Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2025

THIỀN DÂN GIAN BÀN VỀ TỪ BI, BÁC ÁI

 


Suốt đời chỉ yêu một người

Bệnh ấy còn nặng gấp mười ung thư
THIỀN DÂN GIAN
BÀN VỀ TỪ BI, BÁC ÁI
Thế giới thường tôn vinh danh từ "Bác ái". Các nhà tôn giáo xướng lên thuyết "Bác ái", các nhà triết lý về nhân quyền phụ họa theo. Danh từ “Bác ái” tưởng như trở thành chân lý tuyệt đối. Còn đạo Phật thì đề ra chân lý "Từ bi".
Đa số người ta cũng thường cho rằng, từ bi và bác ái cũng tương tự như nhau. Thật ra từ bi và bác ái khác hẳn nhau về bản chất:
Bác ái là gì? "Ái" là yêu, hay na ná như tình ái.
Đã có yêu thì sẽ có người yêu và kẻ được yêu:
“Người yêu ta để trên cơi
Nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ
Đêm qua ba bốn lần mơ
Chiêm bao thì thấy, dậy sờ lại không”
Có kẻ yêu và có người được yêu tất có ta và người. Có ta và người tức là có tâm phân biệt. Yêu ta hơn yêu người là tục kiến, yêu người hơn yêu ta là thiên kiến.
Truyện kể có người trung thành khi phò tá vua chạy vào rừng đã tự cắt thịt đùi của mình nướng lên để cho vua ăn, khỏi đói.
Có người cho đấy là tấm gương trung quân ái quốc. Có người lại cho rằng đấy là ngu trung vì thân mình mà còn không yêu thì chẳng thể yêu ai được.
Nếu đã yêu thì tất phải có điều kiện để yêu. Ví dụ người mình yêu phải có dung mạo đẹp, học vấn cao…
“Một yêu tóc bó đuôi gà
Hai yêu ăn nói mặn mà có duyên
Ba yêu má lúm đồng tiền
Bốn yêu răng lánh hạt huyền kém xa”
Nhưng vạn pháp là vô thường, dung mạo thay đổi theo thời gian thì tất sẽ sinh ra chán ghét:
“Đừng thấy em bé mà chòng
Lớn lên anh sẽ phải lòng em ngay
Đừng thề mãi mãi đắm say
Mai kia em sẽ thành ngay bà già”.
Mà tư duy học vấn cũng không phải là cố định, hứa hẹn cũng chỉ là đầu môi chót lưỡi.
“Không lấy được em anh làm hòa thượng
Không lấy được anh em cắt tóc đi tu
Thề yêu nhau dù đá mòn biển cạn
Nhưng mấy ai thấy biển cạn đá mòn”.
Ông trăng trên trời đã chứng kiến bao lời thề ước, rồi thành phai mờ bội bạc:
“Trăng thề còn đó trơ trơ
Dám xa xôi mặt mà thơ thớt lòng”.
Vì yêu là có tâm phân biệt giữa ta và người, nên tình yêu sẽ có hiệu quả ngược yêu nhau lắm cắn nhau đau:
“Yêu nhau yêu cả đường đi
Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng”.
Hơn nữa cái gì ta yêu thì người khác cũng yêu, ta yêu nên lấy vật đó làm sở hữu của ta, và người khác phải mất cái vật để yêu của họ. Vì ta được và người mất, người được thì ta mất nên sinh ra ghen ghét:
“Cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ,
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi”.
“Tôi muốn làn hơi cô thở nhẹ
Đừng làm ẩm áo khách chưa quen
Chân cô in vết trên đường bụi
Chẳng bước chân nào được dẫm lên”
“Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu quá mất rồi
Và nghĩa là cô và tất cả
Cô là tất cả của riêng tôi”.
“Vợ là cơm nguội nhà ta
Lại là phở tái thằng cha láng giềng”.
"Ái" xuất phát từ dục, mà dục còn nằm trong bản ngã nên "ái" là khổ đau và gốc của luân hồi sinh tử.
Mặc dù các nhà tôn giáo, nhà triết lý có mở rộng chữ ái thành bác ái, từ chỗ yêu mình đến yêu mọi người. Nhưng dù có mở rộng Bác ái đến đâu chăng nữa mà tình yêu còn bản ngã tham, sân, si cũng đều ô trượp.Tâm không thể thanh tịnh. Đó là lý do phật giáo không đề xướng thuyết bác ái.
Phật dạy các tăng hành cước không nên trú ngụ bất cứ ở đâu kể cả ngồi lâu quá ba ngày dưới gốc cây sẽ sinh luyến ái, cội nguồn của khổ đau:
“Không ngồi lâu quá một nơi
Sinh lòng luyến ái khi rời nhớ thương
Khi đã hiểu lẽ vô thường
Nhìn đâu cũng chỉ thấy đường mà thôi”.
Câu nói: “cần phải yêu cả kẻ địch của mình” hoặc "khi bị kẻ thù tát ta má trái, ta yêu cầu họ tát cả bên má phải cho cân”.
Thật ra ta không thể yêu được kẻ thù, đây chỉ là cái tâm hư ngụy. Chỉ có thể thấy tình yêu là vô thường hoặc yêu và ghét là hai mặt của một bản thể, có thể chuyển hướng sang nhau theo lẽ vô thường. Chứ ta không thể yêu kẻ thù của ta được.
Truyện kể một cậu lái xe đâm chết một nạn nhân cậu lái xe hối hận muốn trở thành con nuôi của gia đình để hàng ngày và giỗ tết được thắp nén nhang cho người đã mất. Gia đình nạn nhân không nhận với lý do là càng nhìn thấy cậu lái xe chỉ gợi lại cho họ đau khổ hơn.
Thù oán chỉ có thể quên đi chứ không thể bỏ đi, như khi ta sửa sai phát giải thưởng văn học cho các nhà văn "Nhân văn giai phẩm" thì có gia đình nhà văn không nhận sợ bị gợi lại những đau thương đã qua.
Tôi nhắc lại “thù oán chỉ có thể quên chứ không thể bỏ đi”. Tất nhiên những kẻ cố chấp, lòng đầy hận thù về quá khứ là không nắm được lẽ vô thường. Tất cả những sai lầm là giả mà chỉ có nhân duyên là có thật. Ta không thể hận thù cái giả mà cũng không thể không chấp nhận luật nhân duyên.
Vì vậy theo đạo trung dung thì nhà nước bù đắp lại cho sự oan ức mấy chục năm, thể hiện tính ưu việt của xã hội ta thời toàn cầu hóa. Giải thưởng là đối tượng. Mọi đối tượng đều tốt, đều là hiện hữu ta chỉ bàn về sự ham muốn đối tượng. Có nhà văn nhận giải thưởng, có nhà văn không nhận giải thưởng. Nhận hay không nhận đều tốt miễn là ta vô ngã, không tham, sân si.
Nhận ơn phải nhớ trả ơn
Phú quý nhớ thủa mình còn hàn vi
Hận thù có thể quên đi
Nhưng ta không thể bỏ đi hận thù
Tôi nhắc lại lần ba “thù oán nên quên đi chứ không bỏ đi”.
Theo Phật trước hết phải có quan niệm bình đẳng mà không có tư tưởng đối địch, và cũng không cần yêu thương đến họ mà chỉ nên khởi tâm đại bi đồng thể, bằng cách tìm mọi phương pháp làm cho họ tiêu tan cái tâm ác hại chuyển thành cái tâm vui mừng, đó mới đúng là phật pháp vô biên, gỡ được sự lúng túng của những người còn trong ái dục:
“Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn lèo”.
Nghĩa chính của hai chữ "từ bi", theo Phật giáo giải thích: "từ" là cho vui, "bi" là cứu khổ. Từ bi không phải lấy cái “ngã” làm trung tâm xuất phát mà là kiến lập trên thể tướng bình đẳng với tất cả chúng sinh.
Nên chữ "từ" trong phật giáo cũng gọi là "bình đẳng từ", "bi" gọi là " bình đẳng bi". Chúng ta khi luyện tập “từ bi quán”, trước hết phải quán nghĩ chúng sinh là bình đẳng nhất thể, xóa đi ranh giới giữa ta và mình thành vô ngã:
“Mắt em biên giới ta mình
Mắt anh biên giới giữa mình với ta
Yêu là nhắm mắt nhìn ra
Đắm say trong cõi không ta không mình”.
