Thứ Bảy, 19 tháng 8, 2017

Thơ Đường chủ đề biên tái ( tiếp)



 

Thơ Đường chủ đề biên tái ( tiếp)

Nguyễn Ngọc Kiên chọn dịch

 

- 柳中庸

 

Phiên âm:

 HÀ KIỀU DƯƠNG TỐNG BIỆT – LIỄU TRUNG DUNG

Hoàng Hà lưu xuất hữu phù kiều,
Phổ quốc cựu nhân thử lộ dao.
Nhược bạng lan can thiên lý vọng,
Bắc phong khu mã vũ tiêu tiêu.

Dịch nghĩa:

TIỄN BIỆT TRÊN CẦU HÀ DƯƠNG – LIỄU TRUNG DUNG

Sông Hoàng Hà khi chảy tới đây phải qua một cầu nổi,
Người dân nước Phổ cũ phải qua lại trên cầu này.
Nếu tựa lan can mà ngắm từ xa,
Thấy gió bấc thổi như thôi thúc ngựa, mưa ào ào.

Dịch thơ:

TIỄN BIỆT TRÊN CẦU HÀ DƯƠNG – LIỄU TRUNG DUNG

Hoàng Hà  cầu nổi chảy qua đây
Dân Phổ cũ qua lại cầu này
Nếu tựa lan can từ xa ngắm
Gió như thúc ngựa với mưa bay

NHÀ THƠ ĐỖ PHỦ (Xem các kì trước)

杜甫


Phiên âm:

TIỀN XUẤT TÁI KÌ 4 – ĐỖ PHỦ

Tống đồ ký hữu trường,
Vận thú diệc hữu thân.
Sinh tử hướng tiền khứ,
Bất lao lại nộ phún.
Lộ phùng tương thức nhân,
Phụ thư dư lục thân:
"Ai tai lưỡng quyết tuyệt,
Bất phục đồng khổ tân!"

Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

Câu chuyện văn chương ( Về thơ Bùi Giáng)





Câu chuyện văn chương  
                              Lại Quảng Nam

Sáng nay một người bạn hoc người  Quảng Nam  gởi cho đọc  một bài thơ của Bùi tiên sinh. Có lẽ nhiều người Quảng Nam  đều thích thơ  Bùi Giáng bởi đó “ là người Quảng Nam  quốc “ thân yêu của họ.

Thì ra trong bản văn có 4 câu thơ thuộc hàng  xuất sắc nhất của ông  –câu được ghi vào ly sứ  để NGUOI VIỆT mua  tặng cho nhau –còn các câu khác thì sao ?
Giá mà Bùi Giáng chỉ làm đến đó thì ngừng có lẽ Ok hơn –
Tiếc thay một sự tham lam! Thơ dài lê thê mà hay thì quả là thơ quá khó.
Nhưng nếu không dài thì làm sao mỗi tháng in một tập thơ tặng bạn -mỗi tuần bạn nhận một  tập thơ của "Ai đó" tặng bạn như hiện nay. Đọc thơ phát mệt .
Bạn hiền đọc lại toàn văn của thơ Bùi trung niên thi sĩ.


                                   Tác giả Lại Quảng Nam

Nghe nhìn, nhẫn nhịn.

Tác giả : Bùi Giáng

1 –xuất sắc !  
Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật
Thế cho nên tất bật đến bây giờ!
Ta cứ ngỡ xuống trần chỉ một chốc ...
Nào ngờ đâu ở mãi đến hôm nay!
2 – nhảm!
Bạn thân ơi! Có bao giờ bạn nghĩ
Cuộc đời này chỉ tạm bợ mà thôi
Anh và tôi giàu sang hay nghèo khổ
Khi trở về cát bụi cũng trắng tay

Thứ Năm, 17 tháng 8, 2017

MƯA THU VỀ



                     
  

 MƯA THU VỀ
                                 Trần Trung

Giăng mát mướt
Mưa
Thu về ngỡ tự ngày xưa...
Dặt dìu hòa theo tình khúc “Cây đàn bỏ quên”.
                    ***
Phạm Duy sao nỡ bỏ đi.
Sao nỡ bỏ quên
Cây đàn đa mang Tình-Non-Nước
Khóc than
Đằng đẵng một thời bạc phước.
Lại miên man hoài
               Tình khúc yêu đương,
Tình khúc Ái ân-Vô thường...
                   ***

Như mưa giăng chiều nay
Đứt nối
Vơi đầy...
Cho
Mưa thu về
Khôn dứt-Hồn say.

