Thứ Năm, ngày 24 tháng 4 năm 2014

CHÙM THƠ TÌNH TÂY BẮC




CHÙM THƠ TÌNH TÂY BẮC CỦA TRIỆU LAM CHÂU

Lời tâm sự của Triệu Lam Châu:
Nhân kỷ niệm sáu mươi năm chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (1954 – 2014) Hội Văn học nghệ thuật Phú Yên tổ chức một đoàn văn nghệ sĩ đi thực tế sáng tác tại Điện Biên mười ngày (Triệu Lam Châu cũng được tham gia vào Đoàn đi sáng tác ấy). Dự kiến sau đợt sáng tác này Hội sẽ in một tuyển tập tác phẩm thơ văn kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên, sẽ tổ chức một triển lãm ảnh và một buổi biểu diễn thơ nhạc về chủ đề này.
Đoàn gồm có mười lăm văn nghệ sĩ Phú Yên tiêu biểu nhất. Bắt đầu khởi hành từ sáng 10 tháng 4 và đêm ấy ngủ tại Quảng Trị. Sáng 11 đi tiếp đến Hải Dương (Tỉnh kết nghĩa với Phú Yên). Ngày 12/4 tham quan di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc. Những di tích văn hoá này liên quan tới các danh nhân như: Trần Hưng Đạo – Nguyễn Trãi – Chu Văn An. Anh em văn nghệ Hải Dương đón tiếp thật nồng hậu. Mấy năm nay giới văn nghệ hai tỉnh vẫn thường giao lưu thân thiết với nhau như anh em một nhà.
Sáng 13/4 bắt đầu hành trình lên Tây Bắc theo ngả đường Hoà Bình – Sơn La – Điện Biên. Cảnh sắc núi rừng hoành tráng tuyệt vời và thật giàu cảm xúc với những địa danh đã đi vào thơ văn và sử sách: Mai Châu – Mộc Châu – Yên Châu – Thuận Châu – Mường Lay – Đèo Pha Đin (Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ - Đèo Lũng Lô anh hò chị hát, Thơ Tố Hữu).
 Dùng cơm trưa tại Mai Châu, mà như thấy hương nếp thơm toả ra từ Bài thơ Tây tiến của Quang Dũng thuở nào...(Mai Châu mùa em thơm nếp xôi...)
Chiều 13/4 đến Sơn La. Hội văn nghệ Sơn La chiêu đã bữa tối thật say sưa với chén rượu nồng Tây Bắc đầu tiên của chuyến hành trình.
Đêm ngủ tại Sơn La mà lòng thao thức mãi, bởi lòng lại nhớ: Pa Triệu Thế Kiệt, tức Võ Hùng của Triệu Lam Châu hồi xưa đã từng bị giặc Pháp bắt cầm tù tại Sơn La cùng với các nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng sau này như: Xuân Thuỷ (Phó chủ tịch Quốc Hội), Nguyễn Lương Bằng (Phó chủ tịch nước)...
Sáng 14/4 sau khi tham quan xong nhà tù Sơn La, Đoàn đi Điện Biên ngay. Trên đường lên Điện Biên có rẽ vào sâu trong rừng gần ba chục cây số để thăm căn hầm Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Mường Phăng. Sau đó lại trở ra quốc lộ và đi tiếp lên Điện Biên.
Sáng 15/4 tham quan nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên, gần 4 ngàn bia mộ không tên, tham quan các Đồi B1, A 1, Hầm Đờ Cát tờ ry, Bảo tàng Điện Biên. Lòng dạt dào cảm xúc trước những di tích nhuốm nhiều máu của các chiến sĩ của ta hồi xưa đánh giặc Pháp trên mảnh đất này.
Đêm 15/4 Hội văn nghệ Điện Biên chiêu đãi nhiệt tình. Lòng lưu luyến mãi không muốn chia tay...
Sáng 16/4 xe bắt đầu rời Điện Biên vào lúc bốn giờ sáng. Chao ôi... chưa kịp nhận diện rõ mặt người Điện Biên... mà đã chia tay rồi chăng? Biết bao giờ mới được trở lại mảnh đất giàu ân nghĩa này...Những tình cảm bạn bè đẹp đẽ và thắm thiết, những cô gái Thái đẹp như tiên...Một niềm tự hào chính đáng của miền cao Tây Bắc đó.
Trên đường trở lại Tuy Hoà, Phú Yên – Đoàn có ghé thăm chùa Bái Đính, thăm và thắp hương viếng Mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), thăm Vũng Chùa (Quảng Bình) và thắp hương kính viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Rồi đêm 19/4 Đoàn đã trở lại Tuy Hoà an toàn và lòng ai cũng chan chứa tình cảm thật sâu đậm đối với mỗi vùng đất đã đi qua, đặc biệt là miền cao Tây Bắc của Tổ Quốc gắn liền với chiến thắng Điện Biên lịch sử.
Sau chuyến đi này Triệu Lam Châu có ngay một Chùm thơ tình Tây Bắc, xin trân trọng gửi bạn bè gần xa cùng thưởng thức nhé.


