia, cả đoàn sẽ kéo nhau đi bộ men bờ con suối Đa Ha chảy len lỏi dưới tán rừng Lò Gò, thăm vài chỗ đóng quân của vài cơ quan Trung Ương Cục thời chống Mỹ. Nghe vậy, vợ tôi buông một tiếng thở dài: Nghe nói hồi tết Mậu Thân con Huệ hy sinh ở khu vực suối Đa Ha này đấy. Nửa đêm, một trái bom rơi trúng lán trú quân, xương thịt gần chục trinh nữ văn công xinh đẹp bay đi sạch sẽ. Bây giờ chả biết cái hố bom tai ác ấy ở chỗ nào. Không mắc chứng xưng khớp gối thì tôi đã theo ông nhẩn nha đi dọc con suối ấy. Tin chắc ở đấy mình sẽ nhận ra một chút gì đó của nó còn phảng phất. Cây cỏ còn có tánh linh, huống hồ một con người tinh anh tài hoa nhường ấy. Tôi đã gói sẵn bó nhang trầm xứ Bắc, ông cứ đốt lên rải rác cắm vào từng khóm cây, bụi cỏ dọc đường. May ra linh hồn phiêu bạt của nó nhận được chút tình anh em ruột thịt, tình quê hương chứa chan trong từng sợi khói, họa may  bớt chút lạnh lùng.   

Nhà em Huệ và nhà tôi cách nhau một cái ao. Anh trai Huệ với tôi cùng lứa tuổi. Chúng tôi đã là sinh viên năm thứ hai, thì cô Hà, người sau này là vợ tôi và Huệ đang học lớp mười. Hai người thân thiết với nhau con chí cắn đôi. Những năm ấy, máy bay Mỹ đã bắt đầu leo thang bắn phá ra miền Bắc. Một năm mấy lần tuyển quân. Trai tráng rần rần kéo nhau đi B. Nhà nào từ hai con trở lên, chưa có người đóng góp cho tiền tuyến, thì dù nhận được giấy trúng tuyển Đại học cũng không được địa phương chấp thuận. Gặp dịp nhà trường thông báo sẽ cấp bằng tốt nghiệp trước cho những học sinh chỉ còn thiếu vài tháng học trình cuối cấp, nếu có nguyện vọng nhập ngũ, Huệ là người con gái đầu tiên của làng tôi đăng ký gia nhập thanh niên xung phong hỏa tuyến. Sau này chúng tôi cưới nhau rồi, vợ tôi mới cho tôi biết lý do em ấy bỏ học là vì thương thằng Quân, cậu em trai út ít sức vóc trói gà không nổi, nhà chưa có ai tham gia quân đội, vài năm nữa tới tuổi nghĩa vụ quân sự, sợ nó không chịu nổi gian lao chiến trận, đảo ngũ thì nhục nhã cho gia đình.Tôi nghĩ với tính cách em Huệ, xung phong phục vụ chiến trường đâu phải chỉ một lý do riêng tư ấy. Ngày đó, tinh thần chống Mỹ cao lắm, chả cứ thanh niên mà những người đã có vợ con rồi cũng nôn nao vác súng lên đường. Cả trường cấp ba của Huệ có năm lớp mười, sau đợt tuyển quân, còn lại vỏn vẹn hai lớp vơi vơi. Trong lứa học sinh hăng hái tòng quân đợt ấy, có nhiều cặp đôi lâu nay giấu giếm yêu nhau, bấy giờ mới công khai cùng nắm tay nhau phới phới lên đường. Thằng Tùng và em Huệ là một cặp xinh đẹp tươi tắn được nhiều thày cô, bạn bè ngưỡng mộ.  

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2020

Vịnh dấu hỏi (?)


 

VỊNH DẤU HỎI (?)

(gửi Đặng Xuân Xuyến

               tác giả bài thơ: DẤU HỎI)

                    Nguyễn Thị Vinh 

 

Vẫn nắm  tay

Sao?

Đi về hai phía?

 

Vẫn đồng sàng

Sao?

Mộng đã hai nơi?

 

Vẫn đồng chí

Sao?

Chẳng cùng sướng khổ?

 

Thề mòn mồm

Sao?

Vẫn phụ tình nhau!

*.


 

Hà Nội, 05 tháng 03.2018

NGUYỄN THỊ VINH

Địa chỉ: 179 ngõ Trại Cá, phường Trương Định,  

Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Điện thoại: 035.219.69.62

 

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2020

GIỚI THIỆU TẬP "THƠ DÂNG MẸ" TUYỂN VÀ BÌNH

 

             


               

THƠ DÂNG MẸ - TUYỂN & BÌNH

của Nguyễn Thị Thiện

                                                                  T.S. NGUYỄN XUÂN LẠC

Tôi đọc cuốn "THƠ DÂNG MẸ - TUYỂN & BÌNH” (NXB Hội Nhà văn quí III – 2020) - tập bình thơ thứ tư của nhà giáo Nguyễn Thị Thiện, hội viên Hội nhà văn Hà Nội. Trước đó, chị đã có ba  tập bình thơ: “Trang thơ - Trang đời” (quý II - 2018); Tình quê tình người (quý I - 2019), Tình quê tình người Tập II (quý III - 2019). Chị vốn là một cô giáo yêu thơ, có duyên với thơ, một cây bút bình thơ khá quen thuộc trên các báo: Đời sống gia đình - tuần san báo Phụ nữ Thủ đô; Hạnh phúc gia đình - tuần san báo Phụ nữ Việt Nam; Người Hà Nội; Tạp chí Người yêu Thơ Việt Nam; Tạp chí Thơ - Hội Nhà văn Việt Nam... Không yêu người không yêu thơ đến như thế. Chị đã chắt chiu cái tình người cao đẹp của quê hương đất nước trong hàng trăm bài thơ để đến với cái tình người mà chị hằng ấp ủ tâm đắc nhất: tình mẹ! Và “THƠ DÂNG MẸ - TUYỂN & BÌNH” chính là tiếng lòng thiết tha, sâu nặng của chị kính dâng lên NHỮNG NGƯỜI MẸ VIỆT NAM!

Giá trị một tập bình thơ trước hết là ở giá trị những bài được chọn để bình và THƠ DÂNG MẸ đã làm được điều đó. Là một con người đẹp trong cuộc đời, Mẹ trở thành đối tượng lớn trong văn học nghệ thuật, một suối nguồn yêu thương của Thơ, "Như chính cuộc đời Mẹ mới là Thơ". Phải đến khi vĩnh biệt mẹ, Phùng Quán mới ngộ ra điều đó (Thơ vĩnh biệt mẹ). Có đến hàng trăm bài thơ viết về mẹ nhưng chọn bài nào, của tác giả nào để đưa vào tập bình thơ chuyên đề này, đó là cái khó của người bình thơ. Chọn thế nào để các tác giả thơ, các nhà phê bình có thể chấp nhận được lại làm vừa lòng công chúng yêu thơ thật không dễ. Tác giả tập bình thơ đã vượt qua điều đó để có được 40 bài tiêu biểu về Mẹ! Những bài thơ hay nhất về mẹ đã có mặt. Trong tập bình thơ: Đường về quê mẹ (Đoàn Văn Cừ), Con cò (Chế Lan Viên), Bẩm ơi (Tố Hữu), Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa (Nguyễn Duy), Trở về với mẹ ta thôi (Đồng Đức Bốn), Bàn tay mẹ (Tạ Hữu Yên), Ngôi nhà của mẹ (Hữu Thỉnh), Mẹ (Bằng Việt), Đất quê ta mênh mông (Bùi Minh Quốc), Bờ sông vẫn gió (Trúc Thông) Ta về với mẹ ta thôi (Nguyễn Sĩ Đại).v.v. Người bình thơ cũng đã chọn được nhiều gương mặt mẹ khá tiêu biểu. Đậm nét nhất là những người mẹ nông dân suốt đời lam lũ nhưng giàu đức hy sinh, giàu lòng vị tha: Mẹ (Nguyễn Ngọc Oánh), Mẹ tôi (Nguyễn Trọng Tạo), Đêm mưa (Tô Hoàn) Mẹ ra Hà Nội (Lê Đình Cánh)... Rồi những người mẹ liệt sĩ hai mươi năm vẫn chờ con trở về: Mẹ vẫn chờ (Đoàn Thị Lam Luyến) hay thắp hương trên từng bia mộ để gọi đàn con về với mẹ Trong chiều nghĩa trang (Nguyễn Quang Thiều). Và cả những người mẹ trong đời thường cũng được chọn lọc để mỗi người tiêu biểu cho một vẻ đẹp riêng của mẹ: có người mẹ thầm lặng hi sinh suốt đời mà vẫn lạc quan: Mẹ ơi, đời mẹ (Huy Cận), có người mẹ trẻ goá chồng ở vậy nuôi con khôn lớn: Mẹ tôi (Trần Thị Huyền Trang), có người mẹ chồng mà như mẹ đẻ Mẹ của anh (Xuân Quỳnh), Người đàn bà thứ hai (Phan Thị Vĩnh Hà). Tập bình thơ cũng không quên đưa vào những biểu tượng đặc trưng quen thuộc về mẹ: Bàn tay mẹ (Tạ Hữu Yên), Tóc mẹ (Phạm Đình Ân), Lời ru của mẹ (Bùi Văn Ân)... Đặc biệt, nỗi đau khi mẹ qua đời người bình thơ đã chọn tới bảy bài, tạo nên một ấn tượng đẹp về tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt: Mẹ trên cao (Lê Thành Nghị), Khóc giữa chiêm bao (Vương Trọng), Mùa xuân dâng mẹ (Nguyễn Thị Hồng Ngát), Qua  hàng trầu nhớ mẹ (Nguyễn Thị Mai),... Cuối cùng là tiếng lòng biết ơn sâu nặng của những đứa con kính dâng mẹ: Với mẹ (Nguyễn Huy Hoàng), Tiếng gọi:“Mẹ ơi!” (Nguyễn Anh Trí), Mẹ (Đoàn Ngọc Thu)…


