Thứ Tư, 10 tháng 3, 2021

THĂM VƯỜN VỚI LỜI BÌNH

 


THĂM VƯỜN VỚI LỜI BÌNH Sửa

THĂM VƯỜN

 

Hoa rụng sạch không xuân đã tàn

Thăm vườn thương cảm kiếp hồng nhan

May còn một đóa màu tươi đỏ

Thắp lửa lòng ta với thế gian.

 

                                  BÙI MINH TRÍ

 

Bài thơ in trong tuyển tập Theo bước Tản Đà (NXB Văn học 2012) , được chọn in lại trong tập KHÚC QUÊ của Bùi  Minh Trí, NXB Văn học 2021

 

LỜI BÌNH

 của nhà thơ Lương Hữu

Hội viên Hội Liên hiệp VHNT Thái Bình

(Bài in trong tập “Bằng cứ văn chương”,  in tại

Nhà xuất bản Văn học.)

 

        Trong tiếng Việt, chữ Thăm thật chân tình, hàm ý nghĩa ân cần, gần gũi, chu đáo. Có quan tâm, có lo lắng, có thương cảm, có trách nhiệm… thì mới có thăm nhau. Không nói đến các kiểu thăm xã giao, thăm cho phải phép, thăm để cầu lợi…ngoài thế thái nhân tình, chữ Thăm của Bùi Minh Trí có một sự sẻ chia với đối tượng được thăm, với khu vườn thương cảm mình đến.

      Trước đây, Trần Hữu Thung đã từng “Thăm lúa” . Lúa được nhắc đến ít thôi, nhưng tình người thăm thì trải vô biên. Bây giờ, “Thăm vườn” , Bùi Minh Trí chỉ nhắc đến hoa, và nhắc đến cái rụng, cái tàn của hoa. Cảm quan thi sĩ lướt theo thời gian, bời bời hoa xuân và cũng vùn vụt ngày xuân. Chữ “sạch không” đẩy thêm nghĩa cho chữ “rụng”, buồn thêm cho nỗi hoa tàn, hay xuân tàn.  

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2021

"NHỚ" CỦA PHẠM TIẾN DUẬT VỚI LỜI BÌNH THANH ỨNG

NHỚ

 

Cái vết thương xoàng mà đưa viện

Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo

Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến

Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo

                                   Phạm Tiến Duật

 

Lời bình của Thanh Ứng

 

 Chùm thơ được giải báo “Văn Nghệ” năm 1969 đã đưa Phạm Tiến Duật trở thành nhà thơ hàng đầu của thời chống Mỹ và góp phần làm nên giá trị thơ Phạm Tiến Duật xứng đáng với Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2012 mà Nhà nước truy tặng tác giả này. Với tôi, những năm đánh giặc, trên bục giảng nhà trường,“Lửa đèn”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây”, “Nhớ”…đã trở thành thân thuộc, gần gũi. Không biết đã bao lần, tôi đọc diễn cảm say sưa những bài thơ trên trước học sinh. Đăc biệt có bài “Nhớ”:

Cái vết thương xoàng mà đưa viện

Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo

Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến

Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo

 

                                                                                 PHẠM TIẾN DUẬT

 

Thứ Hai, 8 tháng 3, 2021

CHÚC MỪNG 8 THÁNG 3 năm 2021!

 

 Chúc các bà, các mẹ, các chị, các em, các cháu mạnh khỏe, tràn đầy niềm vui, hạnh phúc!

THÁNG BA VỀ...

 


THÁNG BA VỀ...

- với V yêu -


Ừ tháng Ba về! Ừ, tháng Ba...

Hoa xoan tim tím rụng hiên nhà

Lạnh chiều cong cớn cơn gió lạ 

Mưa bụi giăng dầy, ta nhớ ta.

*.