Triệu Lam Châu

CÔ HƯỚNG DẪN VIÊN NGƯỜI THÁI
TRÊN MƯỜNG ĐIỆN BIỆN

Em gái Thái ơi, em ngời xinh quá đỗi
Tự Mường Trời tiên phái em xuống đây chăng
Trời Tây Bắc nở bừng ban nao nức
Ing lả ơi cao vút ánh long lanh

Thứ Tư, ngày 23 tháng 4 năm 2014

Có một người con gái…







Có một người con gái…
  
Hoàng Dân
             Hãy bắt đầu từ cái “dải yếm” trong câu ca dao: Ước gì sông rộng một gang/Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.
Ai từng sinh ra và lớn lên ở một làng quê thuần nông với đủ cây đa, bến nước, sân đình, lũy tre thì trong kí ức hẳn còn đọng lại những lời ru, mà phần nhiều lời ru thường là những câu ca dao được cất lên bằng một giọng điệu tha thiết nao lòng. Dường như người ru đang giãi bày tâm sự của chính mình? Có nỗi niềm của thân phận lênh đênh. Có nỗi hờn giận của số phận hẩm hiu. Và có cả nỗi sầu tủi của duyên tình lỡ dở... Những nỗi niềm ấy thì đời nào mà chẳng có? Nhưng, ngày xưa, trong một không gian quá hẹp của lũy tre làng và trong sự cương tỏa khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến thì những nỗi niềm ấy có thể đậm đặc hơn, nghiệt ngã hơn và dễ dẫn đến nguy cơ khủng hoảng tuyệt vọng hơn?! Có lời ru rằng:
Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi*
Có biết bao con sông và cái cầu trong ca dao? Có lẽ nhiều lắm! Bởi mỗi con sông, mỗi cái cầu là một mảnh tâm trạng, một nỗi niềm, thậm chí là một cuộc đời! Thử xem:

Thứ Ba, ngày 22 tháng 4 năm 2014

NHỚ TÚ XƯƠNG







NHỚ TÚ XƯƠNG
TRẦN TRUNG

Người chỉ "quên ô" đi hát Cô đầu
Người chẳng chịu '' vác ô"-sống đời buồn tẻ...
Người nổi loạn trong từng Con-Chữ
"Chớp bể mưa nguồn" ngợp lặn Nỗi-Buồn-Tênh.
             ***
Người tạt a-xit vào Nỗi-Đời lọc lừa, lưu manh, cơ hội...
Người cất tiếng cười đau vào thế thái nhân tình
Người phạm húy -Người phá tung khuôn phép
Cho lên ngôi muôn đời-Một Ông Tú-Thành Nam
             ***
Người cất tiếng gọi đò cả khi dòng chảy Vị Hoàng
Đã thành "Sông lấp"
Người "Thương vợ" Mình "buôn bán ở mom sông''
Người ném thủy tinh vỡ vào "thói đời ăn ở bạc"
Và xót xa tận cùng"Có chồng hờ hững cũng như không"...
            ***
Giữa thời thác loạn nay của "Văn minh","hiện đại"
Người-Thơ, Thơ-Người vẫn đồng hành Khóc-Cười
Trong Nhân-Ái vô biên
Nhớ Tú Xương ...
Mà, thương mãi Kiếp-Người.

           HÀ NỘI 18/9/2013.