 

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2020

SỨC MẠNH CỦA ÂM NHẠC VÀ TÌNH NGƯỜI qua tiểu thuyết DẠ KHÚC

 


SỨC MẠNH CỦA ÂM NHẠC VÀ TÌNH NGƯỜI

                    qua tiểu thuyết DẠ KHÚC của Thu Lâm

 

NGUYỄN THỊ THIỆN

Tôi được chị Nguyễn Thị Phi Yến, bút danh Thu Lâm trao gửi đọc cuốn DẠ KHÚC từ khi còn là bản thảo. Và bây giờ lại vui mừng  được đọc tác phẩm người viết ký tặng đầu tiên khi sách in vừa ráo mực. Chỉ hai ngày là tôi đọc xong. Cuốn sách để lại nhiều suy nghĩ và cảm xúc trong tôi. Vài năm trước, từng  đọc hai tập truyện ngắn Say nắng và Nước mắt đàn ông (2018) của chị, lần này lại được thưởng thức cuốn tiểu thuyết đầu tay chị viết, tôi thật sự mừng cho chị bởi cuốn sách trước đã hay, cuốn này lại còn hay và hấp dẫn hơn.

Tiểu thuyết Dạ khúc có quy mô vừa, sách gồm 11 chương mục với 290 trang, in khổ 14,5 x 20,5 cm, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tháng 9 năm 2020.

Tên mỗi chương mục trong tác phẩm, người viết khéo lựa chọn được nhan đề phù hợp: Tuổi thơ, Thần tượng và hiện tượng, Bão tố, khúc nhạc buồn…Sách đến với đông đảo bạn đọc vào đúng dịp kỷ niệm ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10/ 2020, tác giả tặng sách tới rất nhiều bạn hữu và nhận được những phản hồi tích cực. Nguyên nhân nào khiến tác phẩm tạo được sự mến mộ và ấn tượng đẹp cho độc giả? Có nhiều lý do nhưng theo tôi cái chính là bởi: nhan đề sách hấp dẫn, đề tài mới mẻ, nội dung đậm tư tưởng nhân văn sâu sắc lại được thể hiện bằng lối kể chuyện cuốn hút với giọng văn nữ tính truyền cảm, dễ đi vào lòng người.

