Thứ Hai, 10 tháng 9, 2018

NAM DU KÝ - THƠ




NAM DU KÝ - THƠ
ĐƯỜNG VĂN
                        1
Cần Thơ cuộn sóng, lục bình bơi,
loa lóa ban mai, mát rợn người.
Chợ nổi Cái Răng chào khách Bắc,
măng cụt, sầu riêng áp mạn, mời!
                        2
“Nhà Lớn” Trần Trinh* làm du lịch,
Con trai Công tử* ủ ê ngồi
bán sách* kể ông cha thuở ấy;
“Ai giàu ba họ, khó ba đời!”
                       3
Chôm chôm tự hái giữa miệt vườn*,
Chút quà phương xa vui tiếp bạn.
Vẳng đâu đây bản tình ca lãng mạn
non nỉ cung đàn “Dạ cổ hoài lang”.*

                                                      Đường Văn

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2018

ANH CÒN GÌ CHO EM



Thơ tình cuối thu của Vũ Quần Phương
(Kính tặng nhà thơ Vũ Quần Phương)


ANH CÒN GÌ CHO EM

Anh còn gì cho em
Những tháng ngày gẫy nát
Tuổi thanh xuân qua rồi
Dăm câu thơ nhòa nhạt
Lá trong chiều thu rơi

Anh còn gì cho em
Cánh đồng sau vụ gặt
Phiên chợ khi vãn người
Ngọn đèn vừa cạn bấc
Bãi biển ngày nước lui

Anh còn gì cho em
Lỡ rồi không dám đợi
Buồn rồi không dám vui
Thuyền đã về bến ngủ
Biển mêng mông với trời

Anh còn gì cho em
Mặt trời lên chót đỉnh
Con đường trưa một mình
Anh đi trong bóng nhỏ
Bóng thu vào chân anh.

* Trong tập “Vết thời gian” Vũ Quần Phương đặt tên bài thơ là “Không đề”

Lời bình của Nguyễn Thị Lan
Trong những bài thơ tình của Vũ Quần Phương, “Anh còn gì cho em” là một bài thơ hay và buồn.
1. Thi phẩm không đề năm tháng nhưng có lẽ Vũ Quần Phương viết khúc “hoài niệm” này khi anh đã bước sang tuổi “thu” của cuộc đời. Một câu thơ đã mách bảo cho ta về tác giả: “Tuổi thanh xuân qua rồi”. Đời người lúc ấy có thể nói đã quành sang khúc buồn, đã đi hết những nẻo vui, mà “nỗi buồn” thì “tan lâu” như “con sông chảy chậm” trước khi đổ vào biển cả (ý thơ của Vũ Quần Phương trong bài thơ “Cửa bể”)

                                                            Nhà thơ Vũ Quần Phương

Con chim mặt trời, Dòng sông bầu trời, Hết hồn




CHÙM THƠ NGUYỄN HOÀNG SƠN
Con –chim-mặt-trời



Đố ai bắt gặp

Gà trống chơi đêm?

Trời vừa nhá nhem

Đã lên chuồng ngủ.



Đố ai thấy chú

Dậy muộn bao giờ?

Hệt chiếc đồng hồ

Tinh mơ gọi thức…



Mặt trời khó nhọc

Đêm ngủ rất say

Không có người lay

Làm sao biết dậy?



Mặt trời phải cậy

Chú gà siêng năng

Không ham chơi trăng

Ngủ sớm , dậy sớm.



Chú là gà trống

Bạn của mặt trời

Cái mào đỏ tươi

Mặt trời tặng đấy!

3/6/1981



Dòng sông và bầu trời



Dòng sông từ mùa hạ

Chảy qua miền mùa thu

Chợt thấy trời xanh quá

Mây bông trôi hiền từ.

                           Nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018

CẢM NHẬN BÀI THƠ “LỠ” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN



CẢM NHẬN BÀI THƠ “LỠ”
CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
*
LỠ

Tôi đắm hồn tôi nơi bến vắng
Lướt khướt trăng vàng rớt đáy sông
Thầm thĩ với người từng vun mộng
Trăng kia bến cũ có thay dòng?
Mỗi độ chiều tàn, đêm rủ xuống
Môi kề môi ấy có lạ không?