Làng Tám, chiều 01.03.2021

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

product2531506759683

 

 

Chủ Nhật, 7 tháng 3, 2021

LAI RAI CHUYỆN ĐỜI

 


LAI RAI CHUYỆN ĐỜI

 

                                                     TRUYỆN NGẮN CỦA VŨ THIỆN KHÁI

 


 

      Con gái út tôi sinh năm 1983. Giấy khai sinh ghi nơi sinh xã Tân Thạnh huyện Tân Biên tỉnh Tây ninh. Ngày ấy, Tân Thạnh còn là xã kinh tế mới bề bộn vấn đề. Thương cháu gái còn măng sữa mà khẩu phần hằng ngày chỉ toàn củ mì với bo bo, ông bà nội đem cháu lên thành phố nuôi nấng. Thị trấn Tân Châu giầu có sầm uất bây giờ chính là cái xã nghèo nàn heo hút thuở ấy. Bây giờ thi thoảng con tôi tự lái xe ô tô chở con cái về thăm bố mẹ. Có lần tôi hỏi thử: Con còn nhớ chút nào về căn nhà tranh và con đường đất đỏ ngày xưa không? Nó hồn nhiên trả lời: Thì lúc ấy cũng như vầy chứ có khác gì đâu bố. Tôi cười buồn. Tự trách mình già rồi, lẫn cẫn rồi. Lúc về thành phố ở với ông bà, nó còn bé quá, làm sao nhớ nổi quang cảnh nơi mình đã sinh ra và nông nỗi những đời người đã cùng bố mẹ phơi sương đội nắng vật lộn với hoang vu ngày ấy.

Đã qua gần bốn chục năm rồi, tuổi thêm cao khiến tôi lãng quên nhiều chuyện. Nhưng trong ký ức vẫn đăm đắm như in cái buổi chiều giữa năm 1980, chiếc xe lôi chở cả gia đình tôi đỗ xịch bên cạnh thửa vườn ngập lút cỏ tranh. Đầu vườn, nhô lên khỏi thảm cỏ dại đủ loại không tên đang thì xanh tốt bời bời, đơn độc một nóc nhà xộc xệch bỏ không, hai mái xác xơ những tấm tranh xam xám vì mưa nắng. Đấy là cái chỗ ở mấy hôm trước tôi được chính quyền xã Tân Thạnh phân cho khi đến xin nhập tịch. Ngày ấy rừng còn luẩn quẩn ở lẫn với người. Giữa vườn còn sừng sững một cây dầu thân to cỡ người ôm không hết. Những ngày mưa, chưa tới năm giờ chiều tàng lá rùm ròa của nó đã ngả bóng tím xẫm trùm kín vuông sân đất sét luôn nhão nhoét, tạo cảm giác ở đây trời xập tối nhanh hơn nơi khác. Nửa đêm hôm ấy trời đổ trận mưa rào. Cả nhà tôi phải ngồi chụm với nhau dưới tấm ni lông. Được lúc nào tạm tắt mưa thì lại rộ lên inh ỏi tiếng tắc kè. Tắc kè núp trong vườn, tắc kè trong vạt rừng gần lắm vọng về. Là cô thôn nữ mới chỉ quanh quẩn giữa làng đồng bằng bắc bộ, vợ tôi trắng đêm không chợp mắt. Hễ cựa mình lại sụt sịt: Về quê mình thôi anh. Sáng mai, khẽ dịch tấm cửa tạm bợ bằng những thân cây le vênh váo, vợ chồng tôi bước ra vườn. Sát bàn chân tôi và lùi tận mấy cọc bờ rào nghiêng ngả chỉ thấy rập rờn toàn cỏ và nhấp nhô ụ mối. Chẳng có một thứ trái cây, thứ củ nào có thể bỏ vào mồm. Vợ tôi lại thiết tha thôi thúc: Về quê thôi anh. Tôi mắm chặt môi chẳng dám trả lời. Nhìn sang nhà bên cạnh, mấy sợi khói xanh âm ấm đang là là bám vào mái tranh căn bếp thấp lúp xúp. Hơi gió đưa sang mùi củ mì luộc thơm ngọt và hơi lửa ấm áp đến nao lòng. Chỗ đầu hồi căn nhà trên rộng chừng hai chục mét vuông giống y căn nhà gia đình tôi vừa qua đêm, một thiếu phụ đứng quay tấm lưng thon thả về phía bên này, đôi cánh tay xắn lên quá khuỷu để lộ làn da trắng muốt. Dùng bàn tay vừa vốc nước rửa mặt cho đứa bé gái chừng dăm tuổi, chị vừa nhỏ nhẻ dặn hai đứa trẻ áng chừng anh chị nó đứng xếp hàng chờ đến lượt mình: “Má đi làm rồi không được đứa mô ra bờ giếng nghe con”. Tôi nhận ra chất giọng Huế nhẹ như gió thoảng. Thấy miệng giếng nhà tôi cũng trống hoác, rất nguy hiểm cho các con còn nhỏ, việc đầu tiên trong ngày, tôi chặt nhiều đọan cây tròn to cỡ cổ tay ghép lại làm tấm che, loại cây cỡ ấy trong vườn nhiều vô số. Tiện tay tôi ghép thêm tấm nữa che lên miệng giếng nhà chị hàng xóm. Chiều muộn chị mới về nhà. Tối đó chị dắt ba đứa nhỏ sang nhà tôi ngỏ lời cám ơn. Tự giới thiệu chị tên Thu, chồng là sĩ quan chế độ cũ đang học tập ngoài Bắc đã bốn năm rồi. Chị vốn là giáo viên tiểu học, rời thành phố cùng ba con nhỏ lên xã kinh tế mới này được bốn năm rồi. Ngày đi, chính quyền phường truyền đạt: Gia đình nào chấp hành chính sách tốt, tự nguyện đi kinh tế mới sẽ chiếu cố cho chồng con đang học tập sớm trở về. Đến hôm nay vẫn chưa thấy mô tê. Bốn năm biền biệt rất muốn đi thăm nuôi ba sắp nhỏ một lần mà không thể. Sắp con chị đứa lớn chưa đầy mười tuổi. Đứa nhỏ chừng gần  năm tuổi. Cũng sàn sàn tuổi ba đứa con nhà tôi. Hằng ngày chị đi làm cỏ mướn, đi gọt vỏ củ mì cho mấy lò làm tinh bột. Nếu độn thêm khoai hoặc củ mì thì tiền công làm của chị cũng chỉ đủ cho ba mẹ con ngày hai bữa.