1. Tên và chủ đề cuốn sách giàu sức thu hút. Dạ khúc vốn là một bản nhạc tuyệt hay của cố nhạc sĩ thiên tài Franz  Schubert (1797 - 1828) người nước Áo. Bản nhạc này còn có tên gọi khác là Khúc ban chiều hoặc Khúc chiều tà, nhạc sĩ Schubert  sáng tác ca khúc này để tặng một thiếu nữ mà ông hằng thầm yêu trộm nhớ. Tuy mối tình tha thiết không kết được trái ngọt nhưng bản nhạc buồn đầy hương sắc và mỹ cảm của ông đã trở nên bất hủ, trở thành tác phẩm kinh điển về nhạc trữ tình lãng mạn suốt 200 năm qua. Chính nhạc phẩm đã khởi nguồn cảm hứng để Thu Lâm viết  một câu chuyện độc đáo về cuộc sống gia đình có người trẻ bị trầm cảm nặng, một căn bệnh ngày càng có nhiều người mắc phải trong thời đại công nghệ hiện nay. Cuốn tiểu thuyết hấp dẫn không chỉ bởi đề tài mới mẻ, chủ đề tư tưởng tác phẩm có chiều sâu, được trình bày qua một hình thức đẹp trang nhã, minh họa phù hợp. Hơn nữa, bằng kinh nghiệm và vốn sống phong phú của mình, qua tác phẩm  người viết đã nêu một phương pháp rất ưu việt và nhân văn để chữa căn bệnh trầm cảm đạt tới thành công. Những điều đó tạo được sự chú ý, quan tâm của người đọc ở nhiều lứa tuổi.

                                                                                    Thu Lâm
 

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020

VƯỜN MÊ

 


VƯỜN MÊ

                       Trần Thu Hà

 

 

Anh đổ bộ lên con vịnh em với lực hút chân không râm ran chồi nụ

Những khúc khích trên khuôn mặt hình tứ trụ bung sõa thói quen…

Ai nghe được tiếng mùa xuân dục bước

Để một lần ta lạc giữa vườn mê

 

Râm ran chi vết xước mùa năm trước

Gọt nỗi đau lại gặp vết nứt sau

Ta nghe tiếng dũa mài sắc nhọn

Từ cô đơn bước ra

 

Nhặt được hồn mình bung ra từ nhụ hoa sớm nở

Như trẻ lên ba tìm điều lạ thế gian

Ta đâu buồn mà múc lên giờ đã cạn

Mảnh hồn đâu vá được phù du

Ta mắc kẹt giữa vòng quay vô hạn

Ta như sông những sợ hết ngày …

 

Trên cao kia vẫn đủ sắc màu

Ta quen ghìm hít thở với niềm đau

Như đã quen với tuổi thơ chân thật

Nay đâu buồn mà múc lên đã cạn

Những dấu ngày khi thiếu một vòng tay.

 

                                                14-4-2020

                                                Trần thu Hà.

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2020

XE ĐẠP! XE ĐẠP ƠI!

 


XE ĐẠP! XE ĐẠP ƠI!

                          Tản văn của Vũ Nho

Xe đạp  những năm đầu thế kỉ 21 chỉ còn ít ở thành phố. Đó là xe của các bà  đã già già đi chợ, một số của các cụ ông  chơi thể thao duy trì sức khỏe và đa số  các em học sinh Tiểu học, Trung học cơ sở đi đến trường trong khoảng cách gần. Thế nhưng cách dây chưa lâu, nó là phương tiện giao thông chủ yếu  của người Việt. Hà Nội trước năm 1975 được coi là thành phố của xe đạp. Bấy giờ,  người sở hữu một chiếc xe nhãn hiệu “Favorit” (Favourite),  hay “Đia măng” (Diamond) coi như  là dân chơi, dân sành điệu. Còn Thống Nhất hay Phượng Hoàng thì xoàng thôi!