Thứ Hai, ngày 21 tháng 4 năm 2014

Xem 4 bộ phim của 4 nước





Xem 4 bộ phim của 4 nước với các xu hướng khác nhau


Theo lịch sinh hoạt của Câu lạc bộ Văn chương, ngày 17 tháng 4, các Hội viên xem phim.

Buổi sáng xem 2 phim : Đội tuần tra trên núi của Trung Quốc và Malena của Ytalia, chiều xem phim Những linh hồn câm lặng của Nga và Tổn thất của Anh. Các phim này đều đoạt nhiều giải thưởng danh giá trong các cuộc liên hoan phim quốc tế.

“Đội tuần tra trên núi” dựa vào một truyện ngắn nói về Đội tuần tra tự lập của dân chúng để bảo vệ linh dương trên vùng núi Tây Tạng. Một phóng viên báo đến viết bài về đội trưởng và anh đã đi theo đội hơn mười ngày. Khi đi có ba ô tô. Cuối cùng, thì một ô tô chở những người bị thương do đánh nhau với bọn săn trộm về chạy chữa. Một ô tô bị hỏng phải bỏ lại giữa hoang vu. Một xe nữa thì cũng hết nhiên liệu. Chỉ còn đội trưởng và nhà báo. Bọn săn trộm bắt được họ. Chúng giết đội trưởng, còn nhà báo thì chúng thả về. Phim có nhiều cảnh rùng rợn, như khi người chết, họ chặt xác thành mảnh nhỏ cho diều hâu và kền kền ăn ( vì hiếm đất chôn), cảnh bọn săn trộm giết hàng ngàn linh dương lấy da…

       Phim “Ma lé na” của Ytalia kể câu chuyện trong chiến tranh thế giới thứ 2. Nữ nhân vật chính có chồng ra trận. Chị xinh đẹp đến nỗi làm mê mẩn cả thành phố. Mọi người tập trung nhìn khi chị đi qua. Có một chú bé con với chiếc xe đạp luôn theo chị, nhìn trộm vào căn nhà của chị. Chú tự nguyện là người bảo vệ, người yêu, đi nhà thờ cầu Chúa bảo vệ chị. Nhiều người mê chị, họ nói xấu chị. Bố chị buộc phải thôi dạy học. Chị bị kiện ra tòa. Luật sư hùng hồn bảo vệ chị. Nhưng sau đó ông đòi làm tình, chị kiên quyết cự tuyệt, và trả ông ta nhiều tiền…Rồi chị rời thành phố. Chú bé trở thành lớn hơn. Trong thời chiến tranh sống chết cận kề, bố mẹ cho chú đến nhà thổ. Chú thú nhận với cô điếm là nhiều lần làm tình bằng tưởng tượng…Kết thúc chiến tranh, chồng chị mất một tay trở về nhà cũ. Nhà đầy người tị nạn. Không ai biết Malena đi đâu. Chú bé đã viết thư và nói rằng chị là người tử tế…Hai vợ chồng tìm được nhau, trở về nơi ở cũ. Mọi người thân thiện với chị, mặc dù trước đây họ coi chị như cô điếm.

Chủ Nhật, ngày 20 tháng 4 năm 2014

KHÔNG PHẢI TÌNH CỜ






KHÔNG PHẢI TÌNH CỜ
Tặng PL
ĐƯỜNG VĂN

Tào lao
nửa buổi,
Chẳng vơi
nửa ly buồn!

Đàn hát tràn
nửa tiếng,
càng… điếng
 cô đơn!

Cô đơn!
Cô đơn!
Biết làm gì hơn?
Tri âm đâu tá mà tri ngộ?
Khẽ rung giọt đàn…

Đàn ai ẩn phía vầng trăng?
Tiếng ai mờ khuất cuối làng?
Mênh mang sông vắng,
Gọi mời
San sẻ
chút bâng khuâng!

Ngậm ngùi:
Lời ru cỏ non!
cò trắng vút bay,
Hoa cải lên trời,
cây chi ở lại?
Ôi! quê tôi!
Hô… hà… hê!
Nhức nhối.
Thình thình trống gọi,
tình tình…
chênh chao!(*)

Trở về ấu thơ,
tắm ngọn sông Đào
Nôn nao, đắng, chát,
hanh hao một mình!