Và đã khi nào mỏi mòn trông
Héo hắt than hoa lạc cuối dòng?
Có còn đứng đợi chờ trăng xuống
Mơ dạo cùng ai cõi phiêu bồng...?

Tôi biết, nhưng thôi, chỉ rầu lòng
Ái tình cố níu cũng bằng không
Lòng người còn thẳm hơn sông rộng
Chỉ lỡ nhịp chèo đã qua sông.
*.
Hà Nội, chiều mưa 19.08.2016
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
LỜI BÌNH:
Tác giả bài thơ “Lỡ” quê ở Hưng Yên, bên kia bờ sông Hồng đối diện với dải đất ngoại thành Hà Nội bên này. Ngày xưa khi chưa có những cây cầu hiện đại bắc qua, làng mạc dọc theo bờ sông suốt miền châu thổ Bắc bộ, đâu cũng có bến đò ngang… Bến nước, con đò là nơi nối nhịp thông thương qua lại giữa hai bờ Nam, Bắc. Bao nhiêu đôi lứa đã gặp gỡ qua ánh mắt nụ cười trên bến, dưới thuyền mà nên duyên chồng vợ, gắn bó keo sơn, đến đầu bạc răng long. Tác giả bài thơ có lẽ là một người đã được hưởng thứ hạnh phúc dân dã trong lành một thuở để có những câu thơ hoài niệm về những kỷ niệm mà cuộc sống tất cả đã đổi thay, không còn gặp ở tình yêu tuổi trẻ bây giờ:
Tôi đắm hồn tôi nơi bến vắng
Lướt khướt trăng vàng rớt đáy sông
Thầm thĩ với người từng vun mộng
Trăng kia bến cũ có thay dòng?
Mỗi độ chiều tàn, đêm rủ xuống
Môi kề môi ấy có lạ không?

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2018

Nguyễn Thị Ánh Huỳnh và tiếng khóc mặn của vàm sông





Nguyễn Thị Ánh Huỳnh và tiếng khóc mặn của vàm sông

02/09/2018 06:58 
                                        Nguyễn Hoàng Hoa


Nhẹ nhàng mà sâu lắng, "Những vàm sông đêm" đưa người đọc dừng lâu hơn trên từng trang thơ của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh


Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh vừa ra mắt tập thơ thứ tư "Những vàm sông đêm" - Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, 2018. Với chị, "Viết là đi vào cõi mù sương khó có thể tìm thấy lối ra. Nhưng nhờ những miền đất đã qua, những người đã gặp, tôi nhận ra được hướng đường… Ngày tháng chìm sâu và sẽ mất đi… Chỉ mong mỏi có ai đó dừng lại giây lát - nơi trang sách này - để cùng tôi gặp gỡ, thông cảm và sẻ chia…".



Lời ngỏ đó của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh đã được nhiều người thấu cảm, dừng lại lâu hơn với tập thơ này.

Đã từ lâu, trên văn đàn, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh có giọng thơ riêng. "Những vàm sông đêm" tiếp tục là một minh chứng. Đó là sự duyên dáng, nữ tính mà sâu sắc, thấm đẫm chất Nam Bộ. Trong khi không ít người cứ làm dáng làm màu, giọng điệu rướn lên cho ra vẻ Nam Bộ thì Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lại khác, cứ nhẩn nha viết, từng con chữ, từng ý nghĩ đã mang hơi Nam Bộ rặt ròi.

"Má chôn cuống nhau em vào tiếng cuốc/ chiều miệt vườn gió lạc trong cây.../ gan ruột ai xuống xề câu vọng cổ/ khách thương hồ/ ly rượu bốc mù sương"…

"Ổ chim trên bàn thờ/ chung nước uống tàn nhang" (Miệt vườn).

