Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2021

ANNA AKHMATOVA – NỮ HOÀNG THI CA NGA

 


ANNA  AKHMATOVA – NỮ HOÀNG THI CA NGA

                                ĐÀO TUẤN ẢNH

 

Anna Akhmatova, một trong những đại diện xuất sắc của thơ Nga thế kỷ XX,  người được tôn vinh là Nữ hoàng thi ca Nga.

 Akhmatova tên thật Gorenko, sinh ngày 11.6.1889 tại Ôđesa, mất ngày 5.3.1966 ở ngoại ô Moskva. Sinh trưởng trong một gia đình trí thức, từ nhỏ bà được học tại trường Hoàng Thôn, nơi Puskin đã từng học. Năm 1908-1910 bà thi vào chuyên khoa luật, trường Cao học nữ Kiev, sau đó chuyển sang học khoa Văn - sử. Năm 1910 Akhmatova kết hôn với N.S. Gumilev, sỹ quan, nhà thám hiểm và là nhà thơ lớn. Song cuộc hôn nhân giữa hai nhà thơ không bền, tám năm sau họ chia tay nhau.

 Akhmatova có đời thơ dài hơn nửa thế kỷ. Bà là một trong những thi nhân đã làm rạng danh cho văn hoá Nga đầu thế kỉ XX được mệnh danh là “thế kỷ Bạc” và là người gìn giữ, phát triển những thành tựu rực rỡ của thơ Nga trong suốt những giai đoạn tiếp theo bằng đường thơ độc đáo của mình.

Con đường ấy, như nữ sĩ Olga Becgon miêu tả, “giống như mọi đường đời, không thẳng, không bằng phẳng đồng bằng, mà cheo leo, quanh co đường núi. Vẫn luôn là mình, có lúc dường như đi lại những cua đường đã qua, nhà thơ, trên thực tế, vẫn leo lên cao không ngừng nghỉ và nếm trải tất cả: lúc bão giông, lúc sa mạc, khi là vùng đất nở đầy hoa, chiếm lĩnh chúng bằng thơ, luôn hướng lên đỉnh núi mà độ cao của nó nhà thơ không thể nào biết được và không bao giờ xác định trước được...”. Đường thơ Akhmatova là như vậy, và mỗi giai đoạn sáng tác của bà là một khúc trên con đường gian khó, cheo leo ấy, là một bộ phận của cái cơ thể thơ sinh động đang trên đà vươn tới đỉnh cao.

Những bài thơ đầu tiên Akhmatova viết từ năm 1903-1904. Thời kỳ này bà sáng tác gần 100 bài thơ, song phần lớn đã không còn giữ được. Tên tuổi Akhmatova thực sự xuất hiện vào năm 1912, khi tập thơ đầu tiên Buổi chiều của bà ra đời với lời đề tựa của M.A. Kuzmin, nhà phê bình nổi tiếng đương thời.

Ngay trong những sáng tác đầu tay, Akhmatova đã tìm tới văn hoá và lịch sử dân tộc, sử dụng những môtip tín ngưỡng, ngôn ngữ dân gian. Qua tư tưởng và kết cấu trữ tình của những bài thơ thời kỳ này đã hình thành những đặc điểm thi pháp đăc trưng cho thơ Akhmatova mà bà phát triển trong các giai đoạn sáng tác tiếp theo của mình: trữ tình được cấy vào miếng đất sử thi, nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật dựa trên những đối thoại ngầm, độc thoại nội tâm, những chi tiết cụ thể, tính cốt truyện, nghệ thuật khắc hoạ tâm lý kiểu văn xuôi, những câu thơ dệt từ chất liệu đời thường được nâng lên tầm khái quát...

Tập thơ thứ hai Chuỗi tràng hạt (1914) đã tạo bước ngoặt trong sự nghiệp sáng tác của Akhmatova. Các tạp chí đua nhau in thơ của bà, các nhà phê bình nổi tiếng nói về bà như một tài năng lớn trên thi đàn, người kế tục xứng đáng truyền thống Puskin.

Tập thơ thứ ba Đàn chim trắng của Akhmatova ra đời ngay trước cách mạng Tháng Mười năm 1917 -  như sự tổng kết cả giai đoạn thơ trước đó.