Chiều âm u, thu 26 - 8 – 2011
Sửa 4 – 4 - 2014

(*). Nhan đề và trích lời các ca khúc:
- Lời ru cỏ non (Nhạc Hữu Ước, thơ Nguyễn Thị Kim Châu; Thái Bảo hát);
- Con cò -  Lưu Hà An; Tùng Dương hát;
- Quê nhà – Trần Tiến;  Tùng Dương hát;
- Ôi! Quê tôi! – Lê Minh Sơn; Tùng Dương hát.

Thứ Bảy, ngày 19 tháng 4 năm 2014

VỀ THANH MINH



                   


 VỀ THANH MINH
                         Trần Năng Tĩnh

1/Năm nay, tôi về Quê-Nam Định đúng ngày Thanh minh( mùng sáu tháng ba-Giáp Ngọ). Định xong việc sẽ quay lên Hà Nội trong ngày.Nhưng rồi tôi lại thay đổi kế hoạch, sẽ ở lại Thành Nam của mình một đêm.
  Về đến Nam Định là tôi lo ngay tới việc hương khói và làm chu đáo cho quang quẻ, sạch sẽ mộ phần của ông bà Nội tôi bên làng Nam Vân (bên kia bến Đò Quan, nay đã là một Phường thuộc Thành phố).Sau đấy, lại quay sang hai nghĩa trang phía đầu Thành phố, có cái tên rất ấn tượng: nghĩa trang
Hoa Đồng và Cánh Phượng.Nơi ấy mẹ và vợ tôi đã nằm lại...
   Cũng thật may, buổi sáng hôm tôi về Quê để làm công việc phong tục-lễ nghĩa ấy, trời đất lại quang quẻ trở lại sau những ngày mưa dầm dề, sũng xịu.
  Cảm giác thanh thản, nhẹ nhõm và an tâm khi đã làm xong việc phải làm-nhất là lại đúng ngày Thanh minh.Thế là,còn cả buổi chiều và tối với Thành Nam của tôi. Với bạn bè tôi. Với những kỉ niệm một thời dài mà sống mãi trong tôi.

  Tôi  gọi điện cho mấy ông bạn vàng.Báo tin mình về Quê và hẹn các ông ấy chiều tối đến Ngõ Văn Nhân (ngõ phố có từ thời cụ Tú Xương-nơi gặp gỡ các Sĩ tử, Văn nhân Thành Nam một thời).Chả là, ngõ phố có cái tên rất sang trọng ấy, đến thời chúng tôi lại có một hàng phở, đặc biệt là món nạm bò ngon lại rẻ. Quả là phù hợp với mấy ông bạn nhà giáo, nhà báo, nhà thơ hàng Tỉnh như chúng tôi.
  Chiều ấy, phải còn hơn một tiếng mới đến giờ hẹn.Tôi mượn chiếc xe đạp của chú em rể, nói là đi quanh rong phố mặc cho ông em cứ nài nỉ: sao anh không lấy xe máy mà đi cho đỡ vất vả.Thật ra, tôi muốn thưởng ngoạn lại và những mong tìm lại dấu của Thành-Nam-Xưa.

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 4 năm 2014

TIẾU LÂM GABROVO 26 ( TIẾP)







TIẾU LÂM GABROVO 26 ( TIẾP)

KẺ TIÊU HOANG
Một chủ tiệm tạp hóa người Gabrovo than phiền về con trai mình với ông bán thịt láng giềng.
          - Tôi biết chắc rằng nó sẽ chẳng nên người! Hôm qua họ nhìn thấy nó ở nhà hàng. Nó gọi món thịt dần những hai lần! Mà bác hãy xem bao nhiêu là thịt dần tôi sẽ mua ở bác cũng bằng ngần ấy số tiền!...