Thứ Bảy, 6 tháng 3, 2021

NHÀ THƠ VŨ QUẦN PHƯƠNG BÌNH BÀI THƠ “MƯA” CỦA THANH ỨNG

 


NHÀ THƠ VŨ QUẦN PHƯƠNG BÌNH BÀI THƠ “MƯA” CỦA THANH ỨNG

 v_qun_phng

 

MƯA

 

                       Tôi ngồi đây với mưa

Những cơn mưa dầm dề khắc khoải

Những dây nước trên trời giăng mãi

Mấy ngày nay không một phút ngừng

 

Những trận mưa rừng

Vắt nhảy ngang thân áo

Những em nhỏ ngày ngày lặn lội

Đội mưa đến trường

 

Những mái lớp gió tung

Phên che sơ sài lạnh buốt

Nước chảy vào chỗ học

Em dầm chân trong mưa

 

Con suối lũ em qua

Nước ngập tràn ngang mặt

Không về được, lũ trẻ ôm nhau khóc

Cô giáo đứng ngẩn ngơ…

 

Sao cứ mưa, cứ mưa

Vào những ngày em vừa đến lớp

Trường học gió xiêu không sửa kịp

Tiếng trống đầu năm giục em vào

 

Đâu phải những cơn mưa ngọt ngào

Trong thơ và trong kỉ niệm

Mưa cứ cắt lòng ai đau điếng

Giọt mưa lạnh thấu xương

 

Thôi đừng mưa, đừng mưa

Để em về bên bếp

Hong sách vở và rang ngô nếp

Lửa hồng lên ấm một chút lòng tôi…

 

    Đà Bắc(Hà Sơn Bình) những ngày mưa tháng 9/ 1988

(Giải nhất thi Thơ “Toàn dân chăm lo sự nghiệp giao dục” do báo “Người GVND” (báo Giáo dục & Thời đại ngày nay) tổ chức năm 1990)

Lời bình của nhà thơ Vũ Quần Phương:                    

“ Thơ viết về nhà trường, tác giả (phần lớn) là những nhà giáo. Đọc thơ như được tâm sự cùng những người làm cái nghề cao cả và khó khăn nhất trong mọi nghề: nghề dạy dỗ con người. Nguyên liệu của nghề này không phải là thứ kim mộc thủy hỏa thổ nào, mà là tâm hồn con người. Tôi đọc một trăm bài thơ vào chung khảo cuộc thi  sáng tác văn nghệ “Toàn xã hội chăm lo sự nghiệp trồng người” không chỉ với ý thức một người tham gia giám khảo mà với cả tình cảm thuở đi học, với lòng biết ơn những người thầy của mình, lòng yêu kính của một phụ huynh đối với các nhà giáo đang dạy dỗ con mình.

Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2021

NHỮNG “DÂN CHƠI” DƯỚI DẠNG TẦM GỬI

 



NHỮNG DÂN CHƠIDƯỚI DẠNG TẦM GỬI

                      VŨ THỊ HƯƠNG MAI

Trong giới ăn chơi còn xuất hiện một hạng người chuyên sống dưới dạng "tầm gửi". Họ sống vật vờ hàng đêm ở những vũ trường chỉ nhằm bắt quen với các "đại gia" để kiếm ly rượu chùa hoặc "chơi ké", nhưng lại không phải là "call girl" (gái gọi) như mọi người vẫn nghĩ. Các cô gái này thường không thuộc  hẳn vào một nhóm chơi nào nhưng bất cứ một "đại gia" nào đều khó qua mắt họ. Bản thân họ không nhiều tiền để có thể thoải mái ăn chơi nhưng những chốn nhạc chát chúa và ánh đèn xanh đỏ lại luôn cuốn hút họ.

Cũng vì lẽ đó mà chúng tôi đã chẳng khó khăn gì khi tiếp cận được một cô gái đang ngồi nhâm nhi cốc rượu bên cạnh quầy bar của một sàn nhảy. Đó là Thảo, cô gái 21 tuổi, đã nghỉ học được 3 năm, không nghề nghiệp, đêm nào cũng có mặt ở đây để ăn chơi, nhảy nhót tới tàn đêm. Qua nói chuyện, tôi được biết gia đình cô không giàu mà chỉ ở mức trung bình và hiện đang sống ở thành phố. Cô không được bố mẹ chu cấp tiền chơi đêm nhưng lại được buông lỏng về thời gian, vì thế nên cô chỉ mang theo cái ví "rỗng" đến các cuộc chơi.

Thời gian đầu còn bỡ ngỡ nên Thảo còn cố xoay tiền để vào cửa, nhưng sau quen bảo vệ họ cũng chẳng hỏi nữa. Đêm nào cô cũng bắt quen một cách "ngẫu hứng" với một nhóm chơi nào đó và sẵn sàng chơi hết mình. Thậm chí, nếu hăng có khi chỉ cần một ly rượu ngoại cô cũng có thể overnight miễn phí ngay.

Bên cạnh Thảo còn có nhiều "dân chơi dởm" sẵn lòng và mong muốn như vậy, được chơi tới bến mà không phải mất một xu. Họ đâu cần nghĩ đến thể diện và danh dự, chỉ cốt được vui vẻ, thỏa thê trong chốn "thiên đường" ấy là đủ.

Thứ Năm, 4 tháng 3, 2021

Bình bài thơ “Dâng trà” của Nguyễn Quang Thiều

 


    Bình bài thơ “Dâng trà” của Nguyễn Quang Thiều

                        

     Thưa cha, con đã dâng trà

      Chiều quê một nửa mái nhà nắng đi

      Làng nghèo ngồi đếm chim ri

      Con nghèo con đếm thầm thì trong mơ

      Con sao tìm lại ấu thơ

      Mà roi cha vẫn gác hờ mái hiên

      Con từng ba dại bảy điên

      Chén trà con rót tràn niềm đắng cay

      Phận con nhàu trọn lòng tay

      Một câu thơ bạc một ngày vô ơn

      Chén trà, con có gì hơn

      Mời cha rồi nuốt tủi hờn sau cha

 

      Thưa cha, con đã dâng trà

      Sao cha im lặng như là bóng mây

      Để hồn trà khuất đâu đây

      Xác trà lạnh ngắt đổ đầy lòng con…

         (Trích trong “Tản Viên Sơn” số Xuân Tân Mão-2/2011)

 

Lời Bình của Thanh Ứng

 