Thứ Sáu, 16 tháng 4, 2021

VẤN ĐỀ TỐ CHẤT

 


                                               VẤN ĐỀ TỐ CHẤT

 

                                                                             Chu Nhân Thông

                                                                         Vũ Công Hoan dịch

 

          La Hưng Phú tuyệt đối không nghĩ đến, thế giới bên ngoài tàn khốc đến như vậy. Anh đến thành phố thủ phủ của tỉnh này vừa tròn một tuần, nhưng vẫn không tìm được việc làm. Niềm hưng phấn và sự hiếu kỳ lúc mới đến dần dần biến thành một cuộc khủng hoảng, bởi vì anh đã hết đạn hết lương.

         

                                                                      Nhà văn Vũ Công Hoan

          Trên thị trường dịch vụ lao động đông nghìn nghịt như biển người núi người, anh chen lấn thục mạng lên phía trước, mong sao chủ đến tìm người làm sẽ nhìn

trúng mình, khiến anh khỏi sa vào cảnh lang thang đầu đường xó chợ.

         

          Nhưng không có ai nhìn trúng anh. La Hưng Phú nghĩ, mình hoàn toàn có thể tìm đến tận nơi, cứ lần lượt đến dò hỏi các nhà hàng khách sạn có lẽ còn hay hơn chờ đợi ở đây.

        

           Thế là, La Hưng Phú đi ra khỏi thị trường dịch vụ lao động, men theo đường phố, anh đi thẳng lên phía trước, hỏi nhiều nhà hàng  khách sạn, nhưng họ đều nói ở đây không cần người khiến anh càng sốt ruột rối gan.

          

          La Hưng Phú lại đi lên phía trước, anh cảm thấy bụng râm rẩm đau, dần dần đau quặn lên. Anh nghĩ, có lẽ là tại đã 2 ngày nay mình toàn ăn cơm nguội canh thiu khá nhiều.

         

          Anh ôm bụng, ngó trước ngó sau, tìm nhà vệ sinh, nhưng giữa khu phố ồn

ào này,chỗ nào cũng nhà cửa san sát, chỉ không nhìn thấy nhà vệ sinh đâu cả. Anh sốt ruột tới mức đầu vã mồ hôi, được người đi đường chỉ giúp, khó khăn lắm anh mới nhìn thấy chỗ có tấm biển đánh dấu xanh, chỉ vào ngõ nhỏ phía sau, anh vừa chạy vừa nghĩ, vẫn là ở thôn quê hay hơn, đầu đường, bờ ruộng đâu đâu cũng có thể đại tiểu tiện thoải mái.

Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

Triết lý dân gian qua tục ngữ tiếng Đức về kẻ trộm cắp

Triết lý dân gian qua tục ngữ  tiếng Đức về kẻ trộm cắp  

Chuyển ngữ Nguyễn Văn Hoa ( Tháp Dương – Bắc Ninh )

1.b._nguyn_vn_hoa


1- Ai để kẻ trộm đi, người đó bị bắt thay.

Wer einen Dieb laufen läßt, den fängt man an seiner Statt.

2- Ai ăn trộm một lần luôn bị gọi là kẻ trộm.

Wer einmal stiehlt, heißt allzeit Dieb.

3- Kẻ trộm có sợi dây đi đến đâu, ở đó hươu bị bắt .

Wohin der Dieb mit dem Strang, Dahin gehört der Hirsch mit dem Fang.

4-. Nếu hai tên trộm chửi nhau, người lương thiện sẽ lấy lại được con bò của mình

Wenn sich zwei Diebe schelten, so kriegt ein ehrlicher Mann seine Kuh wieder.

 

5- Kẻ giữ thang cũng có tội như kẻ trộm.

 Wer die Leiter hält, ist so schuldig als der Dieb.

 6- Giấc ngủ là kẻ trộm vĩ đại nhất, nó cướp đi một nửa cuộc đời của bạn.

 

 Schlaf ist der größte Dieb, er raubt das halbe Leben.

7- Nếu một tên trộm cướp của một tên trộm khác, những người hàng xóm sẽ thích điều đó.

Schält' ein Dieb den andern Dieb, Das wäre den Nachbarn lieb.

 

 

Thứ Tư, 14 tháng 4, 2021

THẦY TƯỚNG THỨ

 

THẦY TƯỚNG THỨ 

TRÍCH "TỪ CÕI CHẾT TRỞ VỀ" CỦA TRỊNH BÁ SƯỚNG

 Quân y viện 112 , xã Lộc thủy, huyện Lệ thủy, Quảng bình , ngày 28 /12/1972

Duy vật, duy tâm, thực hư, hư thực cứ ám ảnh đeo đuổi mãi với tôi trong những ngày qua, tôi cố quên đi mà không sao quên được. Ấy là vào những ngày đầu tháng 8 năm 1972 tại thị xã Quảng Trị, đơn vị biên chế lại tôi nhận một trong mấy cậu lính từ Đại đội 2, bổ sung vào Tiểu đội hỏa lực của tôi, đó là cậu Thứ quê Thanh Hóa.
Dáng người trung bình đậm, da hơi ngăm ngăm đen, bình thường đi đứng chậm chạp đôi lúc như ngây ngây ngô ngô thế nào ấy, thế mà mỗi lúc có tiếng pháo, bom rít lên, hoặc có động gì là lao vào hầm nhanh ra phết, khi giáp địch chiến đấu hắn còn nhanh hơn cả thằng Tỉnh, thằng Hùng cùng Tiểu đội. Mỗi khi nó nói gì thì chẳng ai để ý đến và hay coi thường nó… Những hôm đầu, khi mới gặp nhau nó luôn bám sát tôi, đi đâu cũng như đôi bạn thân nó chê thằng Hùng Tiểu đội phó không thuộc các chỉ số, số đo ứng dụng, tầm, hướng của khẩu cối 61 ly, mỗi khi bắn cứ phải giở giấy ghi chỉ số ra để xem, không bằng nó. Thấy tôi nhẹ cân hơn nó lại nhanh nhẹn xông xáo mọi lúc mọi nơi, nên nó thường khuyên tôi: “Sướng ạ! Là Tiểu đội trưởng chứ có là gì đâu, mày đừng hăng hái gương mẫu làm gì cho vất vả nguy hiểm lắm, tao thương mày lắm…” rồi có đêm tôi vác hòm đạn chạy qua bãi cát trống ở Tích Tường bị ngã văng ra, chính nó đã đứng lại lôi tôi dậy và nói với tôi bằng những câu khiến tôi phải suy nghĩ mãi: “Sướng ạ! Mày đừng mang mười quả đạn chỉ mang sáu quả thôi vì chúng mình yếu, tao cũng chỉ mang có sáu quả, mày có chửi tao tao cũng không nghe” vì tôi là Tiểu đội trưởng trước khi đi về tuyến sau tải đạn, tôi đã được Đại đội trưởng quán triệt mỗi người phải mang mười quả về đơn vị để đủ cơ số tạm thời cho chiến đấu trong ngày sắp tới. Nhưng được mấy hôm nó luôn tìm cách xa lánh tôi, luôn miệng nói tôi phải cẩn thận, khi trực chiến trên chốt nó thường tìm đủ mọi lý do để xa tôi. Có hôm mới tám giờ sáng, anh nuôi chưa kịp mang cơm lên nó năn nỉ xin tôi về phía sau đại đội xem thế nào mà đến giờ vẫn chưa mang cơm lên để đói anh em và những lý do khác để thuyết phục một thằng Tiểu đội trưởng Tiểu đội độc lập như tôi cho nó về phía sau, tôi mủi lòng gật đầu thế rồi cả ngày hôm đó nó không lên chỗ hầm chiến đấu Tiểu đội tôi một tẹo nào, lại có hôm nó kêu hết nước trong bi đông của nó lại xin tôi về tuyến sau để lấy nước, khi cho nó về phía sau thì cũng lại cả ngày hôm đó mất hút không thấy bóng dáng nó đâu.

Thứ Ba, 13 tháng 4, 2021

NGƯỜI THÁI MÌNH

 


NGƯỜI THÁI MÌNH

(Tặng Cà Văn Chung)

           NGUYỄN KHÔI

 

Người Thái mình xưa nay không quen “chửi”

“Trộm cắp” thì hiếm lúc xảy ra

Lúa để trên nương, trâu nhốt ngoài púng (1)

Muốn “trộm xem em tắm” cũng nhìn thoáng từ xa...

 

Ai “kin lắc” (2) thì phải đi khỏi bản

Thành kẻ lang thang cô quả tới Mường trời

Uất ức lắm thì làm “liều” lá Ngón

Yêu chẳng thành : một phát súng (chết) cả đôi.

 

Người Thái mình quý Người hơn của cải

Đói cơm rách áo đến là được cho

Không để ai lẻ loi đơn chiếc (3)

Tắt thở rồi, còn ấp ủ tới rừng ma.

 

Người Thái mình rộng vòng tay Mường bản

Thái - Mèo- Kinh một xứ sở anh hùng

Chống giặc ngoại xâm : tranh nhau đi tuyến lửa

Về liên hoan chung một hũ rượu cần.

 

                                               Hà Nội 12/4/2021

                                                   Nguyễn Khôi

                vnp_hoi_hoa_xuan_ecopark_2019_1

BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Vũ Quần Phương
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
Quản trị & vận hành Website: Nhà văn Cầm Sơn

Thứ Hai, 12 tháng 4, 2021

THẦN ĐỒNG HAIKƯ THỔ NHĨ KỲ

 


                       THẦN ĐỒNG HAIKƯ THỔ NHĨ KỲ  

                       “Hai chị em ECE &EHREN CEHLERI”

                                          ***************

 

Tạp chí WHA Review số 15/2019, vừa đăng ảnh trên trang bìa 1 và thơ Haikư của 2 chị em (13t và 8 t) ở Ankara-Thổ nhĩ kỳ-2 Hội viên “Nhí” mới kết nạp của Hiệp Hội Hai kư Thế Giới năm nay.

Xin rất vui và trân trọng giới thiệu với quý độc giả Website haikuviet.com

 

ECE CEHRELI (2006-) 13t

Bài 1-

ilkiaz meltemi

 ucuyor tek boynuzlu at

buluttan buluta

(Tiếng Thổ nhĩ kỳ)

- a spring breeze

an unicorn flying

from cloud to cloud

- gió xuân

chú ngựa một sừng*

bay từ đám mây này sang đám khác

*Ngựa thần thoại một sừng

 

Bài 2-

a  beanstalk

climbing with Jack

to the fairy castle

một ngọn đậu thần

cùng leo với Jack

lên Lâu Đài Thần Tiên

 

Bài 3-

ice cream clouds

the mermaids and I

lost in the blue

những đám mây màu kem

bầy tiên cá cùng em

mất tiêu trong biển biếc

 

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

GIỚI THIỆU CUỐN SÁCH VỊ TƯỚNG VỚI MÙA XUÂN

 

GIỚI THIỆU CUỐN SÁCH VỊ TƯỚNG VỚI MÙA XUÂN Sửa

 CẢM NHẬN VỀ CUỐN SÁCH “VỊ TƯỚNG VỚI MÙA XUÂN”

                    Bút kí của Nguyễn Hường, nxb Hội Nhà Văn, 2021

                                                               Vũ Nho

nh_ra_mt_sch

Trái qua: Nguyễn Hường, tướng Nguyễn Huy Hiệu, Lê Hoài Nam. Trên bục là PGS.TS. Cao Hồng

       Trước khi nói về cuốn sách của nữ nhà báo Nguyễn Hường, tôi  có ấn tượng với tướng Hiệu khi thấy đã có nhiều nhà văn, nhà báo viết về ông.

          Đó là nhà văn Lê Hoài Nam với hai cuốn sách “Bến sông tuổi thơ” và “Những bước chân không mỏi của người anh hùng”. Đó là nhà văn Kiều Bích Hậu với cuốn bút kí “Vị tướng 9 năm ở nhà con Rồng”, nhà báo Lục Hường với cuốn “Vị tướng với an ninh môi trường”, Đại tá Lê Hải Triểu với cuốn hồi kí “Một thời Quảng Trị”,  nhà báo Phạm Xuân Trường với cuốn “Ngọn đèn trong bão lửa”, nhà văn Dương Thiên Lí với cuốn tiểu thuyết “Vị tướng thành Nam”; Nhiều tác giả với cuốn “ Vị tướng với mùa thu vàng”,…

        Vị tướng trận mạc Nguyễn Huy Hiệu với 67 trận đánh,  tham gia cả 4 chiến dịch lớn của Quân đội  trong kháng chiến chống Mĩ là một đối tượng được các nhà văn, nhà báo viết ở nhiều góc độ, nhiều thể loại văn học. Điều đó rất thú vị. Nhưng cũng sẽ là một khó khăn cho nhà báo Nguyễn Hường. Nhà báo sẽ viết gì về vị tướng nổi tiếng, đã từng được các nhà văn, nhà báo đồng nghiệp nói đến trong các tác phẩm của họ về những khía cạnh tuổi thơ, những ngày trong chiến tranh khói lửa, trong thời kì làm Thứ trưởng quốc phòng, trong  giải quyết vấn đề môi trường và vấn đề chủ quyền biển đảo?

Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2021

Có Chăng nhầm lẫn?

 


CÓ CHĂNG NHỮNG NHẦM LẪN TRONG DỊCH THUẬT?
Có lần PT đã bàn về chuyện không hề có cây THÙY DƯƠNG ở bên Nga, nên việc dich lời bài hát "Cây thùy dương" là không chuẩn. Đó thực ra là cây Thanh lương trà (рябина).
Có một loài chim bị dịch nhầm khá phổ biến trong văn học dịch Việt Nam, chính là CHIM HỌA MI.
Chúng ta biết có loài Chim oanh (Luscinia megarhynchos), nhất là loại Oanh cổ đỏ được ca ngợi là loài chim hót hay nhất. Chim Oanh có thân hình bé nhỏ, thuộc bộ Sẻ. Nó chính là con chim mà người Nga gọi là Соловeи́, và nhiều người dịch sang tiếng Việt là CHIM HỌA MI. Nhưng đó là cách dịch không đúng.
Thi hào Nga A.X Puskin có bài thơ “Соловей и роза” nổi tiếng, được dịch giả Thúy Toàn dịch là: “CON HỌA MI VÀ NHÀNH HỒNG”:
Giữa vườn xuân bóng đêm tĩnh mịch,
Con họa mi thánh thót bên nhành hồng
Nhưng đoá hồng kia chẳng chút động lòng
Mà lặng lẽ đung đưa rồi thiếp giấc,
Bản tình ca vẫn du dương réo rắt.
Vì sắc đẹp lạnh lùng ngươi hát làm chi?
Hỡi, thi nhân, hãy mau tỉnh dậy đi!
Uổng công thôi, ngươi nhìn thấy đấy
Nó mơm mởn sắc hương lộng lẫy
Nhưng chẳng chút gì xúc động cảm rung;
Nó làm ngơ chẳng đáp lại tiếng lòng.
Khi đọc bản dịch hay này, tôi từng thấy gợn một chút, là những hình minh họa bài thơ không phải là Họa mi, mà là 1 loại chim khác, nhỏ hơn. Tìm hiểu ra thì đó chính là chim Oanh (Luscinia).
Chính chim Oanh mới gần gũi con người hơn, mới về vườn, mới đến bên cánh hồng, cành cam, cành bưởi v.v. Chứ họa mi thì thường tít mít trong rừng núi. Cũng nhiều nhà thơ VN làm thơ ca ngợi tiếng hót chim Oanh (xem 1 hình ảnh đính kèm).