VỊ KHÁCH HỒN NHIÊN
Vị linh mục người Gabrovo rất keo kiệt, không thích đãi khách. Nhưng dẫu sao, một thời gian, ông cũng phải thu xếp cái gọi là ăn trưa, như là một nhu cầu tinh thần.
          Các vị khách được mời kéo đến. Vợ linh mục bắt đầu bày bàn ăn. Bà đặt một cái đĩa sâu lòng đựng thức ăn trước mặt linh mục, còn mình thì đi vào bếp và khua bát đĩa lanh canh. Trong khi bà vợ lúi húi ở đó, linh mục ăn rất nhanh suất của mình. Sau khi lấy khăn lau tay, nâng kính lên mũi, linh mục hô lên:
          - Linh mục đã no, vợ linh mục cũng no! Ơn Chúa...Bà linh mục hãy dọn bàn đi!
Sự việc cứ diễn ra như thế và không ai có thể khoe rằng mình đã kịp ăn chút gì đó trong bữa trưa ở nhà linh mục.
Nhưng có một lần, có một vị khách hồn nhiên đến nhà linh mục. Người ta mời ông ngồi vào bàn ăn. Vợ linh mục như thường lệ đặt đĩa thức ăn trước mặt linh mục. Linh mục chưa kịp cầm thìa thì vị khách đã ngăn lại:
          - Gượm đã, thưa cha! Cha quên chưa cảm tạ đấng tối cao và làm dấu thánh!
          Linh mục đặt thìa xuống bàn, đưa tay lên để làm dấu thánh. Còn trong khoảnh khắc ấy, vị khách kéo đĩa thức ăn về mình và bắt đầu ăn.
          Khi vợ linh mục quay lại phòng, vị khách đã làm nhẵn đĩa thức ăn; còn linh mục, theo thói quen, cằn nhằn một cách giận dữ:
          - Linh mục đã no, bà linh mục đã no...
          - Nhầm tồi, thưa cha – Khách ngắt lời – Cần phải nói rằng ...Khách đã no, bà linh mục đã no...
Và ông khách đưa cho bà linh mục chiếc đĩa không.

CHỖ HẸP
Trước đây, trong xưởng may hợp tác xã chỉ có một người thợ cắt. Ông ta không thể nào làm kịp việc cho tất cả các thợ khâu. Bởi vậy người ta gọi ông ta là “cái chỗ hẹp”. Trong khi đó, phòng cắt cũng chật hẹp...
Nhưng khi nói về hạch toán kinh tế, về các kế hoạch ứng phó, trong phòng cắt, dù có chật chội thế nào, người ta cũng đặt một cái bàn để cho một người thợ nữa. Họ dồn cả việc thợ khâu cho hai người.
          - Cái anh thanh niên cùng làm với bác là ai thế? – Những bạn hàng hỏi người thợ cắt, khi họ rẽ phào phòng.
          - Sao lại là ai? – Ông ta đáp- Đấy là kế hoạch ứng phó chứ!

ĐỒNG TIỀN VÀNG
Một thương gia buôn chuyến sống ở thành phố Elena thường xuyên đi vào Gabrovo bằng xe ngựa tải chất đầy các hàng hóa khác nhau. Nhà hàng này thì ông  đưa hàng cho chịu, nhà khác thì thanh toán tiền mặt. Điều đó phụ thuộc vào tình trạng tài chính của họ. Một ngày nọ, một anh Gabrovo mới buôn bán yêu cầu thương gia cho anh mua chịu. Thương gia mặc dù chưa có niềm tin cậy với người sắp cộng tác với mình mà không có vốn, dẫu sao, cũng quyết định mạo hiểm. Anh Gabrovo chứng tỏ với thương gia rằng mình là người đáng tin cậy. Thương gia giao hàng hóa cho anh ta. Qua một thời gian, thương gia lại tới Gabrovo và rẽ vào nhà hàng của anh chàng nọ xem công việc tiến triển ra sao và lấy số tiền phải trả của anh ta.
          Anh Gabrovo dẫn thương gia về nhà, khoản đãi cà phê, sau đó rút trong túi ra cuốn sổ ghi chép tất cả các khoản thu chi. Đúng lúc đó, trong cuốn sổ rơi ra đồng mười leva ( đồng tiền vàng) và nó lăn trên sàn. Đứa con trai bé của chủ nhà nhặt lên:
          - Bố ơi, bố ơi! Con tìm được tiền này ! – Đứa bé thốt lên.
          - Chuyện vặt! – Ông bố phẩy tay – Hãy mang nó vào cửa hàng cho mẹ, cứ để cho mẹ đặt nó vào chỗ những đồng vàng khác. Còn con vì có công nhặt được nó, hãy để mẹ cho con tờ 5 đồng , con đi mua kẹo ca ra men!
          Chú bé vui sướng và nhảy chân sáo ra cửa. Còn vị chủ nợ mỉm cười, vui vẻ nói với chủ nhân:
          - Hãy hoãn món nợ lại, lần sau anh sẽ trả. Tôi thấy anh đã có khả năng thanh toán nếu anh có nhiều đồng tiền rơi xuống sàn!...Anh đã diễn như phải diễn. Còn tôi thì vui vì rằng tôi nhớ lại thời trước, tôi cũng diễn vở hài kịch với đồng tiền vàng, trước một công dân đồng hương của mình.

