Thứ Năm, 10 tháng 8, 2023

Hồ Xuân Hương từ nguồn tư liệu mới

 

PGS.TS. LÊ THỊ BÍCH HỒNG GIỚI THIỆU Sửa

Hồ Xuân Hương từ nguồn tư liệu mới

 
Thứ Năm, 08/09/2022, 15:48
 

Là công trình nghiên cứu của PGS.TS Vũ Nho dựa trên nguồn tư liệu mới, cuốn sách dày 440 trang khổ 14.5 x 20.5, gồm hai phần (Cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Thơ Hồ Xuân Hương) và một Phụ lục (Một số nghiên cứu về Hồ Xuân Hương).


Trong phần thứ nhất "Cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương", ngoài kế thừa những nghiên cứu trước, điểm mới của cuốn sách là tác giả đã cập nhật những tư liệu mới xung quanh cuộc đời "Bà chúa thơ Nôm".

Trước đây, các nhà nghiên cứu chủ yếu luận đoán cuộc đời Xuân Hương qua văn thơ của bà. Không ít người còn đặt sự nghi vấn rằng Hồ Xuân Hương là nhân vật có thật hay huyền thoại? Nhà thơ Xuân Diệu từng băn khoăn: "Chúng ta nay rất tức tối và đau đớn, đứng trước tình cảnh không biết ngày sinh, tháng đẻ, năm mất của một thi hào như Xuân Hương...". Nhà thơ Hoàng Trung Thông cảm thấy sự mơ hồ, huyền thoại xung quanh cuộc đời nữ sĩ: "Người ta nói nhiều về Hồ Xuân Hương/ Nhưng người đó là ai"... Đến cuốn sách này, PGS.TS Vũ Nho đã góp phần làm sáng tỏ nhiều điểm mờ dựa trên nhiều nguồn tư liệu, trong đó có "Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương" (NXB Hồng Đức, 2021) của nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng.

Từ trước đến nay, phần tiểu sử Hồ Xuân Hương viết rất sơ lược, thiếu thống nhất, chồng chéo, mâu thuẫn. Cha của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Phi Diễn, hay Hồ Sĩ Danh có hai luồng ý kiến. Dựa theo tài liệu đã được họ Hồ xác nhận thì Hồ Sĩ Danh chỉ dạy học ở quê, không đi ra Bắc, nên không có chuyện lấy vợ lẽ. Tác giả Vũ Nho đồng tình ý kiến này, bác bỏ cha là Hồ Xuân Hương là Hồ Sĩ Danh...

Hồ Xuân Hương từ nguồn tư liệu mới -0
Bìa tập sách “Hồ Xuân Hương - Đời và Thơ” của Vũ Nho.

Thứ Tư, 9 tháng 8, 2023

GIỮA HAI CHIỀU VÔ TẬN

 


GIỮA HAI CHIỀU VÔ TẬN

 
Cánh buồm chiều mỏi mệt
Bão trời bão lòng ta?
Nhặt câu thơ rơi rụng
Xâu buồn năm tháng xa.
Thời gian như bản nhạc
Từng nốt từng bước đi
Tình ngọt rồi ly biệt
Nước mây trời vô tri
Giữa hai chiều vô tận
Tóc trắng bên dòng xanh
Tiếc cái gì đã mất
Mơ cái đẹp mong manh
Cổ tích rồi khép lại
Buông hết những đua chen
Hãy với mình sống thật
Mỗi ngày gặt niềm tin.
Bùi Minh Trí
 
 
LỜI BÌNH CỦA LÊ HÀ
Giáo viên Văn Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội.
Địa chỉ B4 Khu Tập thể XN XNK Tổng hợp 1, ngõ 230 Phố Lạc Trung - Quận Hai Bà Trưng Hà Nội Số ĐT: 0942046256

Thứ Ba, 8 tháng 8, 2023

NHỮNG KHUNG TRỜI MỞ RỘNG

 


PGS.TS TRẦN THỊ TRÂM: VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM SAU NĂM 1986 – NHỮNG KHUNG TRỜI MỞ RỘNG

Nhà văn Phùng Văn Khai

 

Không thể nào ngờ một người rất chỉn chu, nghiêm túc từ bề ngoài tới công việc như PGS.TS Trần Thị Trâm lại vô cùng hăm hở viết chuyên luận và sưu tầm, tuyển chọn rất thành công với Văn học dân gian Việt Nam sau 1986.

