TRUYỆN NGẮN THÁI BÁ TÂN


HẢO NHẠN
Truyện ngắn
Lúc ấy chiến tranh mới bắt đầu. Trong một đơn vị pháo cao xạ đóng ở làng N. tỉnh Quảng Bình có anh sinh viên người Hà Nội mới học hết năm thứ ba khoa văn tổng hợp thì nhập ngũ. Anh được phân công làm anh nuôi và ngày nào cũng xuống chợ Cồn trong rừng phi lao sát biển mua thực phẩm.
Đường tới chợ phải qua một cánh đồng rộng và một nghĩa trang nhỏ đủ các mộ mới cũ xen nhau. Mấy lần anh để ý thấy có bà lão xách nước từ xa đến tưới cho cây chuối trồng ngay trên một ngôi mộ còn mới. Điều này làm anh thắc mắc, vì thường thì nghĩa trang không là nơi thích hợp để trồng loại cây này, lại trồng ngay trên mộ.
Mới đến đây được bốn tháng nhưng anh cựu sinh viên thủ đô đã kịp quen và yêu một o dân quân địa phương có cái tên hơi lạ và kiểu cách là Hảo Nhạn. Tất nhiên yêu bí mật vì kỷ luật quân dân thời ấy nghiêm lắm. Anh đem chuyện này hỏi o Nhạn thì được biết ở đây có lệ khi người đàn bà chửa chết, người ta trồng lên mộ một cây chuối rồi nóng lòng chờ nó nở hoa để yên tâm “dưới ấy” mẹ tròn con vuông. Con dâu bà cụ kia mới chết khi đang có bầu năm tháng. Chồng cô cũng bộ đội và đang ở tận bên Lào.
Một lần, ngẫu nhiên anh và Nhạn gặp nhau cạnh nghĩa trang đúng lúc máy bay đến bắn phá. Hai người vội chui xuống một trong nhiều hầm trú ẩn được đào dọc đường xuống chợ. Không hiểu vô tình hay cố ý, chúng phóng một quả tên lửa đúng nghĩa trang, tạo thành một hố khá lớn, làm tung tóe gỗ quan tài, mảnh tiểu sành và cả xương người. Còn cây chuối kia thì bị mảnh đạn chém đứt ngang. Đúng lúc ấy, giữa tiếng máy bay còn gầm rú, họ thấy bà cụ kia từ đâu hớt hải chạy tới. Hồi lâu bà ôm nửa thân chuối non còn lại, vuốt ve nó như ru trẻ, rồi bất chợt bà đứng thẳng người, chỉ tay vào chiếc máy bay đang lượn trên đầu, tru tréo điều gì đó một cách giận dữ. Thì ra bà đang chửi thằng Mỹ giết cháu bà. Chửi tục lắm. Bà cứ quay người theo hướng hắn bay mà chửi. Xong một câu, bà vén váy, vén cao lên tận bụng trắng hếu rồi vỗ vào “cái ấy” của mình. Các bà già nông thôn ít ai mặc đồ lót.
Anh thư sinh thủ đô và cả o Nhạn xấu hổ không dám nhìn, nghĩ vừa thương vừa buồn cười.
Bỗng nhiên Nhạn quay sang hỏi anh:
- Nhỡ em chết, anh có trồng cho em một cây chuối trên mộ không?
- Đừng nói gở. Chết làm sao được. Vả lại nếu chết, chắc gì em đang có bầu.
Nhạn im lặng một chốc rồi nói:
- Hình như em có rồi đấy.
Anh nhíu mày và dù cố giấu, vẫn lộ vẻ bối rối.
- Bậy.
- Thật mà. - Nhạn nhìn anh nghiêm túc. - Anh sẽ trồng chứ? Anh không muốn con chúng ta ra đời à, cả khi không may em phải chết?
- Em chỉ khéo đùa. - Anh ôm hôn cô, một phần để cô không nhìn thấy mặt mình lúc ấy. - Đùa gì nghe mà khiếp.
- Ừ thì em chỉ nói thế thôi. Anh sợ à?
- Không. Tất nhiên là không. Tất nhiên anh sẽ trồng một cây chuối thật khỏe, để nó trổ không phải một mà hai hoa một lúc. Bố mẹ anh thích có nhiều cháu. - Anh cười.
- Tham thế! - Nhạn cũng cười theo.