              HÀ NỘI, chiều16/8-Nhẹ nhõm mưa thu.


Thứ Tư, 16 tháng 8, 2017

Chỗ nào thành phố cũng có hoa



                    

 Chỗ nào thành phố cũng có hoa  
                                             Truyện ngắn của Nguyễn Hiếu
                                             trong tập "Những mùa Ngâu"

Người già nhất trong nhà
           Thành phố này đúng là chỗ nào cũng có hoa. Hoa người ta trồng thành vườn, làm cảnh thì không nói mà bất kì chỗ nào có đất hở ra là hoa mọc. Chỗ thì hoa tú cầu. Hoa này có hình dáng y hệt quả cầu mà thằng cha họ Cao đời Tống chỉ giỏi đá cầu mà lên được chức Thái uý. Từa tựa như thủ tướng thời nay. Tú cầu nhiều màu sắc, nhưng ít ai biết muốn nó màu lam thì chôn ở gốc hoa vài cái đinh rỉ. Muốn nó màu hồng thì dúi vào gốc hoa ít vôi bột. Rồi thứ hoa vàng khè mọc từng bụi như bụi tầm ma mà người Pháp trứơc đây mang vào trồng để làm phân xanh bón cho cà phê và cao su. Thứ hoa có màu vàng như phân trẻ này hễ có gió đưa hạt đi rụng xuống đâu là mọc. Bẻ một cành dâm xuống chỗ đất ẩm thì chả mấy chốc đã thành bụi um tùm. Trứơc năm 1970 thấy gọi là sơn quỳ, quỳ dại, hướng dương dại…Sau có gã nhà thơ từ xa đến chả hiểu mô tê, răng rứa gì về loài hoa ấy, kể cả tên gọi nhưng phàm nhà thơ thì đến hố xí hai ngăn còn gọi bằng em nữa là hoa cho dù là hoa dại. Tức cảnh sinh tình, gã phọt ra bài thơ về thứ hoa vàng khè ấy. Trong thơ gã gọi nó là dã quỳ giống như có bố nhà thơ phịa ra cái lá diêu bông không có trên đời. Thấy cái tên hay hay, nhiều kẻ a dua, tỏ ra mình trữ tình, thơ mộng gọi theo.Vậy là giống hoa vốn chỉ trồng để làm phân có cái tên điệu đà. Thành phố này còn có một giống hoa tên rất tây là mimosa. Thân cây là gỗ có thể làm cột nhà, đun bếp chứ không mềm oặt tha thướt, như các loài hoa khác. Lá thì bạc phếch như đọng bụi đường, hoa nhỏ li ti màu nhạt thếch. Lại có ông nhạc sĩ cũng gặp cơn hứng bốc lên làm một bài hát về nó. Người ta hát đi hát lại khiến dân thành phố này sướng rơn coi nó như biểu tượng địa phương mình. Nhưng nói gì thì nói quả tình hoa làm con người ở thành phố này dịu dàng, hiền lành hơn. Đó là chưa kể nhà của thành phố này trước do người Pháp làm nên toàn cỡ biệt thự, chẳng cái nào giống cái nào giữa những đồi thông suốt ngày vi vu gió. Nay đã bị phá đi nhiều song chưa tiệt hẳn nên biệt thự Pháp bên và giữa rừng thông vẫn làm cho thành phố này có nét đẹp riêng..   
          Ấy vậy mà giữa thành phố hoa và biệt thự quý phái, kiêu sa ấy lại có căn nhà. Căn nhà- gọi thế không biết đã chính xác chưa bởi vì vị trí nó hệt như một kẻ biết mình phận hèn kém luôn luôn ẩn nấp không muốn chường mặt ra. Nó nằm ở dưới một cái dốc bé xíu, gần như thẳng đứng Đầu dốc cũng có một khóm tú cầu màu tím. Cái nhà đó bé lắm, hẹp lắm. Nên tuy hai tầng nhưng càng nhìn càng thấy nó giống như căn nhà đặt trên cái chân gà to tướng trong chuyện cổ tích. Căn nhà đó hiện có ba người lớn một đứa trẻ lên mười. Người già nhất là bà ngoại đứa nhỏ, là mẹ của hai người đàn bà còn lại. Không biết tên thời con gái của bà là gì chỉ thấy dân lối ngõ sâu và hẹp hun hút ấy gọi là bà Tư Ôtô.Vì bà là vợ chả biết thứ mấy, và có cưới xin gì không của một ông lái ô tô khách đường dai. Dân sống lâu năm ở dốc đó giờ trạc tuổi bà cỡ hơn thất thập, non bát thập cũng không rõ mặt ông ấy, vì có bao giờ ông ở nhà đến quá hai ngày đâu ? Mỗi lần ông về là bà Tư hớn hở, săng sái lắm. Bà vốn khéo tay giỏi bếp núc nên chồng về là bà ra chợ mua đồ, rồi lụi hụi vào bếp khi thì làm hủ tiếu, khi thì làm nem lụi, bún bò giò heo cho chồng ăn. No say rồi, ông lôi bà vào giường. Xong việc, ông ngáy ào ào. Tỉnh dậy, áo vắt vai mặt tím bầm vì chưa hết hơi men, lừ lừ ra khỏi nhà. Lên đến đầu dốc bao giờ ông cũng đá vào bụi hoa túc cầu một cái. Có lần làm bay một bong hoa lăn long lố xuống dốc. Còn thường chỉ bung ra vài cánh hoa loăn xoăn hay chiếc lá hoa mỏng dính. Năm sau ông về đã thấy nhà lại thêm một đứa trẻ. Ông đứng tựa khuỷ tay vào thành cửa hất hàm hỏi:
-         Tên nó là gì ?
-         Thằng Lụi ba nó à .
Ông gật đầu, nhếch mép cười :
- Hiểu. Giống như chị nó là con Tiếu để nhắc lại cái món bà nấu cho tôi ăn bưã năm ngoài chứ gì.
                                            Nhà văn Nguyễn Hiếu

