THƠ NGUYỄN TIẾN BÌNH

TIẾNG CHIM
Ngọn tre rung rinh
Trước ánh bình minh
Lung linh tre ngà
Hát ca” cu…cúc…”
Rồn rập tiếng đục
Rồn rập tiếng trong
Làm rộn rã lòng
Rung sóng mặt sông
Lúa đồng gợn sống
Tiếng hòa gió lộng
Vang vọng làng quê!


Anh nhà thơ Trần Nhương

TÁC GIẢ NGUYỄN TƯỜNG TỘ
CHIỀU NAY LẬP THU!
VŨ NHO BÌNH BÀI "SANG THU" CỦA HỮU THỈNH ĐỂ CHÀO SỰ KIỆN NÀY!

SANG THU
HỮU THỈNH
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
LỜI BÌNH VŨ NHO
Có lẽ do những lý do đặc biệt về thời tiết gắn liền với thiên nhiên, hoa trái, và tất nhiên có liên quan trực tiếp với tâm lý, tình cảm của con người mà mùa Thu cùng với mùa Xuân đã thành "mùa cổ điển" trong thơ Việt Nam và Trung Quốc. Chỉ riêng về nét Thu trong thơ cũng có bao nhiêu điều đáng nói.
Mùa Thu đã đi qua còn gửi lại
Một ít vàng trong cây
Một ít buồn trong gió trong mây
(Tế Hanh)
CON VÀ CÁI
ĐĂNG LẠI 4 BAI ĐÃ IN BÁO GIÁO DỤC THỜI ĐẠI THÁNG 7/2025
Tản mạn chuyện… thẩm thơ
Bài 1:NHỮNG NỂ PHỤC VÀ TRANH LUẬN
RẤT NỂ NHÀ THƠ XUÂN DIỆU
Không rõ tôi đọc
bài Xuân Diệu tổng kết cuộc thi thơ năm nào. Nhưng tôi ấn tượng mãi về sự tinh
tế của ông Hoàng thơ tình. Hai ví dụ nhà
thơ Xuân Diệu góp ý tôi nhớ mãi.
Một nhà thơ viết về hương hồi hay
hương thảo quả với cô thiếu nữ miền núi:
-
Hương
ngát thơm nồng nếp váy xanh
Nhà thơ Xuân Diệu phê rằng chữ “nồng” rất thô! Váy áo
phụ nữ mà “nồng mùi” thì chẳng có gì hay
cả! Ông đề nghị chữa:
-
Hương
ngát thơm vào nếp váy xanh
Cũng là thơm thôi, nhưng “nồng” thì dở, còn “vào” thì ổn!


Về thăm Lèn Hà – A69
Nguyễn Văn Trình – BD: KA THI
Về thăm Lèn Hà hôm nay
lòng nghe vang vọng tháng ngày chiến công
A69 cạnh rừng thông
thông tin liên lạc, suốt thông địa bàn
Đường dây vượt núi băng ngàn
đêm ngày nối nhịp muôn vàn yêu thương
từ đây mệnh lệnh chiến trường
kịp thời tiếp sức tiền phương cho vừa
Mồng hai, tháng bảy năm xưa
bom thù cày xới nắng trưa Lèn Hà
mười ba liệt sỹ hồn xa
mười cô - ba chú, đau là hy sinh
Có người trạm trưởng Văn Trình (*)
nêu gương dũng cảm, chí tình trước sau
với đồng đội, họ cùng nhau
hiến dâng tuổi trẻ, đẹp giàu quê ta
Về đây dâng lễ hương hoa
nghiêng mình tưởng niệm Lèn Hà anh linh
địa chỉ đỏ sáng niềm tin
ngàn sau Tổ quốc khắc in tên người...
Lèn Hà, ngày 23/7/ 2026
NVT
(*) Đ/C: Đàm Văn Trình, sinh năm 1944, Quê: Đồng Thanh, Kim Động, Hưng Yên. Trạm trưởng
trạm thông tin liên lạc Lèn Hà - A69 đã hy sinh cùng đồng đội vào ngày 2/7/1972 sau trận ném
bom của giặc Mỹ.




Chuyện bây giờ mới kể - Một bài thơ nhắc nhở muôn đời
Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Cuộc kháng chiến Chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta dành thắng lợi vẻ vang và đã lùi xa nửa thế kỷ. Nhưng Tổ Quốc và nhân dân vẫn mãi mãi biết ơn gần1 triệu liệt sĩ đã hy sinh dành độc lập tự do cho non sông đất Việt hôm nay. Vì thế, trong những ngày này, trời như nắng thiêu lửa đốt trên khắp mọi miền, Đảng và Nhà nước vẫn chỉ đạo cấp tập “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ". Đây là chiến dịch tri ân lớn chưa từng có, là mệnh lệnh trái tim trong hành trình đi tìm đồng đội, đưa các liệt sĩ trở về với gia đình. Đã có hàng trăm ngàn liệt sĩ được tìm thấy. Dù biết tên hoặc chưa biết tên thì nắm xương của họ cũng được đón rước trân trọng với nghi lễ uy nghiêm tôn kính. Nhưng còn biết bao người ngã xuống kiên cường và bất khuất, đẹp như những tượng đài kỳ vĩ trong hoàn cảnh đặc biệt bi thương nhưng không thể nào và không bao giờ tìm được xương cốt họ. Ấy là trường hợp các cô gái bộ đội và TNXP trong bài thơ “Chuyện bây giờ mới kể” của nhà thơ Nguyễn Khoái:
Đến bờ sông[i][1] cởi quần áo đội đầu
Để khô ráo khi vào vùng tranh chấp
Gạo cạn kiệt, lính đói quay, đói quắt
Sau Mậu Thân, kho bãi trống trơn rồi