Hai người lại hôn nhau. Khi hết máy bay, họ chui lên khỏi hầm và mỗi người đi một hướng.
Không ngờ một tháng sau Nhạn chết thật, do ngẫu nhiên trúng đạn pháo từ tàu Mỹ ngoài biển câu vào. Thêm một tháng nữa thì đơn vị anh chuyển vào Nam.
*
Anh bộ đội - sinh viên ngày ấy từ lâu đã là một nhà văn nổi tiếng. Vốn đồng nghiệp, lại chơi thân với nhau, ông kể tôi nghe chuyện này, khi bị bệnh nặng nằm viện hơn nửa năm chưa khỏi và biết có lẽ không còn được sống lâu nữa. Ông đã không trồng cho o Nhạn người yêu của ông một cây chuối trên mộ cô như đã hứa. Ông đã không tạo cơ hội cho đứa con của ông, có thể hai, được lọt lòng mẹ, trên hay dưới đất không quan trọng. Đơn giản vì lúc ấy ông hèn nhát không dám để mọi người biết sự thật. Ông định thú nhận mấy lần mà không dám. Nhưng ông đau lắm. Đau mà không dám nói to, không dám chửi, vén váy lên mà chửi như bà cụ nọ. Suốt chừng ấy năm ông chỉ còn biết chua xót tự trách mình. Có lần ông bảo tôi ông sợ nhất khi chết mà lòng không thanh thản.
Kia, ông đang nằm kia, bất động, nhăn nhúm trên chiếc giường bệnh viện. Mỗi tuần hai lần đều đặn vào chiều thứ tư và chủ nhật tôi đến thăm ông và thường ngồi ở đấy suốt buổi, lúc ông tỉnh và nói được thì nói chuyện với ông, còn không thì tôi ngồi đọc sách. Có lẽ cuộc sống của ông đang được đếm từng ngày. Mặt ông xám ngoét, các nếp nhăn hằn sâu, đôi mày nhíu lại vì đau và căng thẳng. Suốt hai giờ liền tôi không thấy ông trở mình, không nói lời nào, nhưng nhìn thái dương thỉnh thoảng giật giật, tôi biết ông còn sống.
Bỗng trong phòng xuất hiện một người đàn bà mặc đồ đen, trùm khăn đen, khoảng bốn mươi tuổi. Tôi thầm ngạc nhiên không hiểu bà ta vào từ lúc nào. Một người lạ tôi chưa hề gặp. Cả bề ngoài cũng lạ, không ra thành thị cũng chẳng nông thôn. Không gầy, thậm chí hơi đẫy đà, nhưng không hiểu sao tôi cứ có cảm giác như rất nhẹ, như không phải người thật và có thể nhìn xuyên qua được.
Bà kia không nhìn tôi, dù lúc ấy chỉ mình tôi trong phòng. Bà đi thẳng đến giường bệnh, quỳ xuống nâng bàn tay nhăn nheo của ông rồi âu yếm áp lên má mình. Ông tỉnh dậy ngay, nét mặt rạng rỡ như chờ ai từ lâu và bây giờ người ông chờ đã đến. Ông đưa mắt nhìn tôi. Tôi đoán ông muốn hai người được nói chuyện riêng nên lặng lẽ bước ra ngoài.
Khoảng mươi phút sau, người kia ra khỏi phòng, cũng lặng lẽ và nhẹ nhàng như khi đến, rồi đột nhiên biến mất, dù chưa đi hết hành lang bệnh viện.
Ông vẫy tay, ra hiệu tôi lại gần.
- Con tôi đấy! Con o Nhạn đấy! Mẹ nó bảo về nói họ đã tha lỗi cho tôi. - Giọng ông thều thào nhưng nghe rất rõ. - Tôi biết mà. Tôi biết thế nào cũng được tha thứ. Hảo Nhạn, cảm ơn em. Cảm ơn con...
Rồi ông nhắm mắt. Bên khóe môi đọng lại cái gì như một nụ cười rất mỏng và yếu ớt. Như có phép lạ, khuôn mặt ông bỗng dãn ra, thư thái và ửng hồng. Tôi đứng ngây, ngạc nhiên nhìn.
Cũng có thể do quá xúc động, tôi không nhận thấy lúc ấy xế chiều và những tia nắng cuối ngày đã dọi vào phòng.
Hà Nội, 2002.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét