Thứ Ba, 9 tháng 4, 2024

THƠ CHỌN CỦA ANH CHI

 


Đất

                  Sống nhờ đất chết gửi thân cho đất

 

                      I

 

Mẹ sinh tôi cắt rau đem chôn

gửi một phần thịt vào đất

tôi có một cuộc đời

như xưa kia mẹ có cuộc đời

cha tôi, anh tôi và bao nhiêu về trước

thực sự bắt đầu đời người

 

Tóc đen da bánh mật

bàn tay lấm láp

niềm vui lộ ra miệng cười

xúc động trào lên khóe mắt

những con người

hiền như đất

 

Màu xanh của lá

                      dịu dàng

màu vàng hạt lúa

                       ấn no

đất sinh ra

            đất cho màu sắc ấy...

 

II

 

Hơn ba trăm ngàn cây số đất

hơn ba trăm ngàn!

ĐÊM NÚI CẤM

 ĐÊM NÚI CẤM

 Bút ký BÙI QUANG THANH

bui_quang_thanh


Về thăm Mẹ xóm Rừng, thôn Thanh Quýt
Chiếc xe khách 50 chỗ ngồi xuất phát từ Đà Nẵng
đúng 13 giờ rưỡi, chở đoàn văn nghệ sĩ, phóng
viên báo chí vào dự đêm giao lưu “Về nguồn đền ơn
đáp nghĩa” nhân kỷ niệm 60 năm ngày Thương binh -
Liệt sĩ tại Quảng Nam. Nửa tiếng sau, Đoàn đã dừng xe
trước sân nhà mẹ Thứ, người Mẹ Việt Nam anh hùng
mà chỉ cần nhắc đến tên thôi là hầu như ai ai cũng
biết sự cống hiến hy sinh vô bờ bến của gia đình mẹ.

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2024

Thu Lâm cây bút nữ lão thành, sung mãn

 Thu Lâm

cây bút nữ lão thành, sung mãn
(Tuyển tập truyện Thu Lâm)
Nhà nghiên cứu phê bình văn học
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thiện

anh_nguyenngocthien


Trên văn đàn Việt Nam hiện đại, từ đầu thế kỷ XX
đến nay, những cây bút nữ phần lớn xuất hiện
sớm, ngay từ tuổi trưởng thành. Riêng Thu Lâm có lẽ là ngoại
lệ, hiếm có. Bởi, với văn chương, lúc đầu chị là ngoại đạo (chị
học tập và làm việc ở lĩnh vực kinh tế thương mại), mãi đến
năm 60 tuổi chị mới mạnh dạn cầm bút thử sức viết truyện
ngắn. Từ đó có đà, bước vào tuổi thất tuần, chị nỗ lực, tâm
huyết trở thành cây bút chuyên nghiệp sung mãn, do chỉ trong
vòng 4 năm (từ 2019 - 2022) chị đã liên tiếp cho xuất bản 5 tác
phẩm văn xuôi gồm: ba tập truyện ngắn và vừa (Nước mắt
đàn ông - Say nắng - Vũ điệu tình yêu) và hai tiểu thuyết (Dạ
khúc, Những người tôi yêu), tổng cộng ngót 1.200 trang in,
và trở thành hội viên Hội Nhà văn Hà Nội một cách đích đáng.
Nét đặc sắc ở cây bút lão thành mà sung mãn, xét về tay
nghề, bản lĩnh nghệ thuật tự sự, là gì?

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2024

NHỮNG NGHỊCH LÝ...

 NHỮNG NGHỊCH LÝ QUA “VẺ ĐẸP BUỐT TRỜI” VÀ “BAO GIỜ

TƯƠI MỚI GIÊNG HAI NÕN” CỦA NGUYỄN THỊ MAI

 

                                                                                     Đinh Thiên Hương

.nh_n.t.mai_1

NHÀ THƠ NGUYỄN THỊ MAI

Thực ra từ lâu rồi, khi cái nhìn về thế thái-nhân sinh của nhà thơ Nguyễn Thị Mai đa chiều hơn, những cảm xúc đã chín, thì những nghịch lý trong thơ xuất hiện. Nó dần trở thành tư tưởng nghệ thuật của tác giả. Nhiều nghịch lý trong số ấy, đẹp mà sao buốt xót dường này!