Người con gái đất Cần Đước nói rất thật mà sao người đọc bỗng giật mình, bởi phải yêu quê hương miền hạ Long An đến nhường nào mới viết được những câu đầy ám ảnh:

"Đước à/ có tiếng cười lạt lẽo/ nhưng khóc không lạt lẽo/ khóc mặn/ một hôm/ những cây đước bước lên bờ thành người Cần Đước/ em - người đàn bà miền Nam gốc đước" (Cần Đước)

Trong bài thơ làm tựa đề cho tập thơ, hồn đất hồn người phảng phất trên những vàm sông ấy:

"Những vàm sông lỡ giấc ngồi lên/… những vàm sông sồn sồn/ không mảnh trăng làm y phục/… anh về phố lấy vợ/ vàm sông ế/ em theo chồng bỏ quê/ vàm nằm không" (Những vàm sông đêm).

Và khi những vàm sông đi biển một mình, sinh nở phù sa để nuôi châu thổ, khi những vàm sông ôm buồn tênh mà ngủ:

"Những người đàn bà xứ Nam Kỳ/ chết đi rồi/ hóa những vàm sông đêm".
                                                                                           Nhà thơ Nguyễn thị Ánh Huỳnh

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2018

VỀ CHỮ “HỒNG” TRONG BÀI THƠ “MỘ” CỦA HỒ CHÍ MINH





VỀ CHỮ “HỒNG” TRONG BÀI THƠ “MỘ” CỦA HỒ CHÍ MINH
                        Hoàng Tuấn Công
Đây là bài viết công phu, sâu sắc. Các bạn giáo viên văn THPT và bạn đọc nói chung cần biết. Cám ơn anh Hoàng Tuấn Công về bài viết này. vunhonb.blogspot.com


Trên tạp chí Ngôn ngữ học-Viện ngôn ngữ học Việt Nam, số 6-2007 có bài “Thiết kế thử nghiệm bài học ngữ văn” đối với bài thơ “Mộ (Trích ngục trung nhật ký, Hồ Chí Minh, Ngữ văn 12, tập 1)” của Th.S Vũ Thị Sao Chi (*) Bài viết  thể hiện sự đầu tư công phu khi đưa ra cách giảng dạy bài thơ “Mộ” (Chiều tối). 

Đặc biệt đã có sự so sánh khá kỹ giữa bản phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ để hướng dẫn giáo viên phân tích, cảm thụ cái hay, cái đẹp của bài thơ. 

Tuy nhiên, khi phân tích hai câu thơ cuối:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.
Nam Trân dịch:
 Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết lò than đã rực hồng.

ThS. V.T.S.C chỉ căn cứ vào chữ “hồng” qua bản dịch thơ của Nam Trân mà không tìm hiểu chữ “hồng” trong nguyên tác chữ Hán nên dẫn đến sự nhầm lẫn. Cụ thể V.T.S.C luôn bám vào hai từ “rực hồng” của người dịch để hướng dẫn giáo viên phân tích, cảm thụ bài thơ.
 Khi đọc nguyên tác chữ Hán của bài thơ “Mộ” chúng ta sẽ thấy rằng, chữ “hồng” (烘) trong câu cuối bài thơ “Mộ” có bộ hoả(1). Chữ “hồng” có bộ hoả,  tác giả bài thơ dùng với nghĩa, đốt, nhóm lửa lên chứ không phải chữ “hồng”紅 có bộ mịch (糸) là mầu hồng- sắc mầu của ngọn lửa “rực hồng”. Có nghĩa, chữ “hồng” (烘) trong câu thơ là một động từ ( đốt lên, nhóm lửa lên, sưởi ấm) chứ không phải chữ “hồng” (紅) tính từ (chỉ màu sắc lửa hồng).

Đây không phải là sự ngẫu nhiên. Ta có thể so sánh cách dùng một số chữ “hồng”khác có trong tập thơ Ngục trung nhật ký. Để chỉ màu hồng của mặt trời, của ánh sáng xua tan bóng đêm trong bài Tảo giải (Giải đi sớm) tác giả đã dùng chữ “hồng” có bộ mịch (紅). Chữ "hồng" có bộ mịch (紅) với nghĩa mầu sắc (của ánh sáng) xua tan bóng đêm-hoàn toàn khác với chữ “hồng” có bộ hoả (烘) nghĩa là đốt lên, sưởi ấm trong bài “Mộ”:

“Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng
U ám tàn dư tảo nhất không”
Dịch nghĩa:
Màu trắng ở phương đông đã thành màu hồng
Bóng đêm rơi rớt đã bị quét sạch.(2)

Hoặc chữ “hồng” (紅), cũng chỉ mầu sắc như vậy trong bài “Triêu cảnh” (Cảnh buổi sớm):

Thái dương mỗi tảo tòng sơn thượng
Chiếu đắc toàn sơn xứ xứ hồng
Dịch nghĩa:
Mỗi buổi sớm, mặt trời từ đỉnh núi mọc lên
Núi non, xứ xứ đều rực ánh hồng (3)

Thứ Ba, 4 tháng 9, 2018

CẢI CÁCH CHỮ QUỐC NGỮ, CHUYỆN KHÔNG NÊN BÀN NỮA

CẢI CÁCH CHỮ QUỐC NGỮ, CHUYỆN KHÔNG NÊN BÀN NỮA - GS.TS Nguyễn Văn Hiệp

Nguồn:    
      CẢI CÁCH CHỮ QUỐC NGỮ, 
      CHUYỆN KHÔNG NÊN BÀN NỮA
Tưởng chuyện này đã êm rồi (xã hội còn nhiều chuyện cần bàn hơn) nhưng hôm nay đọc những dòng giận dữ của GS Trần Đình Sử trên Tin Nhanh 24h, tôi thấy cần lên tiếng để ủng hộ GS Trần Đình Sử, góp thêm tiếng nói bác bỏ đề nghị cải cách chữ Quốc ngữ của PGS Bùi Hiền (thông qua Bản đề xuất của tác giả).
Những điều tôi viết ra đây cũng là ý kiến của Viện Ngôn ngữ học gửi lãnh đạo cấp trên (tháng 1/2018), nhân có chỉ đạo đề nghị Viện Ngôn ngữ học cho ý kiến về Bản đề xuất cải cách chữ viết của PGS Bùi Hiền (một người mà trong quan hệ bình thường hàng ngày tôi rất kính trọng).

Hội đồng khoa học của Viện Ngôn ngữ học đã họp (mở rộng) thảo luận về đề nghị cải tiến chữ Quốc ngữ của PGS.TS Bùi Hiển, sau đó đã tổng hợp các ý kiến để báo cáo lên lãnh đạo cấp trên. Ý kiến của Hội đồng khoa học Viện Ngôn ngữ gồm có 3 phần:
-Vài nét về lịch sử phát triển của chữ Quốc ngữ (bao gồm những điểm bất cập và những đề nghị cải tiến, sửa đổi trước đây)
-Những bất hợp lí trong đề xuất cải tiến chữ quốc ngữ của PGS.TS Bùi Hiền
-Kết luận của Viện Ngôn ngữ học
Với tư cách là Viện trưởng, tôi là người tổng hợp các ý kiến của Hội đồng khoa học mở rộng, tôi cũng trao đổi ý kiến với một số chuyên gia về ngữ âm, chữ viết có uy tín như GS Nguyễn Văn Lợi, PGS Hoàng Dũng...Vì đây là nội dung được gửi lên lãnh đạo cấp trên (chắc không có ai là nhà ngôn ngữ học) nên cách viết phải giản dị, tuy nhiên vẫn không tránh được một số thuật ngữ chuyên môn. Sau đây là những nội dung được tổng hợp:
1.Vài nét về lịch sử phát triển của chữ Quốc ngữ
Chữ Quốc ngữ được hình thành trong khuynh hướng chung của các giáo sĩ Tây Phương muốn Latin hóa các chữ Á Đông nằm trong địa bàn truyền giáo của họ. Quá trình xây dựng chữ Quốc ngữ là một quá trình lâu dài, với sự góp sức của nhiều người, trong đó có người Việt Nam. Các tài liệu cho thấy vào thế kỉ 17, chữ Quốc ngữ đã có một diện mạo khá ổn định, gắn với việc xuất bản cuốn Từ điển Việt - Bồ Đào Nha – Latin (Dictionarium Annamaticum Lusitinum et Latinum) của linh mục Alexandre de Rhodes tại Roma, năm 1651. Có thể nói, thế kỷ 17 với sự ra đời của Từ điển Việt - Bồ Đào Nha – Latin (Dictionarium Annamaticum Lusitinum et Latinum) của Alexandre de Rhodes đã đánh dấu diện mạo hiện đại của chữ Quốc ngữ. Thế kỷ 18, 19, chữ Quốc ngữ tiếp tục hoàn thiện và có hình thức như ngày nay.
Chữ Quốc ngữ là loại chữ ghi âm tương đối khoa học. Tuy nhiên nó vẫn có nhiều điểm không hoàn hảo như tất cả bộ chữ ghi âm khác. Ở diện mạo hiện nay, chữ Quốc ngữ vẫn tồn tại một số nhược điểm sau đây:

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

CHỢ PHÂN VAI BÒ
















CHỢ PHÂN

VAI BÒ

* Nguyễn Bàng

Hồi tôi còn học tiểu học ở trường làng, thằng Đa bạn cùng lớp và cùng xóm hay rủ tôi đi câu. Dạo ấy ao làng thường thả bèo phổng và bèo cái để lấy cái ăn cho lợn, chỉ vài nhà giàu có ao to mới thả cá, rào bờ ao và luôn canh chừng người câu trộm nên thằng Đa và tôi chỉ đến các ao người ta không cấm câu, tìm một bụi tre có bóng mát rồi rắc thính và thả dây câu. Ấy vậy mà, thằng Đa nổi tiếng sát cá, mới ngồi một lúc nó đã giật được năm bẩy con rô con diếc to bằng ba ngón tay trong khi tôi chỉ giật được hai ba con mài mại hay con cá cờ nhỏ xíu như cái lá tre. Vì vậy nhiều lần, khi ra về thằng Đa thương tình chia cho tôi mấy con rô, con diếc. U nó thấy nó đem giỏ cá về thì nhanh tay đỡ lấy rồi đổ cá ra chiếc chậu sành và tươi cười nói:

- Hôm nay nhà ta lại được ăn cơm với cá rồi

Nhưng thầy nó thì không hồ hởi như u nó. Ông nghiêm giọng bảo vợ:

- Bà chỉ làm hư con thôi. Cái ngón nghề câu cá ấy liệu có nuôi được nó cả đời không hay là sẽ như cổ nhân nói: “Bé đi câu, lớn đi hầu, già làm mõ”. Mà tôi nói cho mà biết, làm mõ cũng không đến lượt nó đâu, mỗi làng chỉ cần một thằng mõ thôi mà vợ chồng thằng mõ làng ta còn trẻ khoẻ lắm. Không chịu khó học hành thì chỉ còn một nước là đi làm phu đổ thùng cho nhà Năm Giệm.

Tôi nghe người lớn nói, dòng họ nhà thằng Đa là một dòng họ nhiều chữ nghĩa nhất làng, chưa có ông nghè nhưng đã có dăm bẩy ông cống từng làm đốc học hay làm quan. Đến đời ông nội nó vừa đậu xong tú tài thì đấy cũng là khoa thi nho học cuối cùng. Văn chương phú lục dở dang mà đường cày thì không biết, ông nội nó đọc sách rồi làm ông lang ở làng. Thầy nó được theo tân học nhưng vừa mới hết tiểu học thì bị ốm dai dẳng, thuốc thang của chính ông nó bốc cho uống mấy năm mới khoẻ lại nên việc học cũng đành bỏ dở rồi được ông nó truyền lại nghề làm thuốc. Nó lại là con trai duy nhất trong nhà năm chị em nên thầy nó quyết tâm sẽ cho nó học tới nơi tới chốn để mở mày mở mặt với dân làng.