BÊN DÒNG SÔNG MÊ – CUỐN SÁCH ẤN TƯỢNG VỀ CUỘC CHIẾN Ở BIÊN GIỚI TÂY NAM

 


BÊN DÒNG SÔNG MÊ – CUỐN SÁCH ẤN TƯỢNG VỀ CUỘC CHIẾN Ở BIÊN GIỚI TÂY NAM

                 Về cuốn Bên dòng sông Mê của Bùi Thanh Minh, nxb Hội nhà văn 2020

                                                    Vũ Nho

bui-thanh-minh-vhsaigon-1

NHÀ VĂN BÙI THANH MINH

          Bùi Thanh Minh là nhà văn quân đội có thâm niên 3 năm cầm súng chiến đấu tại chiến trường miền Nam và  10 năm chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam. Trưởng thành từ người lính đến cương vị cán bộTrung đoàn.  Ông cầm bút viết văn  với mục đích “ để giải tỏa tâm huyết của lòng mình và để trả nghĩa cho đồng đội” ( Suy nghĩ về nghề văn). Tiểu thuyết “ Bên dòng sông Mê” hoàn thành năm 2008, theo đơn đặt hàng của Bộ Quốc phòng trong Chương trình “Sáng tác tiểu thuyết sử thi”. Năm 2012  xuất bản và đoạt ngay Giải thưởng Mê Kông lần thứ IV. Trước khi viết tiểu thuyết này, nhà văn đã có sáu tập truyện ngắn và ba tiểu thuyết, trong đó có hai  tiểu thuyết liên tiếp được tặng Giải thưởng Văn học Bộ quốc phòng là Bên sông Trà Lý (1999-2004) và Cõi đời hư thực (2004 -2009).

            Bên dòng sông Mê là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu của ông viết về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam những năm bảy mươi của thế kỷ XX.

Bên dòng sông Mê được xây dựng dựa trên một sự kiện lịch sử có thật là trận đánh của một trung đoàn chủ lực Mặt trận 979, khu vực Cô Công - Campuchia. Đó chỉ là một phần trong trận chiến của bộ đội tình nguyện Việt Nam tại chiến trường  này trong giai đoạn truy quét tàn quân của Pôn Pôt khi chúng đã bị quân đội tình nguyện Việt Nam đánh bật khỏi thủ đô Phnom pênh. Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết trải dài từ  Việt Nam sang Campuchia. Bức tranh  chiến trận  được tái tạo, rất dữ dội,  nhưng  cũng  rất lãng mạn với  bối cảnh tự nhiên, đặc biệt là  những mối tình  của các nhân vật.

            Một điều đặc biệt là trong số các nhân vật được tiểu thuyết hóa dựa trên nguyên mẫu những đồng đội và thuộc cấp của tác giả, còn có một số nhân vật được giữ nguyên tên tuổi trong thực tế như tướng Lê Đức Anh của Việt Nam, Một số nhân vật trong chính quyền Khơ me Đỏ như Pôn Pốt, Yêng sa ry,  Khiêu Thi Rít,…

            Tiểu thuyết gồm 21 chương và một Vĩ thanh.

Thứ Sáu, 9 tháng 4, 2021

Tinh hoa trong Bi kịchthơ Faust của Gớt –Johann Wolfang von Goethe 1749-1832

Tinh hoa trong Bi kịchthơ Faust của Gớt –Johann Wolfang von Goethe 1749-1832

Chuyển ngữ tiến sỹ Nguyễn   Văn Hoa ( Tháp Dương – Bắc Ninh )

 1.b._nguyn_vn_hoa

Tiểu dẫn, quá trình tôi dịch 12.110 câu trong Bi kịch Faust của Gớt – Johann Wolfgang von Goethe ( Đức ) , theo các nhà nghiên cứu Faust  thì thấy nhiều câu hay đã được lưu truyền qua 3 thế kỷ 19,20&21.

Vídụ

 

1-Tất cả lý thuyết ,bạn ơi là màu xám , nhưng cây củacuộc sống thì mãi mãi xanh tươi

 All theory, dear friend, is gray, but the  tree of life  ever green,”

 

2-Ta chỉ hạnh phúc khi ta là người cho đi.


Nur der ist froh, der geben mag.

3- Ta sẽ sợ hãi bởi những giấc mơ hoang đường.

Thượng đế sống trong lòng ta

Có thể khơi dậy sâu sắc bản thể bên trong của ta

Thượng đế được lên ngôi trên tất cả các sức mạnh của ta,

Và thượng đế không thể di chuyển bất cứ điều gì ra khỏi ta.