Xin bắt đầu bằng chính bài thơ “Vẻ đẹp buốt trời” mà chị lấy làm tiêu đề, thể hiện trục cảm hứng chủ đạo cho cả tập thơ - đứa “con đẻ tinh thần” thứ 12 trong cuộc đời cầm bút. Đó là cái lần Sa Pa bông tuyết trắng trời, người ta đua nhau “Ngồi trong xe, ấm tận cùng... móng chân”, đổ lên “miền biên viễn” thỏa niềm khát khao trong cái thú được “cười mãn nguyện như mình ở Tây”.  Đúng là ông Trời làm thỏa khát khao, hứng thú cho người này, nhưng lại gây nên những tàn phá, khốc hại cho kẻ khác: “Cho người vẻ đẹp ngất ngây/ Tuyết vùi lụi cỏ chết cây, chết vườn/ Lúa ngô tàn tạ trên nương/ Em thơ tím tái đến trường ngồi run...”. Đây không phải là tấm chăn hẹp kẻ kéo người co mà là sự ban / giáng phúc - họa, cùng vui - đau cho nhân thế. Biết làm sao! Cái nghịch lý ấy, người vô tâm vô cảm hoặc hời hợt hùa theo dòng cảm thức số đông thì có dễ gì động tâm, có dễ gì buốt xót. Cho hay, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nó có thể chỉ là tiếng kêu đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than của con người (ý của Nam Cao), và nhà văn cần cho cuộc đời này để nâng giấc bao kẻ cùng đường tuyệt lộ (ý của Nguyễn Minh Châu).

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2024

KHÔNG BIẾT KHÓC SẼ MÙ

 

KHÔNG BIẾT KHÓC SẼ MÙ



                                       



KHÔNG BIẾT KHÓC SẼ MÙ

                                                                                                         Phù Hạo Dũng

                                                                                                      Vũ Công Hoan dịch

          Trời vừa sáng,Tổng giám đốc Tiền đã thúc lái xe mau mau lên đường. Bởi mắt có tật chữa lâu không khỏi, lần nay hai người phải tìm đến một bản nhỏ trong rừng.

          Tổng giám đốc Tiền mới bị đau mắt. Đầu tiên đau nhoi nhói như kim châm, ông đã nhỏ mấy loại thuốc nước, nhưng không khỏi. Được vài hôm, mắt sưng vù như quả thị chín. Ông lại đi bệnh viện, khám cả đông tây y, uống thuốc và tiêm, vẫn không hiệu nghiệm, dần dần thị lực suy giảm, nhìn mọi vật lờ mờ không rõ. Điên tiết lên ông chửi chuyên gia bệnh viện là đồ ăn hại, thuốc bán trong hiệu thuốc đều là thuốc giả thuốc dổm.

          Tổng giám đốc Tiền thôi không xin thuốc chữa. Có người bảo:Nếu để tia hàn điện chiếu vào,thì dùng sữa của nàng dâu trẻ mà chữa. Trên công trường của ông vừa vặn có trẻ thơ đang bú. Họ vắt cho ông một chai nhỏ,dùng ba hôm không thấy hiệu quả. Có người lớn tuổi nhắc nhở, nếu vì trông thấy vật dơ bẩn, thì phải lấy lá dâu hun xông, nhưng hun xông ba hôm, càng sưng hơn.

CÓ MỘT TƯỢNG ĐÀI NGƯỜI PHỤ NỮ HÀ NỘI TRÊN ĐỈNH ĐÈO NGANG

 

CÓ MỘT TƯỢNG ĐÀI NGƯỜI PHỤ NỮ HÀ NỘI TRÊN ĐỈNH ĐÈO NGANG - Nguyễn Xuân Diện


Ảnh: Trịnh Thanh Nhã - Thanh Sơn.