Giờ nghe thầy nó bảo không chịu khó học hành thì chỉ còn một nước là đi làm phu đổ thùng cho nhà Năm Giệm. Tôi thật không hiểu phu đổ thùng là gì và nhà Năm Giệm là ai bèn về hỏi bà nội tôi. Bà tôi bảo:

- Là thầy nó nói những người chuyên lấy phân ở khu vực nội thành còn gọi là phu đổi thùng. Trong nội thành, hiện nay mới có một số ít hố xí máy tự hoại ở khu phố Tây, khu phố ta nhà nào cũng chỉ có chuồng xí thùng. Hàng đêm, phu vệ sinh đẩy xe bò đến các phố thay thùng lấy phân. Họ đập cửa  gọi đổi thùng, đổi thùng và nghe thấy tiếng là chủ nhà đang ngủ cũng phải dậy. Để át mùi, chủ nhà phải thắp vài nén hương rồi còn phải ngồi ngoài cửa trông nhà vì sợ kẻ gian lợi dụng lẻn vào ăn trộm đồ đạc. Nhiều nhà chuẩn bị sẵn mấy xu lẻ cho phu để họ không làm dây ra nhà. Việc đổi thùng diễn ra cũng nhanh vì phu chỉ lấy thùng đầy ra rồi đặt thùng không vào là xong. Phân thu  đưa về đê Đại La, ở đấy một phần đem chứa vào các bể xây chờ người đến mua, phần còn lại phu kéo thẳng đến các vùng trồng rau ngoại thành như Canh, Diễn, làng Vòng nhà mình hay làng Láng chuyên trồng rau húng.

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2018

Hai anh cùng cơ quan





Chùm thơ Nguyễn Hoàng Sơn ( Cốm, Bắt đền, Hai anh cùng cơ quan)

Cốm



Cánh đồng nhớ thành phố

Mà chẳng thể vào thăm

Nhìn đường dây hút gió

Reo những lời xa xăm…



Đồng phải nhờ hạt cốm

Cho mặc màu lúa xanh

Mượn đầm sen tờ cuối

Chút hương thơm vẫn dành…



Gửi cho người trong phố

Thơm thảo chút vị quê

Trong hạt rời cốm nhỏ

Cả cánh đồng theo đi!



Bắt đền



Cơn mưa đang đến gần

Chị ra thu quần áo

Em chạy ríu cả chân

Chỉ lo mình mất phần!



Cái áo hoa vừa tầm

Chị tiện tay rút xuống

Em vùng vằng đã ghê

Bắt chị đền mới nghe!



Nhưng biết đền cách chi?

Chị tức dường muốn khóc!

Vắt trả áo lên dây

Đúng ý

               em cười ngay!

12/10/1986



Hai anh cùng cơ quan



Chó , mèo cùng cơ quan

Phân công thật rõ ràng:

Chó làm chân thường trực

Mèo là nhà tổ chức

Cùng bảo mật, trừ gian.
                                                           Nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2018

