Thứ Hai, ngày 06 tháng 7 năm 2015

QUAN THAM VIỆT NAM NÊN BIẾT


LƯƠNG TÂM CỦA KẺ ĂN HỐI LỘ

Chính phủ định xây một tòa nhà  công sở lớn ở thủ đô nên cần chọn một công ti xây dựng để giao việc. Một số công ti lớn muốn được nhận thầu vì công việc này sẽ đem lại cho họ vô khối tiền nếu họ trúng thầu. Nhưng tất nhiên không phải tất cả đều được giao việc mà chính phủ chỉ giao cho một công ti nào may mắn. Bởi vậy, người ta bổ nhiệm một viên chức chính phủ đặc trách xem xét các đề nghị của các công ti, quyết định xem công ti nào phù hợp rồi khuyến cáo Bộ Lao động lựa chọn công ti đó.
          Sau vài tháng, sự lựa chọn đã xong, công việc đã được tiến hành thì một trong số các công ti không trúng thầu kiện lên Bộ trưởng. Họ nói rằng viên chức chịu trách nhiệm tư vấn cho  Bộ lựa chọn công ti làm việc đã ăn hối lộ.
          Bộ trưởng lập tức ra lệnh điều tra sự việc. Sau một tháng có chứng cớ là quả thật, viên chức đó có nhận hối lộ. Bộ trưởng cho mời viên chức đó tới để đối chất. Viên chức đó thú nhận là đã nhận một khoản hối lộ lớn. “Nhưng- ông ta nói – Tôi không chỉ nhận của công ti mà tôi đã đề nghị ngài cho nhận thầu. Tôi nhận hối lộ của tất cả các công ti muốn tôi chiếu cố đến khi tiến hành lựa chọn”.
          “ Được rồi!” – Bộ trưởng nói – “ Cuối cùng thì anh lựa chọn như thế nào? Có phải anh đã chọn công ti hối lộ cho anh hậu hĩnh nhất?”
          - “ Hoàn toàn không, thưa ngài” – Viên chức trả lời với sự xúc động mạnh mẽ vì ngài Bộ trưởng đã buộc tội oan anh ta, một người đứng đắn như thế.
          “ Tôi đã cẩn thận lấy món tiền hối lộ hoàn toàn bằng nhau của mỗi công ti khi họ cố giành quyền ưu đãi”.
-         Thế thì anh lựa chọn ra sao? – Bộ trưởng hỏi.
-         “ Như một viên chức chính phủ đứng đắn” – Anh ta đáp – “ Tôi đã chọn công ti mà tôi cho rằng họ sẽ làm tốt nhất và giá rẻ nhất!”

                                              Vũ Nho dịch từ tiếng Anh



Chủ Nhật, ngày 05 tháng 7 năm 2015

THƠ LÀ GÌ? THI SĨ LÀ GÌ?


VNNB  vừa nhận được bản mềm cuốn sách "THƠ trong nhà trường với lời bình" của nhà văn, nhà giáo Hoàng Dân, một cộng tác viên thường xuyên của trang. Trân trọng cám ơn tác giả và giới thiệu bài viết cuối sách "Thơ là gì?", " Thi sĩ là gì?".

Thơ là gì?
     Có rất nhiều câu hỏi còn bỏ ngỏ tới muôn đời, ví như: Con người là gì? Tình yêu là gì? Hạnh phúc là gì? Thơ là gì?...
     Riêng thơ cũng có tới hàng trăm định nghĩa, nhưng xem ra một định nghĩa có vẻ… hơi “cùn”, song lại “được” nhất: Thơ là Thơ!
     Thơ là Thơ! Vậy thôi! Tạo hoá sinh ra chẳng ai giống ai, cho nên mỗi người  có một cách hiểu khác nhau về thơ cũng là chuyện bình thường. Người làm ra thơ, do đó thơ mang hồn vía của người làm ra nó. Thế nên, chúng ta mới có cái thế giới “Thơ và Người thơ”.
     Khi làm thơ, thi sĩ thăng hoa thiên chức của mình. Còn khi bình thơ, ta mượn bài thơ của thi sĩ để sáng tạo tiếp. Đúng-sai, hay-dở không quan trọng, điều cốt yếu là bài thơ đã gợi ra cho ta những suy cảm mà nếu không có nó thì có thể chẳng bao giờ ta đụng tới cái vùng cảm xúc tiềm thức ấy.
     Khi bình thơ, ta cũng hiểu thêm về một người thơ với tất cả những vui buồn mà ta có thể đã trải nghiệm hoặc cũng có thể là lần đầu ta chợt giật mình ngộ ra. Còn khi làm thơ, ta có thể tạm thời vùng thoát khỏi con người trần tục để phiêu diêu trong thế giới của kí ức, của tưởng tượng và cả những khát vọng. Khát vọng nào thánh thiện thì nhận được sự đồng cảm của người đọc. Khát vọng nào tầm thường thì bị người đọc quăng sách đi.
     Thơ là Thơ, tự nó đã là cái đẹp, một cái đẹp toàn khối được cảm nhận bằng các ấn tượng thẩm mĩ, do đó hình như, nếu ta càng cố gắng kể ra nó đẹp như thế nào thì có khi lại càng làm hỏng thơ. Vì vậy, tôi coi việc bình thơ, điểm qua vài nét về người thơ và làm thơ chỉ là những thú vui cá nhân, hoàn toàn tự nguyện.
     Và đó là một thú vui lương thiện!

Thi sĩ là gì?
     Nhiều người nói vui: “Việt Nam là một cường quốc… thơ!” hoặc “Nước ta là nước thơ (thi quốc)!”…, nghĩa là ai cũng có thể làm thơ, ít thì vài ba bài, nhiều thì dăm bảy tập, in ấn đàng hoàng. Nhưng trong số hàng triệu người làm thơ thì những người “biết làm thơ” có lẽ chiếm tuyệt đại đa số, còn thi sĩ đích thực thì may ra chỉ có một vài. Nói như nhà thơ Phạm Công Trứ là chí lí:
Biết làm thơ chưa hẳn là thi sĩ
Như người yêu khác hẳn với tình nhân

Thứ Bảy, ngày 04 tháng 7 năm 2015

Nguyễn Phan Quế Mai là ai?

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI LÀ AI?

 
 
 
 
 
 
1 Votes

NGUYỄN TRỌNG TẠO
Tôi nhớ, đầu năm 2008 trong khi lướt mạng, tôi dừng lại ở mấy bài thơ trên blog của Nguyễn Phan Quế Mai. Lướt mạng có khi chả dừng lại ở đâu, nhưng hôm đó tôi đã dừng lại, vì tôi thấy một hồn thơ mới chớm.
Quế Mai (áo dài đen) với sinh viên Mỹ.
Tôi cam chắc giới mày râu thật khó mà viết ra câu thơ này: “Những yêu thương chúm chím gửi lên trời”. Khi đọc nó lần đầu tiên, tôi thấy hiện lên chân dung một cô gái đang yêu. Đôi mắt nàng thăm thẳm hướng về phía ngạc nhiên luôn chờ đón, để rồi chầm chậm khép lại làn mi đen láy, lim dim thả hồn vào thơ mộng trời xa. Nàng lắng nghe những câu thơ xao xuyến trẻ trung chao chát ngân lên trong tâm hồn đầy mơ mộng của nàng – những câu thơ “yêu thương chúm chím”… Sau đó tôi đã liên lạc được với Mai, đang ở Đức. Và tôi bất ngờ biết được sức làm việc ghê gớm của Mai. Vừa làm việc cho một tổ chức nước ngoài, vừa đứng đầu một tổ chức từ thiện cho các em nhỏ bị bệnh ung thư, vừa bắt đầu làm thơ.
Tôi khuyến khích Mai tiếp tục làm thơ, và giữa năm 2008, Mai hỏi tôi xem thơ Mai có in thành tập được không? Tôi bảo được, và nhận lời viết bài tựa và làm bìa cho tập thơ đầu tay có tên là “Trái cấm” của Mai. Tập thơ ra đời được đón nhân nồng nhiệt, được nhiều bài khen, được phổ nhạc… và Mai bắt đầu đi vào lối thơ hiện đại mà các bạn thơ trẻ đang ưa chuộng. Chỉ năm sau, Mai cho xuất bản tập thơ “Cởi gió” và đoạt giải thưởng Hội Nhà Văn Hà Nội. Rồi đoạt giải Nhất cuộc thi thơ về đề tài Hà Nội. Cùng lúc đó, Mai cho xuất bản liền 2 tập thơ dịch từ thơ của tôi (Ký ức mắt đen) và Trần Quang Quý (Cánh đồng người) ra tiếng Anh. Chỉ thế thôi, cũng đã đủ để gọi Mai là “người thơ thành công” rồi.
Trình bày bìa: Nguyễn Trọng Tạo. Ảnh: Thái Phiên
Trái cấm – Trình bày bìa: Nguyễn Trọng Tạo. Ảnh: Thái Phiên
Mấy năm nay Mai cùng chồng con định cư ở nước ngoài, tham gia nhiều cuộc giao lưu và giới thiệu thơ VN ra thế giới. Nhưng ở trong nước Mai rất nổi tiếng bởi bài hát “Tổ quốc gọi tên mình” do nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn phổ thơ Mai. Hôm qua, làm giám khảo cho một cuộc liên hoan ca-múa-nhạc tại Hà Nội, tôi thấy bài hát này được nhiều đơn vị dàn dựng khác nhau, liên tục gây xúc động cho người xem. Tháng 7 này, Mai ra mắt tập thơ “Tổ quốc gọi tên mình” với sự hiện diện của tác giả trong sự kiện mang tên “Tiếng gọi” sẽ được tổ chức tại hội trường 203, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, 36 Lý Thường Kiệt, Hà Nội vào 9h sáng thứ 4, ngày 8/7/2015.
Cuối tháng 7.2008 Mai từ Đức về thăm tôi và được tặng sách.
Bức hình kỷ niệm trước căn hộ tập thể của tôi, 2008

Chép từ trang của Nguyễn Trọng Tạo.

HỘI TRÈM ẤT MÙI (2015)

                  


 2 BÀI THƠ VỀ HỘI TRÈM

                                                                                          ĐƯỜNG VĂN


                                             HỘI TRÈM ẤT MÙI (2015)

Cờ thần rũ rượi giàn thiêu,
Ba dân vật vã đợi chiều rước Văn.
Hội khai chài chãi tháng năm:
Rước Nước, mộc dục, giăng giăng lửa hè…

Lên đền, nhón gót qua đê,
Gảnh Đình in bóng chim quê* mấy đàn?!
Ai xa, về lại cố hương,
Mồ hôi đầm áo, chạnh thương hội Trèm.

Bao giờ hội mở mùa xuân?!...
Vang vang ù óe*, trầm trầm gần xa.
Đào hoa đỏ sóng Nhĩ Hà,
Dâng Thánh Ông, Bạch Thánh Bà, Lục Vương.
Chở che Hoàng, Mạc, Thụy Phương,

Điạ linh nhân kiệt, yêu thương trọn đời…

* Một trong những nghi lễ - trò chơi trong Lễ hội Đình Trèm hằng năm: Phóng điểu (thả chim bồ câu đúng giờ ngọ, ngày 15, chính hội, tại sân Gảnh Đình.
·                    Một trong những nghi lễ khi rước Văn, rước Nước, nhằm mô phỏng, tưởng niệm tiếng đội quân của Đức Lý Thánh Ông reo mừng chiến thắng. Tiếng reo qua tấm khăn bằng vải đỏ, bịt khẩu (che miệng) bị chặn lại, phát ra thành tiếng ù óe.

Tả mạc Đình Trèm, bán sách DSHNĐC
Ngày vãn hội. Nắng to, oi bức.
16 – 5 ÂM, 2 – 7 – 2015. ĐV

                            

                                    LỄ HỘI ĐÌNH TRÈM

Nghiêng bóng Gảnh Đình: Tứ trụ oai linh!
Nghi môn ngoại dẫn khách lên Tàu tượng:
Sừng sững một tòa, đầu đao cong dướn,
Ngói vẩy cá trập trùng, tượng, mã đứng ngàn năm…

Thứ Sáu, ngày 03 tháng 7 năm 2015

GHÉT CHUỘT của Nguyễn Bỉnh Khiêm với lời bình Vũ Nho


GHÉT CHUỘT
          Nguyễn Bỉnh Khiêm

Phiên âm chữ Hán

TĂNG THỬ
Duy thiên sinh chưng dân
Bão noãn các hữu dục
Ô hoàng cổ thánh nhân
Giáo dĩ nghệ ngũ cốc
Phụ mẫu ngưỡng tri sự
Thê tử phủ tri dục.
Thạc thử hồ bất nhân!
Thảo thiết tứ âm độc
Nguyên dã hữu cảo miêu
Lẫm dữu vô dư túc
Lao phí nông phu thán,
Cơ tích điền phụ khấp
Dân mệnh vi chí trọng,
Tàng hại hà thái khốc.
Thành xã ỷ vi gian
Thần, nhân oán mãn phúc.
Nhiêu thất nhiêu hạ tâm
Tất thụ thiên hạ lục.
Thị triều tứ nhĩ thi,
Ô, diên trách nhĩ nhục.
Tận sử điêu sái dân
Cộng hưởng thái bình phúc.

Dịch nghĩa
GHÉT CHUỘT
Trời sinh ra dân chúng,
Sự ấm no mọi người đều mong muốn.
Từ xưa các đấng thánh nhân
Dạy dân trồng năm giống lúa
Trên để phụng dưỡng cha mẹ,
Dưới để nuôi nấng vợ con.
Con chuột lớn kia sao mi bất nhân?
Ngấm ngầm ăn vụng ăn trộm.
Ngoài đồng chỉ còn nắm lúa khô,
Trong kho không còn hạt thóc thừa
Người nông dân khó nhọc và than thở
Người điền phụ gầy ốm và khóc lóc.
Tính mệnh của nhân dân rất là quan trọng,
Mi làm hại người ta quá lắm.
Mi chui vào góc thành, ẩn trong hang hốc ở nền xã, núp vào đó để tính mưu gian,
Quỷ thần và nhân dân oán ghét mi chồng chất ở trong bụng.
Mi đã làm mất lòng thiên hạ nhiều,
Tất nhiên bị thiên hạ giết chết.
Đem phơi thây xác mi trong triều và ngoài chợ,
Để cho loài quạ, loài diều hâu nó mổ rỉa thịt mi.
Như thế mới khiến cho dân điêu tàn ốm yếu
Được hưởng hạnh phúc no ấm thời thái bình.

Dịch thơ
GHÉT CHUỘT

Thứ Năm, ngày 02 tháng 7 năm 2015

NHỮNG CON CÁ THÔNG MINH


NHỮNG CON CÁ   THÔNG MINH

Ngày xưa có hai chú cá sống trong một cái ao. Cả hai đều rất thông minh. Thật thế. Chúng thông minh đến nỗi một chú được gọi  là Trí Tuệ Vĩ Đại, còn chú kia là Trí Tuệ Vĩ Đại Nhất.
          Hai chú cá có một người bạn tốt là chú Ếch. Chú Ếch dại khờ nên có tên là Không Trí Tuệ. Hai chú cá thông minh đều yêu mến chú Ếch và đối xử rất thân mật, nhưng chúng thường nói với nhau : “ Chúng mình thông minh biết bao! Còn Không Trí Tuệ ngờ nghệch quá!”. Nhưng Ếch ta chẳng hề mếch lòng. Chú là một chú Ếch rất nhũn nhặn và yêu mến tất cả bạn bè trong ao.
          Một hôm, có mấy người đánh cá đến ao thăm dò khắp xung quanh bờ và xem mặt nước. “ Ở đây nhiều cá lắm” – họ kêu lên “ Mai chúng ta đem lưới đến và bắt sạch . Chúng ta sẽ có thức ăn đánh chén một hoặc hai tuần!”. Ếch và Cá nghe những lời đó nên quyết định triệu tập một cuộc họp. Chúng gọi tất cả Cá và Ếch đến ngồi bàn bạc.
          “ Một vài người đánh cá ngày mai sẽ đến và quăng lưới bắt tất cả chúng ta. Chúng ta phải làm gì?” – Trí Tuệ Vĩ Đại nói.
          “ Tôi sẽ chạy sang ao khác” – Không Trí Tuệ kêu lên.
          - “ Cậu thật là ngờ nghệch! Không có cái ao nào tốt như cái ao này. Chúng ta cứ ở lại đây và sống hạnh phúc!” – Trí Tuệ Vĩ Đại Nhất nói.
          - “ Nhưng những người đánh cá thì sao?” – Không Trí Tuệ hỏi.
          - “ Mai cậu sẽ thấy! – Trí Tuệ Vĩ Đại nói – Chúng ta là những người thông minh, còn những tay đánh cá thì không. Chúng ta sẽ dễ dàng thoát khỏi lưới của họ”.
          Ngày hôm sau, chú Ếch Không Trí Tuệ chạy khỏi ao và trốn vào dưới gốc cây. Những người đánh cá đến, buông lưới rất nhanh trên mặt nước nên tất cả Cá và Ếch đều bị bắt. Sau đó những người đánh cá trút tất cả những gì bắt được  vào giỏ của của họ và mang đi. Không Trí Tuệ chứng kiến hết. Chú nói với vợ của mình : “ Sự thông minh không phải là tất cả, phải vậy không?”


                                      Vũ Nho dịch từ tiếng Anh

Thứ Tư, ngày 01 tháng 7 năm 2015

THƯƠNG QUÊ-TÌNH NGHỆ SĨ


THƯƠNG QUÊ-TÌNH NGHỆ SĨ
                     TRẦN TRUNG

Chạm vào nỗi nhớ
                   Quê-Mình...
Những ngày giông bão
                    Giật mình
                           Càng thương.
                 ***
Đò-Quan tự thuở Tú Xương,
Càng thương Bà Tú
                      Khôn lường
                              Biến thiên...
“Thuyền không bến” về vô biên
Nhớ “Đêm thu”
                    Phổ nỗi niềm Thế Phong.
Nguyễn Bính “Lỡ bước sang ngang”,
Cả khi Nam-Tiến...
                         Vô vàn éo le
“Suối mơ” tình khúc sơn khê
Văn Cao thương nước mới về “Tiến quân...”
Mau nước mắt như Nguyên Hồng
Thương “Thời thơ ấu”...
                         Vắt sang “Sóng gầm”...
Hoàng Chương rời xứ tần ngần
Tình còn vương nợ “Mây” cùng “Thơ say”.
                     ***
Một ngày thương nhớ xứ này
Thương về Nam Định
                          Xưa-Nay
                                      Quê-Mình.
Thương-Quê
                Còn mãi
                           Đinh ninh
Thương Tình-Nghệ-Sĩ
                 Còn Xanh muôn đời
                     ***
Một ngày thương nhớ
                             Đầy vơi...

                         Hà Nội, 22/6/2015.

Thứ Ba, ngày 30 tháng 6 năm 2015

GHI Ở THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ


GHI Ở THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ
                                                     Nguyễn Thị Việt Nga

Những gương mặt sạm đen khói súng
Hiện lên trong nắng ảo mờ
Những ánh mắt bao năm còn khắc khoải
“Có câu này chúng tôi muốn hỏi nhà thơ”

Đất mênh mông, cỏ run mềm từng sợi
Những non tơ từ máu đỏ mà xanh
Mây Thành cổ từ thịt xương mà trắng
Nước Thạch Hãn từ cay đắng mà lành

Những ánh mắt bao năm còn khắc khoải
“Có câu này chúng tôi muốn hỏi nhà thơ”
 Vâng, câu hỏi. Tôi chờ nghe câu hỏi
“Con người đã tìm ra cách gì để sống với nhau chưa?”

Lời bình của Nguyễn Thị Lan
Bài thơ “Ghi ở Thành cổ Quảng Trị” của tác giả Nguyễn Thị Việt Nga nằm trong tập thơ “Ra ngõ ngóng mây” (NXB Văn học, 2012). Có thể đây chưa phải là bài hay nhất của tập thơ, nhưng nó khá tiêu biểu cho giọng thơ của tác giả ở tập thơ này.
“Ghi ở Thành cổ Quảng Trị” như một biên bản ghi lại những điều mắt thấy, tai nghe (trong tâm tưởng) của người làm thơ ở Thành cổ Quảng Trị.
Bắt đầu là khổ một:
Bài thơ gây “sốc” cho độc giả - “cú sốc thẩm mỹ” ngay từ những câu thơ đầu tiên:
“Những gương mặt sạm đen khói súng
Hiện lên trong nắng ảo mờ”
Vong hồn những người lính đã hy sinh ở Thành cổ Quảng Trị “hiện lên trong nắng ảo mờ” với khuôn mặt “sạm đen khói súng”. Họ như vừa bước ra từ chiến trường khói lửa. Trong cõi yên nghỉ vĩnh hằng ấy, cái gì đã khiến các vong hồn phải hiện lên gấp gáp giữa thanh thiên bạch nhật? Hai câu thơ đầu dự báo một cái gì không yên.

Thứ Hai, ngày 29 tháng 6 năm 2015

TÌNH QUA của XUÂN DIỆU với lời bình Vũ Nho

Vũ Nho chủ trang

TÌNH QUA
                               XUÂN DIỆU
Tôi dạo thanh bình giữa phố đông
Tự cười sao chở núi và thông
Về đây áng trở người qua lại
Bỗng lướt ngang tôi một thoáng hồng.
Tâm trí còn kinh trận gió người !
Bốn bề không khí bỗng reo tươi
Một luồng ánh sáng xô qua mặt
Thắm cả đường đi rực cả đời.
Tôi trải yêu thương dưới gót giày,
Ôm chừng bóng lạ giữa mê say.
Lòng buồn lững thững vương sau áo
Bước đẹp mà sao khéo tỏa đây.
Thiên hạ về đâu ? Sao vội đi ?
Bao giờ gặp nữa ?Có tình chi ?
Lòng tôi theo bước người qua ấy,
Cho đến hôm nay vẫn chẳng về

Lời bình của Vũ Nho

Trong bài thơ "đa tình" Xuân Diệu tự giới thiệu mình đã yêu từ khi chưa có tuổi và cả khi chết rồi thi sĩ vẫn còn yêu. Đó chẳng qua là một cách nói để khẳng định cái tôi đa tình cuồng nhiệt.
Giở những trang thơ "Mênh mông như vũ trụ - Đầy khói hương xưa tràn ân ái cũ" ta bắt gặp một Xuân Diệu khao khát tình ái, yêu si mê, yêu điên cuồng, yêu hối hả, yêu vội vã, yêu đến mức phải "riết" phải "ôm", phải "uống" phải "cắn" cho "chếnh choáng", cho "đã đầy" mà vẫn chưa thoả. Thi nhân tự nhận mình là một "Kẻ uống tình yêu dập cả môi".
Mang trái tim chứa cả "một kho  ân ái" nên lúc nào Xuân Diệu cũng dễ dàng chìm đắm vào biển yêu. Có khi chỉ có ngắn ngủi phút giây cũng đủ xao xuyến một đời người :
Một phút gặp thôi là  muôn nỗi nhớ
Vài giây trong khơi mối vạn ngày theo
Trong số những muôn vàn giây phút sống mãnh liệt cho tình yêu của thi nhân, Tình qua tựa như một chứng chỉ đặc biệt để người đọc hiểu thêm Xuân Diệu - một tình nhân.

Chủ Nhật, ngày 28 tháng 6 năm 2015

Bài thơ tình trong ngôi mộ cổ


Bài thơ tình trong ngôi mộ cổ
Hoàng Dân
                                            
Theo Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 361, ra ngày 20.8.2000 thì ngày 6 tháng 10 năm 1998, các nhà Khảo cổ học Trung Quốc tình cờ khai quật được một ngôi mộ "táng kép" ở Thiên Tân, có niên đại khoảng 6000 năm. Ngôi mộ ấy có hai chiếc quan tài đặt liền kề bên nhau. Đó là hai chiếc quan tài được làm bằng loại gỗ cực tốt, cho đến nay vẫn còn toả hương thơm ngan ngát. Hai chiếc quan tài ấy được đậy chung bằng một tấm bia đá lớn, trên tấm bia có những đường hoa văn chạm khắc tinh xảo, đáng chú ý nhất là hình ảnh đôi chim câu gối cánh vào nhau bay về phía trước. Điều khiến các nhà Khảo cổ học đặc biệt kinh ngạc và thú vị là trên tấm bia đá ấy có khắc một bài thơ tứ tuyệt nhan đề Thiên cổ hận, nguyên văn như sau:
Quân sinh ngã vị sinh
Ngã sinh quân dĩ lão
Quân hận ngã sinh trì
Ngã hận quân sinh tảo
            Dịch nghĩa:
Khi chàng ra đời thì thiếp chưa ra đời
Khi thiếp ra đời thì chàng đã già rồi
Chàng thì hận vì thiếp sinh quá muộn
Thiếp thì hận vì chàng sinh quá sớm