Trong văn học Việt Nam có một người phụ nữ Hà Nội đã để lại vóc dáng đài các đã mấy trăm năm. Người phụ nữ tài hoa ấy, đứng trước thiên nhiên đất nước đã nói tâm tình của một con người cô đơn nhỏ bé trước vũ trụ, nhưng dường như đã cố giấu đi cả tên tuổi của mình. Mặc dù tên của bà có ý nghĩa là mùi hương thơm nức, nhưng bà vẫn cố giấu đi, ngay cả tên gọi của mình. Người ta cũng không gọi bà bằng tên gọi của chồng bà như những phụ nữ khác. Người ta chỉ gọi bà bằng cái chức vụ của chồng bà mà thôi. Đó là Bà Huyện Thanh Quan. Tên thật của bà là Nguyễn Thị Hinh. Hinh 馨 chữ Hán có nghĩa là hương thơm ngào ngạt.

Nguyễn Huy Hoàng miệt mài trên cánh đồng chữ

 NHÂN SỰ KIỆN NHÀ THƠ NGUYỄN HUY HOÀNG, HỘI VIÊN HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM, SINH SỐNG TẠI LIÊN BANG NGA, TỔ CHỨC LỄ RA MẮT CÁC TUYỂN TẬP THƠ VĂN TẠI TRỤ SỞ HỘI NHÀ BÁO VIỆT NAM ĐƯỜNG DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ, CẦU GIẤY, HÀ NỘI. XIN GIỚI THIỆU BÀI VIẾT CỦA  VŨ NHO.

 

Nguyễn Huy Hoàng miệt mài trên cánh đồng chữ

 

                   Qua hai tập thơ Vẫn còn có bao điều tốt đẹp (2008) và Giữa thanh thiên bạch nhật (2009), nhà xuất bản Văn học, Hà Nội.

 v_nho_nguyn_kh

                           VŨ NHO

                                     

Nguyễn Huy Hoàng làm nghề dạy học nhưng lại là cây bút quan trọng của cộng đồng người Việt ở Liên bang Nga. Có lẽ hoàn cảnh riêng đặc biệt  với nỗi đau ám ảnh đã khiến cho Nguyễn Huy Hoàng cầm bút. Và lạ thay, tính mực thước của người nghiên cứu không hề cản trở những cảm xúc mạnh mẽ, ào ạt , vượt ra ngoài khuôn thước để cái tên Nguyễn Huy Hoàng trở thành một cái tên quen thuộc, thân thiết với cộng đồng người Việt ở Nga, thân thiết với những người  công dân bình thường, những cảnh đời, những số phận vị dập vùi, bươn chải  trong cuộc đời lầm than, cay đắng.

          Trong lời thưa cùng bạn đọc có phần nào tự bạch của tác giả, Nguyễn Huy Hoàng đã tỉnh táo nhìn nhận thơ của mình như sau : “ Bên cạnh những phong cách trữ tình quen thuộc, có phần cố hữu, thơ tôi còn mang tính đa thanh, với chất trào lộng, hài hước- trữ tình; có những bài đã phá rào sang sân chính luận. Điều đó, không phải là do tôi muốn thế. Chủ đề, ý tưởng của bài thơ đã buộc tôi phải chọn cách thể hiện phù hợp, nội dung đã quy định hình thức của nó. Có lẽ hình như đó cũng là một chút sở đoản của tôi”.

          Đánh giá như thế là tương đối khách quan. Nói là tương đối vì theo tôi, tính chính luận trong thơ Nguyễn Huy Hoàng là một mặt mạnh của thơ anh. Điều này có thể bắt nguồn từ sự nghiên cứu sâu của tác giả về thơ Công dân Nga, và cố nhiên, anh chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của đối tượng nghiên cứu. Chính điều này làm cho thơ của anh gắn liền với số phận của cộng đồng người Việt ở Nga, đồng thời cũng gắn bó sâu nặng với  dân tộc, đất nước, dù anh ở nơi ngàn dặm cách xa.