Cảm nhận tiểu thuyết TRĂN TRỞ MỘT ĐỜI




Cảm nhận tiểu thuyết TRĂN TRỞ MỘT ĐỜI
Đọc “Trăn trở một đời ” của Nguyễn Mạnh Thắng, nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2018
                                                          Vũ Nho
Thật ra, theo những điều mà tác giả đã viết trong những tập thơ của mình, tiểu thuyết này của anh gần như là một “ hồi kí tự truyện”. Không sao! Nếu sách ở dạng tự truyện, sẽ khó cho tác giả vì những lí do tế nhị. Là “tiểu thuyết” thì cho phép người viết “hư cấu” nhiều hơn, “bịa” thêm nhiều hơn. Và quan trọng nhất là nhân vật, dù có mẫu nguyên xi ngoài đời, nhưng đã mang tên khác, là người khác. Tránh cho tác giả những phiền phức không đáng có.
Không cần phải công phu khám phá gì, thấy ngay tác phẩm “tiểu thuyết” đầu tay của nhà thơ còn thiếu kinh nghiệm.  Ba phần đầu  chỉ vẻn vẹn có 51 trang in, phần sau gồm 278 trang. Đã thế phần một có nhan đề “Tình mẹ”. Các phần sau lại không có nhan đề. Mà cái nhan đề “Tình mẹ” ấy cũng không bao quát, không gây được ấn tượng gì sâu sắc, ngoài chuyện kể  bà Cao góa chồng từ năm 21 tuổi, nuôi cậu con trai đến khi cậu 13 tuổi thì bà cưới vợ cho con. Rồi bà nói với con trai rằng bà muốn đi bước nữa với ông Đậu, người cùng làng.
Cả phần một, phần hai và phần ba đều viết bằng giọng “kể”. Câu chuyện rềnh rang, chỉ xoay quanh chuyện bà Cao lấy vợ cho con, rồi bà lấy ông Đậu, nhận một thằng bé làm con nuôi, đặt tên là Đình Lợi. Rồi bà Cao đứng lên lấy vợ hai cho chồng mình mong cho ông có người nối dõi. Nói chung  ba phần này  viết non tay, nhân vật không có gì đặc biệt. Nếu bạn đọc là người khó tính, có thể bỏ sách xuống và hạ một câu : Nhạt! Chả có gì đáng xem!
Nhưng nếu ai kiên trì đọc tiếp phần bốn, phần chính của cuốn sách này thì mới thấy cái hay của tiểu thuyết “Trăn trở một đời” . Nhân vật chính, chàng trai Nguyễn Đình Lợi, con nuôi bà Cao, ông Đậu có một cuộc đời chìm nổi đầy trải nghiệm trong cuộc chiến tranh chống Mĩ. Phần này, vẫn với văn phong “kể” như ba phần trước, nhưng nhờ có nhiều “chuyện” để kể; nhờ cuộc đời lắm phức tạp, gian nan, ngang trái; và nhờ một trí nhớ tốt, một giọng kể có duyên, do  vậy mà những yếu tố đó đã làm nên thành công của cuốn sách. Cuộc đời nhân vật chính Đình Lợi có nhiều nét giống với cuộc đời thực của tác giả, nên yếu tố “tự truyện” là khá rõ. Nhưng không sao. Chính cuộc đời lính tráng và những mất mát, tan vỡ, rồi may mắn của người viết, tự nó đã là một “tiểu thuyết” hấp dẫn.
          Anh chàng Nguyễn Đình Lợi dù là con một , dù đã có giấy gọi nhập học Đại học vẫn kiên quyết xin đi bộ đội. Cái thời của Lợi là thế “ Cả nước lên đường” mà!  Anh chàng  được thưởng phép về vì bắn giỏi, được chị phó bí thư  chi đoàn cho “vào đời”. Rồi anh chàng khám tuyển phi công mọi tiêu chuẩn đều đạt, riêng mắt thì …bị đánh trượt. Sung vào đơn vị lính dù, nhảy dù bị gió bay tạt sang sườn núi bên kia, bị  dân quân bắt vì tưởng là “phi công Mĩ”. Đơn vị lính dù giải tán, Lợi lại trở về huấn luyện lính đặc công. Phải là người lính thời đó được huấn luyện, được thông tư tưởng, và phải có trí nhớ tốt mới nhớ được lời của Lữ đoàn trưởng “ Tư tưởng còn chưa thông, mang cái bình tông cũng không nổi”. Lợi lăn lộn ở chiến trường, sốt rét, bị thương phần mềm. Hết làm lính  trinh sát đặc công, phụ trách máy bộ đàm, rồi lại chuyển sang hậu cần, làm lính xăng dầu cho đến ngày đất nước giải phóng. Những kỉ niệm chiến trường ăn sâu trong trí nhớ. Và Lợi còn ghi chép  nhật kí vào  sách hướng dẫn máy  2 oát thông tin gửi về nhà. Chuyện cứu bạn ngã xuống vực; chuyện ông tướng nói đùa chỉ có một sao, còn thấp hơn quân hàm binh nhất; chuyện đơn vị trọc đầu như sư; chuyện vắt; chuyện muỗi, chuyện anh Nhung về Bắc hai ngày cưới vợ cấp tập theo ý gia đình; chuyện bị sức ép hầm bị lấp;  chuyện đặt mìn định hướng; chuyện nằm chung với các tử sĩ, suýt bị  công binh nhầm là tử sĩ khiêng xuống chôn… Đủ cho người đọc thấy được sự gian khổ của cuộc chiến. Đó cũng là một phần giá trị của tập sách  viết về hiện thực chiến tranh. Nó bổ sung thêm những ấn tượng cuộc chiến mà chúng ta đã biết qua những tập  sách “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh), “Hồi ức lính” ( Vũ Công Chiến), “  Chuyện lính Tây Nam” ( Trung Sĩ),… 

                      Vũ Nho, chủ trang