Vũ Nho dịch
Còn tiếp

Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014

LƯU LẠI TÌNH DÂN



              

                                                              Tác gỉa Đức Ninh và dịch giả Thúy Toàn (áo xanh)
 LƯU LẠI TÌNH DÂN
Đến ĐỀN HÙNG thắp một tâm nhang
Về với tổ tiên LẠC HỒNG ân đức !
Mười tám đời VUA HÙNG dựng nước
Xuống biển,lên rừng mở cõi VĂN LANG
Ôi liêng thiêng đất Việt-HY CƯƠNG
Núi  NGHĨA LĨNH muôn dân về nơi ấy
Những kiều bào ước mơ bỏng cháy
Được về nguồn,bái lạy HÙNG VƯƠNG
Thấm đượm tình quê,làn điệu hát XOAN
Chày THẬM  THÌNH lửa đêm càng ân ái
Đời một lần đến đây chiêm bái
VUA về trời,vẫn  lưu lại tình DÂN
                                   Ngày 4/3/2014
                               Nguyễn Đức Ninh

Thứ Tư, ngày 16 tháng 4 năm 2014

QUEN MÀ LẠ TRONG “NỞ MUỘN”





                                                                  Nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu

QUEN MÀ LẠ TRONG “NỞ MUỘN”

          Về tập thơ “Nở muộn” của Lưu Thị Bạch Liễu, nhà xuất bản Lao Động, 2013

                                               Vũ Nho

Sau tập thơ “Sông Cầu đang chảy đâu đây” năm 2009, mãi đến năm 2013, Lưu Thị Bạch Liễu mới cho in tập thơ “Nở muộn” mỏng mảnh chỉ có 26 bài thơ được chia thành hai phần với nhan đề mỗi phần khá gợi : “Đợi em về đỏ”  và  “Rùng rùng bóng lá”. Thật ra, khi đặt nhan đề này tôi có chút cân nhắc băn khoăn. “Quen mà lạ”  hoặc “Lạ mà quen”? Hai vế đó cân bằng, nhưng hình như vẫn có sự khác biệt khi vế nào đặt trước, đặt sau. Và  trực giác  cùng với ấn tượng mách bảo tôi : quen mà lạ. Bởi vì vẫn tác giả tôi đã biết, vẫn những đề tài quen thuộc, cả thi tứ, thi ảnh cũng quen, nhưng đọc vẫn thấy khang khác, vẫn thấy lạ.  Và lạ  chính là ấn tượng đọng lại cuối cùng chứ không phải đầu tiên.

Vì tác giả đã không ngừng tìm tòi để đổi mới mình.

Một trong những nét mà hầu như trong hai tập thơ trước người đọc đã quen là cảnh sắc miền núi trong thơ của Bạch Liễu. Đó là dòng sông Cầu hay chỉ là một dòng sông không tên, là bản làng với mái cọ, với nhà sàn, cầu thang, là  vùng trời Hà Giang hay ngọn núi ở Na Hang. Thì đây, vẫn là cảnh sắc vùng núi phía Bắc nhưng vừa cụ thể như Quản Bạ :

Chiều Quản Bạ


Tiếng chim kêu trĩu rừng cây


Trên những mái nhà


Sương đang bay

          Qua cổng trời 2

Đồng thời lại như mơ hồ, không rõ của nơi nào, chỉ biết là vùng cao. Bảo là Bắc Kạn cũng đúng, Hà Giang không sai, Cao Bằng hay Lạng Sơn, Sơn La đều được :

          Gió bắt đầu nức mùi cá nướng


          Mưa thỏa thuê trên hồ rộng


                            Những người đàn bà

          Rì rầm

          Phố chợ

          Bán mua

          Mắt bừng má đỏ

          Rực men rượu ngô

                       Qua cổng trời 3