Đây là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp nghiên cứu của bà. Nó cho thấy người viết chuyên luận, sưu tầm, tuyển chọn đã công phu, nghiêm túc, cũng vừa mở mang, khác biệt, thậm chí có những sự việc hiện tượng được dân gian thời 4.0 định nghĩa ngược hẳn với tiền nhân. Đọc lắm lúc cười ra nước mắt mà chiêm nghiệm sao thấy quá đúng với chính mình. Văn học dân gian Việt Nam sau 1986 quả là khác biệt trời vực với văn học dân gian trước đó. Nếu các cụ ngày trước đọc kiểu như: Dở hơi biết bơi; Đau sờ cau; Đầu to óc quả nho; Đừng đùa với nhà chùa; Hèn con dế mèn; Ngầu như ve sầu; Ngất trên cành quất; Ngon lành cành đào; Chán như con gián; Chảnh như con cá cảnh; Ngu như mi lu; Sát thủ đầu mưng mủ; Phê con tê tê... hẳn sẽ chồm dậy mắng té tát hoặc ngất xỉu tại trận không biết chừng?

Nhưng, lạ thay, thứ ngôn ngữ dân gian này đang hết sức thịnh hành.

Đến mức như câu: Hoa hậu viện Sử/ Kỳ nữ viện Văn/ Có chết nhăn răng/ Cũng đừng cưa cẩm; hoặc câu: Muốn giàu nuôi cá/ Muốn khá nuôi heo/ Muốn nghèo làm cô giáo; hoặc câu: Tiên trường Múa/ Chúa trường Ba (Sư phạm)/ Ma Tuyên giáo... thì đã giống như truyền hình trực tiếp xuất tướng nhập tượng thẳng thắn xông vào vùng đất khó bất chấp nếu người ta không hiểu sẽ bươu đầu mẻ trán.

Đó mới là văn học dân gian. Dân gian có cái lý của dân gian đã truyền tụng được tức là có đời sống riêng rồi.

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

BÙI VIỆT THẮNG GIỚI THIỆU

 


 PHÊ BÌNH VĂN HỌC TỪ TRẢI NGHIỆM VĂN HÓA

(Đọc Lý lẽ của trái tim, bình luận & chân dung của Cao Ngọc Thắng, Nxb Văn học, 2020)

 

   Phê bình văn học từ trải nghiệm văn hóa là phẩm chất đáng quý, không phải ai trong nghề cũng “chạm” tới được. Nó là phương pháp căn cốt, hữu hiệu hơn nhiều lần những phê bình Hậu hiện đại, Phân tâm học, Sinh thái học, Nữ quyền luận, Ký hiệu học, ...đang ào ạt đổ bộ từ nước ngoài vào Việt Nam thời gian gần đây khiến không ít người thiếu bản lĩnh hào hứng đến độ đê mê vì thấy chúng “mới” (lạ), thậm chí “khai tâm” (!?). Tôi được thụ giáo viết phê bình văn học vào cuối những năm bảy mươi thế kỷ trước từ người thầy uyên bác, tinh tế - GS, NGND, nhà văn Lê Đình Kỵ. Trong bước đầu chập chững làm nghề, thầy khuyên tôi phải cố gắng đọc của thiên hạ nhưng đừng bị “ám” bởi các lý thuyết vì “Lý thuyết thì xám, còn cây đời mãi mãi tươi xanh” (Gơt). Thầy cho tôi bài học nhập môn “viết bằng cảm xúc nhưng cần sự kiểm soát của lý trí”.

    Lý lẽ của trái tim là bài viết kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Huy Cận (1919-2019) được dùng làm đặt tên cho cả tập sách. Xét về năng lực trải nghiệm sống, trải nghiệm văn chương, trải nghiệm văn hóa, tôi thấy đồng nghiệp của mình đủ thẩm quyền viết về những vấn đề của văn học từ góc nhìn văn hóa. Hai mươi bốn (24) bài viết được đưa vào sách Lý lẽ của trái tim, tôi thấy nổi bật hàng đầu là những vấn đề về lịch sử (Dân ta phải biết nước ta), chủ quyền quốc gia (Biển đảo Tổ quốc tôi - Bản hợp ca nhiều cung bâc), thống nhất giang san (Hai chữ bình thường trong ca khúc Mùa xuân đầu tiên), truyền thống văn chương dân tộc (Trở về vốn thơ xưa),... Những bình luận này thể hiện thái độ, tình cảm của tác giả trước những vấn đề vĩ mô của đời sống tinh thần dân tộc. Hay nói cách khác là tinh thần công dân tích cực của nhà văn khi coi ngòi bút của mình luôn phụng sự chính nghĩa, dĩ công vi thượng, nuôi dưỡng ngọn lửa nồng nàn yêu giang san đất nước, yêu truyền thống văn hóa/văn chương dân tộc, yêu hòa bình và khát vọng hạnh phúc của toàn dân, đề cao tình đồng bào, đồng chí. Tôi biết, tác giả là một cựu chiến binh, đã thấm nhuần “máu người không phải là nước lã”, nên hiểu rõ giá trị của sự sống, của hòa bình, của khát vọng hạnh phúc bình thường, đơn sơ, chân chính. Tôi thấy tác giả viết bằng tất cả sự đồng cảm, đồng điệu để trải lòng cùng người đọc: “Khi Văn Cao viết thơ - ca từ cho ca khúc Mùa xuân đầu tiên, thì ông không viết cái “bình thường” của bình thường, mà là cái “bình thường” của rất - đỗi - bình - thường, vì vậy cái “bình thường” ấy không còn bình thường nữa”. Ngẫm kỹ sẽ thấy cách viết này là của một người đã trải nghiệm sống/văn chương/văn hóa. Ca khúc  bất hủ này của nhạc sỹ Văn Cao thật vô lý khi một thời đã bị cố tình hiểu lầm, thậm chí hạn chế công diễn, nay thì nghiễm nhiên trở lại trong giai điệu tự hào cùng với thời gian, nó có giá trị “vượt gộp” (chữ dùng của nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc) (!?).

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2023

 


MÙA HOA TAM GIÁC MẠCH

 

 

                                                  CẦM SƠN

 

 

1.Vèo một cái, thế mà thấm thoắt đã mười năm kể từ ngày Trần Quang Mạnh khoác ba lô về đầu quân ở Đồn Biên phòng này. Khi được tuyển lên vùng biên cương địa đầu cực Bắc của Tổ Quốc, không chỉ mừng vui mà còn là niềm tự hào của anh đối với bao nhiêu bạn bè đồng môn ở Học viện Biên phòng. Nhưng bà mẹ anh thì lại không vui, bà nói với anh:

- Vùng biên viễn ấy quá xa xôi, núi non hiểm trở, đời sống khó khăn mà bất ổn, bố anh đã từng chiến đấu và hy sinh ở đó. Thực là mẹ không muốn một tý nào về việc anh lên đấy. Học trường Quân sự, người ta đã phân công thì phải đi nhưng hễ có cơ hội thì cố mà chuyển về miền biển quê hương con ạ!

- Học Biên phòng thì phải ở biên giới. Núi rừng hay biển khơi, ở đâu chả là biên giới hả mẹ!

- Nhưng biển là quê hương, về với biển có khác gì về nhà. Giá mà anh được về ngay Đồn Biên phòng ở tỉnh nhà thì tốt biết bao nhiêu. Lấy một cô vợ là giáo viên ở nhà với tôi, còn anh đi đâu thì đi, tôi cũng chả còn mong gì hơn thế nữa.

- Nhưng con lên đấy lại được gần bố con còn gì.

- Bố anh đã dược quy tập vào nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên. Có đồng đội, có bạn bè, người thân thường xuyên đến thăm viếng ấm áp lắm rồi. Anh có ở gần cũng làm thêm được cái trò gì.

Biết nói cũng chả để làm gì, mẹ nghĩ như vậy cũng là lẽ thường, người mẹ nào mà chả lo cho con có một mái ấm gia đình hạnh phúc. Mạnh vâng dạ cho qua chuyện rồi khoác ba lô theo chúng bạn cùng làng đưa tiễn lên huyện đội.

Mười năm qua đi, mỗi lần về phép là mẹ lại huấn thị, lại manh mối cô này cô kia. Mà cũng thấy một vài cô có vẻ thân tình với mẹ lắm.

- Gần ba lăm tuổi rồi, anh còn định để đến bao giờ mới lấy vợ nữa đây. Hay là định làm dân Thổ mừ ở trên ấy hả?

- Mẹ cứ nói thế, dân tộc nào mà chả là người Việt, dân tộc nào họ cũng có nét văn hóa đẹp riêng của họ. Con tiếp xúc nhiều với đồng bào các dân tộc, con hiểu về điều đó.

- Thôi, thôi! thế là anh ăn phải bùa mê thuốc lú của đứa nào rồi. Kỳ này về phải lấy vợ ngay, tôi đã chuẩn bị rồi!

- Chuyện lấy vợ mà mẹ làm như là mua áo ấy.

- Thì đến tận đời tôi khi lấy bố anh cũng đã có ai biết ai đâu chứ chưa nói đến đời các cụ ta xưa nữa. Thế mà nhà nào cũng yên ổn, có sao đâu.

- Nhưng đến đời chúng con thì khác rồi.

- Á à, nuôi anh khôn lớn, học hành đến đầu đến đũa để rồi anh cãi lại mẹ như chém chả thể hả?

- Thôi mà mẹ, con đâu dám cãi lại mẹ. Thôi, để rồi con xem, con sẽ tự chọn vợ cho mình.

Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2023

VỀ CUỐN "NHỚ NGƯỜI CẦM LÁ DIÊU BÔNG"


 

VỀ CUỐN "NHỚ NGƯỜI CẦM LÁ DIÊU BÔNG" 

 

VỪA LÀ ĐỒNG HƯƠNG VỪA LÀ NGƯỜI ĐỒNG HÀNH    VỚI THƠ HOÀNG CẦM

 

                                                                               PGS.TS Nguyễn Bích Thu

 

Không phải ngẫu nhiên khi nhận cuốn Thơ Hoàng Cầm với văn hóa Kinh Bắc của Nguyễn Thị Minh Bắc, thi sĩ  Hoàng Cầm đã xúc động gọi chị “một người gái ngoan của Kinh Bắc…đã hoàn thành cuốn sách đáng quý với quê hương mình” và tôi xin nói thêm không chỉ với quê hương mà với cả thơ Hoàng Cầm - “một người trai Kinh Bắc đã đa mang cái nghiệp thơ nhiều oan khổ”.

Cuốn chuyên luận nói trên bắt nguồn từ luận văn thạc sĩ Văn hóa Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầmbảo vệ thành công năm 2003. Có thể nói, cách đây gần 20 năm, đề tài của Nguyễn Thị Minh Bắc là đề tài đầu tiên nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm, một đối tượng thẩm mỹ đầy sức mời gọi nhưng cũng không tránh khỏi sự e ngại về “nhân thân” với những thăng trầm, oan nghiệt mà thi nhân đã trải qua trước thời kỳ đổi mới. Và như mang cái nghiệp vào thân, từ kết quả mùa đầu ấy, hai mươi năm qua, cô giáo dạy văn Nguyễn Thị Minh Bắc bên các trang giáo án vẫn bền bỉ theo đuổi niềm đam mê nghiên cứu sự nghiệp thi ca của Hoàng Cầm. Sau khi bảo vệ, Nguyễn Thị Minh Bắc dành thời gian xem xét và điều chỉnh hệ thống luận điểm cùng các nhìn nhận, đánh giá thơ Hoàng Cầm sao cho khách quan và khoa học hơn.

Rồi mãi cũng tới bờ, năm 2008, cuốn Thơ Hoàng Cầm với văn hóa Kinh Bắc hiện diện trên văn đàn, trên các giá sách của những người mến mộ thơ Hoàng Cầm, đúng như tác giả chuyên luận tâm niệm: “ Muốn khẳng định giá trị thơ Hoàng Cầm và phong cách nghệ thuật thơ ông, rất cần có một sự giải mã khoa học, hệ thống, công phu. Chúng tôi hy vọng trở về cội nguồn văn hóa Kinh Bắc để kiếm tìm một số tín hiệu thẩm mỹ, góp phần soi sáng những đặc điểm nghệ thuật quan trọng trong thơ ông”, ngõ hầu qua đó thấy được những đóng góp và vị trí xứng đáng của thơ ông  trong lịch sử thơ ca hiện đại Việt Nam.

Không tự bằng lòng với những gì đã có, dù cuốn sách đã đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ của công chúng, nhất là với bạn đọc ở vùng quê Kinh Bắc , nhân 100 năm ngày sinh của Hoàng Cầm (1922-2022), Nguyễn Thị Minh Bắc đã làm “mới” cuốn chuyên luân ra đời từ 15 năm trước (2008) bằng cách bổ sung phần Phụ lục với 111 trang cho đầy đủ và thời sự, cập nhật hơn.

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2023

MỘT QUAN NIỆM MỚI MẺ VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN ĐƯƠNG ĐẠI

 MỘT QUAN NIỆM MỚI MẺ VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN ĐƯƠNG ĐẠI

                                                                     Nhà thơ Nguyễn Thị Mai

 nh_n.t.mai_1

 Cuốn “Văn học dân gian Việt Nam sau 1986” (VHDGVN sau 1986) của tác giả Trần Thị Trâm vừa ra đời (NXB Văn học, 2022) là một cuốn sách lý thú, có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn trong đời sống đương đại hôm nay.

Có thể nói, đây là công trình đầu tiên sưu tầm, nghiên cứu VHDG sau 1986 một cách nghiêm túc bài bản, phong phú, độc đáo và phần lý luận được viết khá sâu sắc. Công trình “Văn học dân gian Việt Nam sau năm 1986” của chị có thể coi là sự kế cận, nối tiếp các cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan, in năm 1971 (hơn 500 trang), “Ca dao Việt Nam 1945 – 1975” của Nguyễn Nghĩa Dân in năm 1997. Bởi chị biết “ngắt đoạn thời gian” có nhiều sự kiện xã hội đặc biệt, mới mẻ, tác động làm nảy sinh dòng văn học này. Đồng thời chị biết cần phải nối tiếp giai đoạn văn học dân gian từ năm 1986 trở về trước chưa từng nảy sinh các vấn đề của thời hiện đại. Điều chị muốn là công trình kế tiếp của chị phải quy mô, khoa học, đầy đủ thể loại và thực sự là cuốn sách có giá trị mà từ năm 1986 đến nay chưa có công trình nào tổng hợp được.

Vì vậy, “Văn học dân gian Việt Nam sau năm 1986” bao gồm hai nội dung lớn: Phần Chuyên luận và phần Sưu tầm, Tuyển chọn.

Thứ Năm, 3 tháng 8, 2023

NHÀ THƠ NHÀ GIÁO ĐOÀN VĂN CỪ DỊCH THƠ

 

NHÀ THƠ NHÀ  GIÁO ĐOÀN VĂN CỪ DỊCH THƠ

                               Vũ Nho

                                                                                   NHÀ VĂN VŨ NHO

Năm 2009 , khi in tập sách “33 gương mặt thơ nữ” ( Nhà xuất bản Hội Nhà Văn), tôi đã  dẫn những câu thơ được lưu truyền là của M. Gorki:

            Ta ca người phụ nữ

            Những người mẹ hiền từ

            Cả thế giới nương nhờ

           Dưới hai bầu vú sữa

            Trời không ánh sang hoa nào nở

            Dạ vắng yêu thương cảnh những sầu

            Đời thiếu mẹ hiền không phụ nữ

            Anh hùng thi sĩ hỏi còn đâu

Quả thật tôi có biết tiếng Nga, đã ở Nga, nhưng chưa bao giờ nghe nói  M. Gorki làm thơ. Mà nếu ông làm thì đó là bài thơ nào? Ai dịch ra tiếng Việt?

Đành bó tay.

Một lần  tôi cùng anh Lê Sơn và Trần Hậu ngồi quán bà Tình, tôi hỏi anh Lê Sơn, anh  nói không biết. Trần Hậu cũng không biết.

Mãi đến tháng 5 năm 2023, khi tôi thăm Bảo tàng Văn học Nga của  dịch giả Thúy Toàn, khi thấy bản dịch bài thơ văn xuôi của M. Gorki, tôi đem câu hỏi băn khoăn từ lâu hỏi dịch giả. Không ngờ anh Thúy Toàn nói đó là thơ của Đoàn Văn Cừ, dịch từ ý tưởng của M. Gorki.

            Tôi về tìm đọc trên mạng thì thấy năm 2013, dịch giả Thúy Toàn đã viết bài về việc dịch thơ của  nhà giáo, nhà thơ Đoàn Văn Cừ. Trong bài có đoạn:

Thứ Tư, 2 tháng 8, 2023

 


NHÀ GIÁO- NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ THIỆN - NGƯỜI CẦN MẪN VỚI THƠ HAY

            Qua 2 tập  Nơi biên cương Tổ quốc , nxb Hội Nhà văn, 2022 và Tiếng lòng nơi đầu sóng, nxb Quân Đội Nhân Dân, 2023

                                                 Vũ Nho

           Nhà giáo - nhà văn Nguyễn Thị Thiện, hội viên Hội nhà văn Hà Nội là một cây bút giàu đam mê. Chị cần mẫn, không ngừng tìm tòi, phát hiện và lan tỏa vẻ đẹp của thơ văn.  Những năm gần đây, người đọc gặp nhiều bài viết của chị trên các báo giấy, báo mạng viết về tác phẩm của các nhà thơ Vương  Trọng,  Nguyễn Thị Mai, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Sĩ Đại; các nhà văn  Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Hoài Nam, Thu Lâm... Cũng có khi chị viết về chân dung tác giả như: nhà văn Thế Hùng, nhà thơ Vương Trọng. Gần đây chị còn viết về nhân vật lịch sử như cụ Nghè Nguyễn Đăng Huân… 

Nhưng với bạn đọc, trước hết nhà văn Nguyễn Thị Thiện là người đam mê với thơ.  Chưa kể một tập truyện ngắn và tập phê bình tiểu luận, tác giả đã xuất bản đến tám tập bình thơ : Trang thơ trang đời (2017), Tình quê tình người, tập 1 (2018), Tình quê tình người, tập 2 (2019), Thơ dâng Mẹ (2020),  Quê hương Việt Nam  (2020) , Tình  Cha con (2021),  Nơi biên cương tổ quốc (2022), Tiếng lòng nơi đầu sóng (2023).

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2023

CUỐN SÁCH ĐỘC ĐÁO CỦA PGS.TS. TRẦN THỊ TRÂM

 

CUỐN SÁCH ĐỘC ĐÁO CỦA PGS.TS. TRẦN THỊ TRÂM

Đọc  Trần Thị Trâm - Văn học dân gian Việt Nam sau 1986, Nhà xuất bản Văn Học, 2022.

                              Vũ Nho



      Không biết do cơ duyên nào mà PGS.TS Trần Thị Trâm, giảng viên của Học viện báo chí tuyên truyền lại gắn bó với văn học dân gian nhiều như vậy. Trong 10 cuốn sách  đã công bố thì có tới 4 cuốn liên quan đến văn học dân gian ở dạng chuyên khảo hay giáo trình. Phải chăng, cuốn sách Văn học dân gian trong xã hội hiện đại công bố năm 2013, năm 2014 được trao giải 3A và năm 2017 được Hội Văn Nghệ dân gian Việt Nam tái bản là một sự cổ vũ,  khích lệ, động viên người viết? Chỉ biết rằng tác giả Trần Thị Trâm vẫn tiếp tục sưu tầm, tiếp tục nghiền ngẫm, tiếp tục đào sâu vào mảng đề tài để trên cơ sở của cuốn sách đã công bố, cho ra đời cuốn sách mới đồ sộ “ Văn học dân gian Việt Nam sau 1986” với dung lượng 433 trang khổ 14,5 x 20, 5 cm. Vì sao lại đặt vấn đề lây mốc 1986 mà không phải là năm nào khác? Tác giả giải thích:

             Bởi vì văn học dân gian 30 năm kháng chiến ( từ 1945 đến 1975), đã được sưu tầm, đánh giá khá đầy đủ trong một số công trình của các tác giả khác. Còn từ 1975 đến năm 1986, theo quán tính, văn học dân gian vẫn phát triển theo dòng chảy sử thi, nên sự đổi mới so với giai đoạn 1945 – 1975 là chưa đáng kể”. ( trang 13)

            1986 , đất nước chúng ta bước vào thời kì đổi mới, tiếp sau đó  lại  trải qua thời kì đại dịch covid năm 2020 -2022. Đây là thời kì có những khác biệt rất lớn với các thời kì trước.

            Chúng tôi nghĩ rằng chọn được đúng và trúng cho hướng nghiên cứu đã là một bước thành công. Hơn thế nữa,  với tư cách là một chuyên gia về văn học dân gian, tác giả triển khai hướng nghiên cứu trong tinh thần so sánh đặc trưng,  hệ thống thể loại, đặc điểm thẩm mĩ của văn học dân gian các thời kì khác nhau, càng làm nổi bật đối tượng văn học dân gian Việt Nam sau 1986.