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2024

ĐẠI TƯỚNG QUÂN VÀ VIÊN HẠ SĨ

 ĐẠI TƯỚNG QUÂN VÀ VIÊN HẠ SĨ

 Bút ký BÙI QUANG THANH

bui_quang_thanh

NHÀ THƠ BÙI QUANG THANH


Năm năm trong quân ngũ, có ba năm ở chiến
trường Tây Nguyên ác liệt và gian khổ, ra khỏi
lính tôi được đồng đội gọi là Hạ sĩ “lưu niên”. Thông
thường, mỗi quân nhân trong lực lượng quân chính quy
“Bắc Việt”, chỉ 6 tháng sau khi nhập ngũ (là tân binh -
Binh nhì) thì được phong quân hàm từ Binh nhì lên Binh
nhất, sau 12 tháng (hoặc chậm nhất là 18 tháng) sẽ từ Binh
nhất lên Hạ sĩ - ngạch đầu tiên của Hạ sĩ quan. Rồi sau
đó là Trung sĩ, Thượng sĩ… lên đến cấp Đại tướng phải
qua… 17 lần phong quân hàm như thế. Đương nhiên, mỗi
cấp hàm sẽ gắn với chức vụ được giao; và đương nhiên
phải phù hợp năng lực, học vấn, trí tuệ, tư chất, tác phong,
sự cống hiến… và cả may mắn nữa.
Tôi vào lính từ một mái trường Trung học chuyên
nghiệp ở Hà Nội - Trường Trung cấp Giao thông thủy
- bộ. Bác Hồ mất, chúng tôi khóc đầm nước mắt. Tang
lễ Người xong, tôi và nhiều đoàn viên, thanh niên nữa
của trường viết đơn bằng máu ra chiến trường. Để đủ
cân, đủ lạng vào lính, tôi bỏ thêm một cục gạch vào chiếc
quần âu rộng thùng rộng thình mà ông chú ruột, sau này
là Nhà văn Bùi Cẩm Kỳ - một kỹ sư bưu điện - tặng cho.

Bà Vân y tá của trường mắng tôi: “Bố mày! Nhóc con thế
làm sao đeo nổi ba lô con cóc mà vô lính, hả?”. Tôi phải
khẩn khoản với bà, rằng tôi chỉ thiếu mấy lạng thôi, các
tiêu chuẩn khác đủ cả.

Thứ Ba, 2 tháng 4, 2024

QUA HÀNG TRẦU VỎ VỚI LỜI BÌNH

 QUA HÀNG TRẦU VỎ

               NGUYỄN THỊ MAI

img_9653

Gian hàng trầu vỏ quen một thuở

Cau tươi, vỏ thắm, lá thơm cay

Đi chợ con bớt dăm đồng vặt

Mua để mẹ ăn mỗi thường ngày

 

Quết trầu đỏ thắm làn môi mẹ

Sau bữa cơm đèn trải chiếu hoa

Mẹ ngồi thong thả bên hè mát

Hàng xóm sang chơi ấm cửa nhà…

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2024

Luận về văn chương Nguyễn Huy Thiệp

 Luận về văn chương Nguyễn Huy Thiệp

ANH CHI

anh_chi

NHÀ VĂN ANH CHI

Nguyễn Huy Thiệp (1950 – 2021) quê gốc Hà Nội, sinh tại Thái Nguyên và
theo gia đình chuyển cư qua Phú Thọ, Vĩnh yên, tới năm 1960 mới hồi hương, định cư tại xóm Cò, xã Khương Đình, Thanh Trì, Hà Nội. Năm 1970 Nguyễn Huy Thiệp tốt nghiệp khoa Sử, Đại học Sư phạm Hà Nội rồi lên Tây Bắc dạy học. Năm 1980 Nguyễn Huy Thiệp chuyển về làm việc tại một Công ty sách của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, ít năm sau lại chuyển sang làm việc tại Công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ, 
Cục Bản đồ cho đến cho đến khi nghỉ hưu năm 1992… Cứ theo đường đời Nguyễn Huy Thiệp thì thấy: Vốn văn hóa anh được đào tạo nhiều nhất là tri thức về sử học.

Còn vốn sống từ thực đời anh nếm trải gồm: Sống cùng các dân tộc thiểu số miền thượng du (ở Thái Nguyên thời niên thiếu và ở Tây Bắc thời anh dạy học); và sau khi hồi hương về làm việc ở Hà Nội anh mới bắt đầu tích cóp, chiêm nghiệm nhiều về đời sống xã hội ở đô thị những năm sau chiến tranh chống Mỹ, trong thời Đổi
mới và hội nhập quốc tế… Đối với một người sẽ trở thành nhà văn, ba cái “vốn” ấyrất quan trọng, nó tạo nên những sở trường không chỉ làm phong phú về đề tài cho nhà văn mà còn tạo nên cá tính và thi pháp riêng của nhà văn!