Nếu thấy chúng sinh cần sự giúp đỡ gì ta sẽ giúp đỡ cái ấy tùy khả năng. Trong khi giúp đỡ người, không nên tưởng nghĩ rằng ta là người cho, và cũng không nên tưởng nghĩ đến tài vật mình cho nhiều hay cho ít, có như thế mới không sinh tâm ngã mạn, chờ trả ơn như nhà thơ Xuân Diệu:
“Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà lại được yêu
Cho rất nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu”.
Cho và nhận không có bản ngã sẽ đồng nhất thể. Cho tức nhận, nhận tức cho, giúp người là giúp mình:
“Nắm tay mãi phải buông ra
Cố giữ thì mất chỉ cho là còn”.
Xóa đi cảnh giới ta và người, nên phát tâm đại bi, giúp người là giúp mình nên đồng thể đại bi:
“Người ta tìm chỗ có tên
Tôi đi tìm chỗ lặng yên vô hình
Người ta say rượu, say tình
Tôi say một cõi không mình không ta”
Từ bi không có nghĩa chỉ để ứng xử với thập loại chúng sinh, mà còn cả đối với loài vật. Vật và người cũng là đồng nhất thể. Trang Tử và Lão Tử xướng lên thuyết “tề đồng vật ngã”, coi người và vật cùng là một bản thể. Hiểu rõ hai chữ từ bi tự nhiên không còn giết súc vật để dinh dưỡng cơ thể ta.
Một số khách nước ngoài sang ta, họ rất ngạc nhiên khi thấy ta giết chó để làm thịt, họ hỏi ta một câu đầy lòng từ bi:
- Sao ở đây lại đi giết bạn để làm thịt vậy?
Nhiều nước phát triển trên thế giới, họ có pháp luật bảo vệ động vật như người. Nước ta cũng đang hòa nhập với toàn cầu, ta cũng bắt đầu có bệnh viện chó, nghĩa trang chó, khách sạn chó, thức ăn chó, bác sĩ chó…
Từ bi của Phật còn coi người và các vật vô tri cũng đồng nhất thể, hòn đá biến thành con khỉ, con khỉ biến thành Đại Thánh, Đại Thánh biến thành Tôn Ngộ Không, Tôn Ngộ Không thành Phật. Vậy Phật cũng từ hòn đá sinh ra.
Nếu Bồ Tát và chúng sinh không đồng nhất thể cùng chiếm lấy một khoảng không gian nhất định, thì bồ tát không thể tùy duyên ứng hiện và đi lại cõi nhân gian để cứu ứng những phiền muộn khổ não cho chúng sinh được.
Vì coi người và vật đều là một nên con người hòa vào thiên nhiên thành đồng nhất thể :
“Hòa mình vào với thiên nhiên
Hồn tan theo gió lướt trên thiên đường
Tận cùng của mọi yêu đương
Mà sao vẫn vắng thân thương trong lòng”.
Từ bi của con người coi vạn pháp là đồng nhất thể. Lòng từ bi không giới hạn ở một con người, vạn pháp đều bình đẳng thể. Người có lòng từ bi sẽ không ngạo mạn chỉ cho thứ mình thích trên đời là cao quý, cái gì của họ là nhất, sinh ra mục hạ vô nhân:
“Chỉ thích một thứ trên đời
Sớm muộn rồi cũng thành người thần kinh”.
Vạn pháp đều bình đẳng mà tùy duyên biến hóa:
“Gà mổ mối
Mối dục chân vua
Vua ăn thịt gà”
Trên đời không có gì là nhất cả, cái gì đúng chỗ là đẹp. Ngôi nhà đẹp nhất là ngôi nhà đặt ở đâu cũng xấu.
“Người nào cũng tốt nhất đời
Khi tìm được đến đúng nơi để ngồi
Ai ai cũng đẹp tuyệt vời
Khi tìm được đúng chỗ ngồi ngắm nhau”.
Giá trị mọi người đều bình đẳng, vì vậy nếu suốt đời chỉ yêu một người, chỉ cho tôn giáo mình, dân tộc mình …hơn dân tộc khác là kẻ ngạo mạn điên khùng.