Tôi được biết đến xe đạp khi là học sinh cấp III trường huyện. Hồi ấy, ngay cả các thầy giáo cấp 3 của chúng tôi, không phải thầy nào cũng có xe đạp. Lớp tôi có Thế Năng, nhà ở Đồi Khoai, với bạn Hà, bạn Thuần ở phố Rịa thi thoảng thấy đi xe đạp. Hình như là xe của nhà chứ không phải là xe riêng của các bạn. Một lần Thế Năng mang xe đi và cứ nằn nèo “mời” tôi ngồi để Năng đèo. Nể bạn, tôi ngồi lên, Sau phút loạng choạng, Năng cho xe đi  bon bon. Bất ngờ xuống một con dốc. Dốc không cao, nhưng xe phóng vù vù. Có lẽ do cuống, Năng không kịp phanh. Xe cứ thế lao vùn vụt, tay lái cu chàng loạng choạng. Năng hét: “Ngồi chắc, không được nhảy xuống”. Tôi là tay gan lì, không sợ nên cứ ngồi kệ Năng xử lí. Gần hết dốc, xe đi chậm, tôi nhảy khỏi xe. Năng cũng kịp phanh dừng lại. Hai chàng hết hồn vì  may mà không “ngã gẫy răng”!

          Khi học Đại học Sư phạm Việt Bắc, mãi đến năm thứ ba thì tôi mới biết đi xe đạp. Dạo ấy về hè, ở làng tôi, bác Luận, một ông bác họ cũng có xe đạp Phượng Hoàng của Trung Quốc. Tôi mượn để tập đi ở sân kho. Do mạnh dạn, lại cũng có tí “năng khiếu” thể thao, nên tôi tập một hôm là biết đi. Rồi đi thành thạo ở trong sân.

       Việc đi xe đạp ở sân kho rộng rất khác với đi xe đạp trên đường. Vì trên đường phải tránh ổ gà, tránh người, tránh xe đi ngược chiều. Bởi thế mà một hôm tôi mạnh dạn mượn xe đạp của bạn, đạp từ bản Nà Ri (nơi khoa Văn sơ tán) ra đến Phú Minh. Khi đi thì vừa đạp vừa dắt. Nhưng “lượt về” thì tôi dắt hoàn toàn, vì đường về  dốc, khó hơn. Chỉ sợ ngã làm hỏng xe của bạn. Khoa Văn hồi đó,  mỗi anh bạn Trần Văn Loa có xe đạp thiếu nhi Liên xô và một vài anh cán bộ (giáo viên cấp 2, công an) đi học là có xe đạp.

          Biết đi xe đạp  rất có lợi vì khi cần có thể mượn đi cho đỡ vất vả. Biết đèo, hay lai xe đạp cũng rất quan trọng. Bởi thế mà tôi không ngừng tập đi và tập đèo. Quả nhiên dịp may thực hành  đã đến. Hồi đó là năm 1972, chưa kí hiệp định Pa ri. Mĩ vẫn bắn phá miền Bắc bằng máy bay. Tôi cuốc bộ trên đường số Một qua thị xã Phủ Lý bị đánh bom hủy diệt. Đang lếch thếch trên đường nhựa nóng như rang, bỗng một người đi xe đạp cùng chiều dừng lại hỏi: “ - Này, chàng trai, biết đi xe đạp chứ?”. Tôi đáp “Biết!”.  - “Đèo được không?”. “Được!”. – “ Lên xe đèo tôi”. Thế là tôi lên xe đèo người đàn ông lạ gặp trên đường. Thì ra anh là giảng viên trường Đại học mĩ thuật công nghiệp Hà Nội. Anh đạp xe từ Ninh Bình ra đã mệt. Hai anh em đèo nhau qua Phủ Lý không một bóng người. Qua Đồng Văn thì phải, anh bảo ghé vào làng ven đường, anh có người cha nuôi ở đó. Đúng ngày đó, nhà ông bố nuôi của anh có giỗ. Rất đông người ăn uống. Thế là tôi cũng được ăn ké. Có cá chép, có thịt lợn, lại có cả thịt ngan. Bấy giờ, mâm cỗ như vậy là rất sang, phải là nhà kinh tế khá giả mới có. Anh em ăn uống no nê, nghỉ ngơi, rồi chào cả nhà lên xe đạp bon tiếp về Hà Nội. Đến gần Hà Nội, có xe buýt về thành phố, tôi lên xe ô tô, còn anh đạp xe một mình. Anh cho tên và địa chỉ hẹn khi rỗi thì vào chơi. Tôi nhớ mãi  tên anh là Tống Như An, cán bộ giảng dạy của Đại học Mĩ Thuật Công nghiệp. Sau này khi chuyển từ Thái Nguyên về Hà Nội, có lần tôi đã ghé trường anh ở Đê La Thành để thăm, được người ta trả lời thầy An đã  nghỉ hưu và về quê. Kể thêm chuyện “đèo” xe đạp.  Hồi nhà tôi học xong Trung học sư phạm hoàn chỉnh lên Thái Nguyên thăm tôi. Hôm ấy cán bộ của khoa Văn được công đoàn mời đi xem phim ở rạp. Vì tay lái còn non, lại ngại nhỡ làm ngã vợ thì mang tiếng, vì vậy tôi phải nhờ một ông bạn đèo mình, còn “phu nhân” thì gửi một ông khác đèo hộ. Đảm bảo an toàn tuyệt đối.

                                                                               Vũ Nho
 

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2020

CHÂN MỘC TÌNH CẢM CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH

 


CHÂN MỘC TÌNH CẢM  CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH

          Tập thơ NGÀY TRỞ VỀ của Nguyễn Đăng Soạn

                                    Vũ Nho

         Chàng trai Nguyễn Đăng Soạn nhập ngũ những ngày kháng chiến chống Mỹ đầy gian khổ, khó khăn, ác liệt. Hoàn thành nhiệm vụ, anh về hưu với quân hàm Đại tá. Đồng thời có 3 tấm bằng kĩ sư là kĩ sư điện bằng chính quy, kĩ sư chế tạo máy, kĩ sư máy tính bằng tại chức. Như thế thật đáng tự hào và khâm phục.  Dù yêu thơ ca từ nhỏ, nhưng  gia đình thiếu sách vở, không có ai giúp đỡ, lại cuốn vào hoàn cảnh chiến tranh, nên khi về hưu, người lính yêu thơ ấy mới nghĩ đến chuyện thể hiện những tình cảm, những suy tư, những nỗi niềm của mình. Thời gian ít ỏi, lại chưa từng qua một  trường lớp nào về văn chương (Dù gần đây Trung tâm bồi dưỡng viết văn của Hội nhà văn Việt Nam  có mở khá nhiều lớp), nhưng tác giả đã mầy mò tự đọc, tự học và đã in được tập thơ “Một thời đã qua” gồm 101 bài. Đó chẳng phải là một dấu mốc đáng nhớ của cuộc đời  người lính hay sao. Và bây giờ, sau thành công bước đầu, Nguyễn Đăng Soạn lại tập hợp 107 bài thơ để in tập thơ thứ hai với nhan đề “Ngày trở về”.

                   Ấn tượng về quê hương người lính là một ấn tượng mạnh mẽ:

                   Quê tôi úng ngập bốn mùa

                   Đi đâu cũng phải qua đò lội sông

                   Mùa mưa nước ngập trắng đồng

                   Lỗ chân sau trước như dòng chân voi

                                          (Quê tôi)

Là người vùng đồng chiêm trũng, tôi đã từng chứng kiến cảnh ngập lụt nên có cảm tình ngay với những câu thơ chân mộc này.

          Vẫn như nội dung của tập thơ trước với các chủ đề quen thuộc, trong tập thơ này, tác giả thể hiện tình cảm chân thành, mộc mạc của mình với quê hương, đồng đội, bạn bè quân ngũ, bạn bè nơi quê kiểng, những băn khoăn, bức xúc của mình trước thời cuộc.

          Người lính rời quân ngũ, quay lại ruộng vườn lại làm nhiệm vụ của người nông dân, với cách nói dân dã “Về quê đi cày”. Đây là hoàn cảnh của một đồng đội cũ  từng sống chết có nhau nơi chiến trường:

                   Mình anh vật lộn từng giờ

                   Ruộng, vườn, cơm, thuốc, bơ phờ gầy đen

Tác giả ngậm ngùi khi suy ngẫm về thời chiến trận oai hùng với thời bình ở hậu phương gian khổ, buồn thương của bạn:

                   Huân chương lồi trước lõm sau

                   Hào quang lẫn với nỗi đau để đời

                                (Đồng đội cũ)