Thứ Ba, 15 tháng 8, 2017

Phía không em




Phía không em
.
Em hững hờ thả từng lọn trăng suông
Anh nén thở đè muôn ngàn con sóng
Vòng tay ôm có phần em lơi lỏng
Khẽ co người khi chạm khúc triều dâng.
.
Dẫu biết mình mãi không thuộc về nhau
Dẫu biết sông chỉ một lần thuyền đậu
Vẫn chau chuốt từng cơn anh hổi hả
Mặc thu mình em vời vợi bến bờ xa
.
Bến bờ nào rồi neo đậu thuyền hoa?
Khúc sông nào sẽ níu trăng buông tỏa?
Anh nào biết để buông lơi ngóng đợi
Phía bờ anh hết heo hút tiếng cười.
*.
Hà Nội, chiều 11 tháng 07.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


Thứ Hai, 14 tháng 8, 2017

NGUYỄN DU ĐÃ SÁNG TẠO NHỮNG GÌ TRONG BẢY LẦN NHỚ CỦA THÚY KIỀU?





NGUYỄN DU ĐÃ SÁNG TẠO NHỮNG GÌ TRONG BẢY LẦN NHỚ CỦA THÚY KIỀU?
                                              Vũ Nho

Chúng ta đọc Truyện Kiều đều biết trong quãng đời 15 năm lưu lạc, nàng Kiều có 7 lần nhớ cha mẹ và người yêu trong những hoàn cảnh khác nhau. Bảy lần nhớ đó theo trình tự và được Nguyễn Du diễn tả bằng các số lượng câu thơ như sau:
1. Trên đường đi Lâm Tri: 8 câu, từ câu 911 đến 918
2. Ở lầu Ngưng Bích: 8 câu, từ câu 1039 đến 1046
3. Ở lầu xanh Tú Bà: 14 câu, từ câu 1253 đến 1266
4. Khi Thúc Sinh khen: 4 câu, từ câu 1317 đến 1320
5. Vắng Thúc Sinh: 8 câu, từ câu 1627 đến 1634
6. Ở nhà Hoạn Thư: 4 câu, từ câu 1785 đến 1788
7. Khi vắng Từ Hải: 14 câu, từ câu 2235 đến 2248
Chúng ta đọc và biết như vậy thôi. Nhưng để tìm hiểu xem Nguyễn Du đã có những sáng tạo gì trong việc thể hiện tâm trạng và nỗi nhớ của nhân vật Thúy Kiều, chúng tôi muốn cùng nhau xem lại Kim Vân Kiều (KVK) để đối chiếu và so sánh.
1. Trước hết là nỗi nhớ trên đường đi Lâm Tri. Đây là đoạn thuộc hồi thứ 8 của KVK. Nguyên văn, Thanh Tâm Tài Tử chỉ viết:
Thế rồi trên quãng đường đi, nhìn phong cảnh lạ, động mối thương tâm, dòng lệ đã khô, hơi thở hầu như cũng kiệt, gượng ngâm lên bài thơ tứ tuyệt, để ghi lại nỗi oán hờn […]:
Dặm trường quan tái những mênh mông
Mặt sóng chân bèo há nỡ trông
Riêng mối tình si khôn giũ sạch
Bóng tà mây nổi kín non sông.
Viết xong nàng ngâm vịnh hồi lâu, nhân lúc nhìn ra bốn mặt, phong cảnh tiêu điều, bất giác lệ lại tuôn rơi. Vì quá cảm động nàng lại viết thêm bài "Ngũ ngôn tuyệt cú” như sau[…]:
Ta đi nào đã xa đâu
Trông về gió thảm mà đau đớn lòng
Mừng xuân cái én bay tung
Lên cao quét sạch bụi trong xà nhà
Chim hồng luống những xót xa
Thay phiên trở lại quê nhà bắc phương
Bên hồ tiếng cuốc còn đương
Nắng hè trải hết thu sương đến rồi
Sầu nhân tạm viết thay lời
Đêm xuân dằng dặc canh dài buồn ghê
Lòng kia âu cũng tái tê
Chuông vừa nổi tiếng tức thì liệng quanh.
Lại đi thêm mấy ngày nữa mới đến địa hạt Lâm Tri. (Phạm Đan Quế - Truyện Kiều đối chiếu, trang 173 -175)*.
Nguyễn Du chỉ lấy ý hai câu ở trong hai bài thơ của nhân vật để viết về nỗi nhớ của nàng:

Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2017

Mấy bài thơ đáng nhớ của thi sĩ Nguyễn Khôi

Mấy bài thơ đáng nhớ của thi sĩ Nguyễn Khôi [ 1938- - Newvietart.com/ (fr.)


 
Nguyễn Ki [yên bái 1938-   ]   
               


SỚM THU
"Sớm nay trời nhẹ lên cao"
           -thơ Xuân Diệu -
           
Sớm nay nghe hồn lành lạnh
Một trời sương trắng : ờ thu ,
Cao Tầng ánh sao lấp lánh
Ban công vẳng tiếng chim Cu...
                 
Chim Cu nhốt lồng gọi bạn
Mơ về một cánh rừng xa
Nhốt lồng khác chi bị "hoạn"
Không còn được sướng mây mưa...
                
Đón thu lưng trời cao ốc
Quờ tay định tóm đám mây
Mây đen chừng đầy khí độc
Tạt qua tối xẩm mặt mày...
                  
Cúc vàng mua về cắm lọ
Nhớ nhung lá đỏ cành Phong
Thu vàng nước Nga rực rỡ
Lũ đang cuộn sóng sông Hồng...
                  
Xuân tới 80 rồi nhỉ ?
Sớm nay qua nẻo thu sang
Ngắm hoa thấy lòng tươi trẻ
Chỉ e hoa thẹn bẽ bàng...
          
      Hà Nội 15-8-2016

                                             
                                                                                                                                                     lũ sông Hồng tại Lảo Cai
 
THÁNG 7 NÀY KHÔNG CÓ MƯA NGÂU
          (tặng : LXQ -Berlin)
               
"Tháng 7 về trời bỗng đổ mưa Ngâu
Cầu Ô Thước hai đầu trông mắt nhớ "
                         - thơ bạn LXQ
 Tháng 7 này không có mưa Ngâu ?
-Hà Nội nắng 37 độ
Trên Lào Cai lũ tràn sạt lở
Tiếng ve kêu đỏ cành Phượng bên cầu.
                      
Đâu còn Quạ bắc cầu Ô Thước
 (phun thuốc sâu : Quạ tuyệt chủng rồi,
phân hóa học : ruộng không còn Đỉa...)
Nỗi đau hoài : tượng Tô Thị nung vôi...
                      
Đâu còn mưa Ngâu gieo tiếng nhạc trời
 Mưa rả rích thương người con xa xứ :
-Cô ấy bán sang Hàn làm "vợ"
Rằm tháng 7 này có nhớ "tết" mẹ cha ?
                       
Nắng chang chang thèm một tiếng sấm xa
Thèm một trận mưa xưa lành (không a- xít )
-Ôi Đất Nước đang từng phần tự chết
Diệt môi trường : trời chẳng đổ mưa Ngâu.
                        
Nước mắt rơi rơi
chẳng thành được mưa Ngâu !
Hà Nội 12/8/2016, sắp rằm tháng 7 Bính Thân

THU HỒNG HÀ NỘI



Xin tạm biệt thu hồng Hà Nội
Biết nói chi xao xuyến trong lòng
Má ai ửng mặc dù tôi chẳng thấy
Phải chăng là ai đó có hẹn trông ?