         Đọc “Dâng trà” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, tôi cứ ngỡ gặp một Nguyễn Quang Thiều khác. Bài thơ đầy xúc động, đằm thắm, chứa chan tình cảm không giống nhiều bài thơ khác.  Nhưng khi đọc lại các tập thơ “Sự mất ngủ của lửa”, “Những người đàn bà gánh nước sông”… với những bài, những câu  viết về làng quê anh , về những người thân trong gia đình, làng xóm…  thì mới thấy “Dâng trà” là một phần, nếu không muốn nói đó chính là hồn cốt của Nguyễn Quang Thiều. Dẫu là sự cách tân trong việc tìm tòi, sáng tao thi tứ, sự mới mẻ trong việc sử dụng ngôn từ, câu thơ, dòng thơ…thì ở tận chiều sâu trong tâm hồn thi sĩ Nguyễn Quang Thiều vẫn là  máu thịt của  đồng quê, xóm mạc nơi chôn nhau cắt rốn và bao kỉ niệm   thời ấu thơ khổ nghèo.   Trong đời sống, Nguyễn Quang Thiều vĩnh biệt người cha khi anh đã trưởng thành. Anh đã công phu phụng dưỡng cha khi cha lâm bệnh, đã cùng anh em họ mạc tiễn đưa cha chu toàn khi người ra đi. Còn gì đây vương vấn hồn anh? Một buổi chiều quê về lại ngôi nhà xưa nơi anh sinh ra và lớn lên, anh dâng lên cha chén trà của lòng hiếu đễ. Những dòng lục bát cứ lịm vào suy tưởng trong một buổi chiều nắng lui dần về hoàng hôn giữa ngôi nhà lạnh vắng: “Thưa cha, con đã dâng trà / Chiều quê một nửa mái nhà nắng đi”. Năm tháng cũ của làng xóm, của tuổi thơ như thực, như mơ hòa với những âm thanh thầm thì linh diệu trong buổi chiều quê càng làm cho hồn thơ Nguyễn Quang Thiều chơi vơi trong cõi thiền mặc định. Như nhiều đứa trẻ quê nghịch ngợm bướng bỉnh, chịu đòn roi, Nguyễn Quang Thiều hồi tưởng tuổi thơ của mình trong niềm xúc cảm dâng trào. Ấn tượng về cái “roi cha vẫn gác hờ mái hiên” là ấn tượng khắc khoải về một tuổi thơ với sự dạy dỗ nghiêm ngặt của người cha và những lỗi lầm,ương bướng của một thời ngây dại vẫn còn ẩn khuất đâu đây. Điều đó làm cho câu thơ như là một lời tự thú xót xa: “Con từng ba dại bảy điên / Chén trà con rót tràn niềm đắng cay”. Xúc cảm của Nguyễn Quang Thiều được nhào trộn giữa qúa khứ với hiện tại, được đan xen giữa hôm qua và hôm nay, giữa niềm yêu kính nhớ thương cha và lòng tự kiểm sâu sắc…Nhà thơ trở về với bản thể trong một nghi lễ giản đơn mà thiêng liêng! Người đọc nhận ra trong bài thơ một Nguyễn Quang Thiều luôn có sự thiết tha với cội nguồn, gốc rễ của mình. Đó là hồn người, là ân nghĩa sâu xa với những gì tổ tiên ông cha để lại., một Nguyễn Quang Thiều có trái tim dễ bị động chạm. Từ đó anh viết những câu thơ thật đắng lòng: “Phận con nhàu trọn lòng tay / Một câu thơ bạc một ngày vô ơn / Chén trà, con có gì hơn / Mời cha rồi nuốt tủi hờn sau cha”. Một Nguyễn Quang Thiều như ta đã từng thấy trong cuộc sống, trên văn đàn đối lập hoàn toàn với Nguyễn Quang Thiều trong bài thơ trên. Đâu còn những bước chân mạnh bạo trên đường, những ý tưởng độc đáo, những phát ngôn quyêt liệt và những bài thơ với những sự cách tân mạnh mẽ gây tranh cãi một thời…còn ở đây là con người với những lời chân thành tự kiểm thiết tha, sự khiêm cung đáng nể và cả lòng mềm yếu như con trẻ trước hồn cha trong một buổi chiều quê. Đó chính là con người Nguyễn Quang Thiều: Anh sâu sắc, quyết liệt song rất khiêm nhường, tình nghĩa trong đời sống.

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

Lai lịch 2 câu thơ : Mỹ nhân tự cổ...

  


LAI LỊCH 2 CÂU THƠ


“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng,
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.”
“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng”. Người đẹp giống với danh tướng ở chỗ cùng được người đời ngưỡng mộ. Họ là hào quang rực rỡ trong tâm tưởng người đời. Ký ức về cái đẹp tuyệt vời ấy cũng là một thực thể và người ta muốn thực thể ấy được tồn tại lâu bền. Trường hợp Lý phu nhân đời Hán là một ví dụ: Hán Vũ Đế (156-87 TCN) - vị vua kiêu hùng nhất của Hán triều - triều đại cường thịnh kéo dài đến hơn 400 năm - đã cho tuyển vào cung hàng ngàn mỹ nữ tuổi từ 15. Ai đến tuổi 30 mà không được vua chiếu cố thì sa thải, cho về quê. Vậy mà khi Hán Vũ Đế nghe Lý Diên Niên hát bài Giai nhân ca :
Bắc phương hữu giai nhân
Tuyệt thế nhi độc lập
Nhất cố khuynh nhân thành
Tái cố khuynh nhân quốc
Ninh bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc
Giai nhân nan tái đắc
Dịch Thơ:
Bắc phương riêng có giai nhân,
Một mình tuyệt thế dám cân ai bì.
Một nhìn thành đổ nghiêng đi,
Liếc thêm lần nữa còn gì nước non!
Cần chi biết thành nghiêng, nước đổ.
Há muôn đời dễ có giai nhân ?!
(Nguyễn Cẩm Xuyên dịch)
Nhà vua đã than rằng: Quả có người đẹp như thế trong đời ư!?. Bình Dương công chúa quỳ tâu: Lý Diên Niên có người em gái rất đẹp, ca múa đều hay... Tức thì, em gái Lý Diên Niên được lệnh nhập cung. Thấy mặt mỹ nhân vua đâm ra mê mẩn, công nhận là sắc nước hương trời, phong nàng làm Lý Phu Nhân và không còn thiết đến ai khác.
Mấy năm sau, Lý Phu Nhân lâm trọng bệnh. Lúc nàng sắp mất, Vua lo lắng đến tận giường thăm hỏi và muốn được nhìn mặt nàng lần cuối nhưng vì muốn lưu giữ mãi vẻ đẹp của mình với hoàng thượng nên mặc cho vua nhiều lần nài nỉ, Lý phu nhân vẫn nhất quyết úp mặt vào tường. Vũ Đế tức giận quay phắt ra về.
Quả vậy, Lý phu nhân mất đã mấy năm rồi mà Vũ Đế vẫn mãi mơ tưởng hình bóng giai nhân. Lắm khi nhớ quá, vua nghe lời các thuật sĩ, cứ thẫn thờ ngồi đợi hồn người xưa hiện về.

VĂN HÓA TRANH LUẬN

 


VĂN HÓA TRANH LUẬN

                         Vũ Nho - Vũ Thị Thanh Nhã

Trong đời sống hàng ngày, không phải ai cũng suy nghĩ và đánh giá giống nhau trước một hiện tượng, một sự kiện hoặc một biến cố. Bao giờ cũng xảy ra  việc  thảo luận, bàn bạc, trao đổi để đi đến một cách hiểu, một cách đánh giá chung cơ bản thống nhất.  Bình thường thì là thảo luận, trao đổi. Nhưng nếu quá khác nhau thì phải tranh luận, đưa ra những lập luận, dẫn chứng để thuyết phục người đối thoại với mình.

Việc thuyết phục người tranh luận  trong hội nghị, trong  cuộc tụ họp bạn bè, hay trên diễn đàn đều đòi hỏi người tham gia tranh luận có văn hóa tranh luận. Vậy văn hóa tranh luận thể hiện ở những điểm nào?

-         Thứ nhất là cần phải tôn trọng người tranh luận. Phải luôn coi ý kiến của họ xuất phát từ tinh thần thẳng thắn, xây dựng chứ không nhằm mục đích thắng thua.

-         Thứ hai là cần phải lắng nghe  ý kiến của họ. Cố gắng hiểu đúng, hiểu nội dung chính của họ để trao đổi trúng vấn đề, không lan man, vòng vo làm loãng chủ đề thảo luận.

-         Thứ ba là phải có một thái độ cầu thị, phục thiện. Nếu ý kiến của  người tranh biện với mình đúng thì cần phải thừa nhận,  có thể họ chỉ đúng một phần, đúng một nửa, hay chỉ đúng một khía cạnh nào đó, cũng phải trân trọng. Đại thi hào Nguyễn Du viết “Mà trong lẽ phải có người, có ta”. Đây là một  minh triết cho tranh luận. Chẳng cứ gì người với người, tổ chức với tổ chức, mà ngay cả quốc gia này với quốc gia khác cũng vậy. Biết mình, cũng phải biết người.