Chuyện kể có anh chàng si mê chỉ yêu một cô gái, thề yêu suốt đời. khi cô gái không yêu anh ta thì suốt mười năm anh ta đến cửa nhà cô gái ngồi ì ra. Bất cứ ai đến tìm hiểu cô gái, anh ta đều lẽo đẽo theo sau và bảo: cô gái ấy là người yêu duy nhất của mình, dù có xuống âm phủ anh ta cũng theo người yêu duy nhất của mình.
Kết thúc chuyện, cô gái đành yêu một anh chàng đầu gấu, đã từng vào tù ra tội nhiều lần. Anh chàng cuồng si này đã uống thuốc chuột tự tử.
Ngã mạn đến tuyệt đối là đạo nho. Để giữ mãi mãi vợ mình chỉ yêu một chồng: “Trai trung không thờ hai chúa, gái trinh không lấy hai chồng”.
Khi chồng chết vợ phải thủ tiết thờ chồng cho đến hết kiếp. Phu tử tòng tử, tử tử tòng tôn, tôn tử tòng tồn. Tam tòng tứ đức kiểu Nho gia chỉ để nhằm bắt người phụ nữ cả đời chỉ có quyền yêu một người là chồng mình. Dã man nhất là khi vua chúa chết đem chôn theo cả vợ và thê thiếp, cũng chỉ để bắt người phụ nữ suốt đời chỉ có quyền yêu một người.
Mỗi loài hoa đều có vẻ đẹp riêng, sao ta cứ cố chấp cho rằng trên đời chỉ có một loài hoa là đẹp. Cũng như ta không thể cho trên đời chỉ có một người ta yêu là duy nhất hợp với ta. Chỉ cho một người ta yêu là đẹp, là không hiểu lẽ vô thường và luật nhân quả, sẽ dẫn đến cái chết thê thảm như Đại Ngọc trong “Hồng Lâu Mộng" và Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài.
Cần phải biết sống tuỳ duyên như Thuý Kiều, yêu say đắm cả Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải, mỗi mối tình là một vẻ đẹp riêng.
Sống tuỳ duyên coi "Chữ trinh kia cũng có ba bẩy đường, có khi biến có khi thường".Ngay trong mối tình tái hồi với Kim Trọng, Thuý Kiều cũng tuỳ duyên "Đem duyên cầm sắt đổi ra cầm cờ". Sống theo duyên cái gì có hợp, ắt có tan, biết hợp tan theo mệnh trời là đắc đạo.
Vả chăng nếu ta thử nghĩ có một cô gái suốt đời chỉ yêu một mình chồng trong cả thân, khẩu, ý và cả giấc mộng nữa thì cô gái này chắc cũng đòi hỏi chồng một cách ghê gớm. Bản ngã quá mạnh này chắc cô ta sẽ có hành động quá đáng với chồng vì thiếu lòng từ bi:
“Suốt đời chỉ yêu một người
Loại ấy tuyệt chủng trên đời từ lâu »
Vậy từ bi là yêu không đối tượng, yêu người là yêu mình, người và mình là đồng nhất thể:
“Khi mê người chỉ là người
Ngộ rồi mới biết trong người có ta
Khi mê ta chỉ là ta
Ngộ rồi mới biết trong ta có người”.
Lòng từ bi sẽ không có kẻ nhận người cho, có lẽ vì thế mà nhà thơ Nguyễn Bính khẳng định: “Thuyền tôi không chở những người chính chuyên”.
Khổng Tử hỏi học trò: thế nào là nhân?
Tử Lộ thưa:
- Người nhân là người làm thế nào để người ta yêu mình
Tử Cống thưa:
- Người nhân là người yêu người.
Thầy Nhan Hồi thưa:
- Người nhân là tự yêu mình.
Đức Khổng Tử nói:
- Nhà ngươi nói như vậy đáng là bậc sỹ quân tử:
“Nhân là người yêu mình”, chợt nghe ta hiểu nhầm là kẻ ích kỷ. Nghĩ kỹ ta thấy đúng là Nhan Hồi đắc đạo .
Vì khi đã hiểu được bình đẳng quán, xóa bỏ ranh giới giữa ta và người, tất cả thành đồng nhất thể thì tình yêu ấy là từ bi. Còn khi tâm phân biệt giữa ta và người, còn kẻ cho và người nhận thì tình yêu ấy mở rộng đến hết cảnh giới cũng chỉ được gọi là “bác ái”.
HUYỀN NHÂN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét