Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

NẠN “BÁN ĐỘ” TRONG THƠ






 NẠN “BÁN ĐỘ” TRONG THƠ  
                        Phạm Đức Nhì
 

Từ Bản Nhạc Lệ Đá

Đến thăm thằng bạn ở Houston. Đem lên cho nó mớ cua biển con nhặt ra trong lúc lựa tôm. Với dân thành phố thì đây là món ngon “quý hiếm”. Xay nhuyễn ra, lọc kỹ lại là có vật liệu chính để nấu món bún riêu cua quê hương mà các bà rất thích. Trong khi hai bà đưa nhau đi chợ để mua “đồ phụ tùng” cho món ăn đặc biệt, hai thằng chồng vào phòng Study (1) uống cà phê, nghe nhạc, tán chuyện văn chương. Thằng bạn vào đề ngay:
-           Hôm qua nghe Lệ Đá (nhạc Trần Trịnh, thơ Hà Huyền Chi) tao thấy có đoạn hơi kỳ – nói đúng ra là ‘trớt quớt’ (phát âm kiểu miền nam), định chờ hỏi xem mày có thấy thế không?
-           Đâu, đoạn nào đâu?
-           Phiên khúc thứ 2
Hắn bấm khởi động dàn nhạc đã chuẩn bị sẵn. Tiếng hát Ngọc Lan nhẹ nhàng thánh thót vang lên:

Thuở ấy tôi như con chim lạc đàn
Xoải cánh cô đơn bay trong chiều vàng
Và ước mong sao trời đừng bão tố
Để yêu thương càng nhiều gắn bó
Tháng ngày là men say nguồn thơ

Hắn tắt máy đưa mắt nhìn tôi.
Tôi hỏi lại:

-           Trớt quớt chỗ nào đâu? 
-           Thì đó. “Chim lạc đàn, xoải cánh cô đơn” thì có đếch ai đâu mà “để yêu thương càng nhiều gắn bó”.
-           Mày coi chừng 2 chữ “thuở ấy” nha. Có nó vô ý nghĩa có thể khác biệt nhiều lắm đó, bởi nó sẽ dẫn đến khung thời gian khác.
-           Nhưng ngay cả trong khung cảnh và khung thời gian của “thuở ấy” chăng nữa tao thấy cụm từ “để yêu thương càng nhiều gắn bó” vẫn như bị lạc đường, trớt quớt.

Tôi bảo hắn cho nghe lại lần nữa rồi gật gù đồng tình:

Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2017

Hội Nhà văn Hà Nội tổng kết năm 2017, trao thưởng và kết nạp hội viên mới


Hội Nhà Văn Hà Nội tổng kết, trao thưởng và kết nạp hội viên mới
Sáng 10 tháng 12 tại trụ sở Bảo tàng CM VN 25 Tông Đản, Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức tổng kết năm 2017, trao thưởng, kết nạp hội viên mới.  Mỗi hội viên nhận một lốc lịc đại và 200.000đ. Ghi lại mấy hình ảnh.

                                   Chủ tịch đoàn
                                                 Người dự
                                       Chủ tịch hội, nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ đọc báo cảo
                              Phó chủ tịch hội, nhà thơ Trần Quang Quý đọc báo cáo xét giải


                                                                         Trao giải văn xuôi cho Tô Hải Vân

                                          Trao giải lí luận phê bình cho Phạm Khải

Thứ Bảy, 9 tháng 12, 2017

Xem phim " Cái chết của người chào hàng" của điện ảnh Iran

 Xem phim của điện ảnh Iran
Hôm nay, 9 tháng 12 năm 2017, Ban chủ nhiệm CLB Văn Chương của Hội nhà văn Việt Nam tổ chức cho mọi người xem phim ở 51 Trần Hưng Đạo. Thật tiếc là một bộ phim hay của Điện ảnh Iran, từng đoạt giải kịch bản hay nhất, diễn viên nam xuất sắc nhất ở liên hoan phim Can ( Pháp), từng được bình chọn là phim nước ngoài hay nhất tham dự giải Osca ( Mĩ) nhưng người đến xem không đông ( vì ngày cuối năm quá nhiều việc chăng?) Như anh Lưu Nghiệp Quỳnh, thành viên Ban chủ nhiệm câu lạc bộ giới thiệu: Điện ảnh Iran không có bạo lực, không có cảnh sex, nhưng vẫn làm cho thế giới kinh ngạc và say mê. Bộ phim kể chuyện vợ chồng một giảng viên Đại học dựng kịch " Cái chết của người chào hàng" của nhà viết kịch Mĩ A. Milơ. Trong quá trình dàn dựng vở diễn, họ phải chuyển nhà vì căn nhà cũ bị ảnh hưởng các công trình xây dựng sắp đổ. Căn hộ mới  thuê là của một phụ nữa làm nghề mại dâm. Cô ta có quan hệ với nhiều đàn ông. Cô ta không ở nữa, nhưng mọi đồ đạc chưa dọn đi. Người vợ ở nhà một mình, nhận điện thoại của chồng, nghĩ là anh sắp về, nên không khóa cửa mà vào phòng tắm. Một kẻ lạ mặt đã đột nhập và cưỡng chị ta ngất đi. Hàng xóm nghe tiếng kêu tới thì cô vợ  đã bị  thương . Họ đưa đi cấp cứu. Kẻ đột nhập bỏ lại cả điện thoại, tiền, đôi tất, và ô tô.
Vợ chồng vị giảng viên lại dọn về căn hộ cũ của ngôi nhà sắp đổ.
Người vợ không muốn khai báo với cảnh sát. Người chồng nhờ bố của một sinh viên là cựu cảnh sát điều tra chủ nhân của chiếc ô tô. Câu chuyện dần dần cho thấy chủ nhân của ô tô là một người lớn tuổi, cùng làm với chàng rể tương lai. Cuối cùng người chồng biết được sự thật. Anh gọi vợ, con gái, con rể của kẻ làm nhục vợ mình tới để làm rõ mọi chuyện. Kẻ thủ ác đã van xin và thú nhận  tội lỗi do không kìm nén được. Người vợ can chồng không nên nói chuyện đó với gia đình kẻ thủ ác. Kẻ thủ ác bị bệnh tim đã ngất ngay khi được tha. Bộ phim kết thúc bằng việc xe cấp cứu đến căn nhà. Và cảnh hai người lại hóa trang thành hai nhân vật vợ chồng của vở kịch Mĩ.

                                           Hai nhân vật chính của phim

                                             Nhà văn Lưu Nghiệp Quỳnh thuyết minh
                                      Một góc phòng chiếu
                                                 Người vợ sau tai nạn
                                         Vai người chồng, đoạt giả diễn viên nam xuất sắc nhất ( Hai người đóng vợ chồng trong phim  là vợ chồng thật ngoài đời)

Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2017

Ba bài thơ của E.Evtusenko - Vũ Nho dịch





E. Evtusenko ( Nga)
Vũ Nho dịch
               NGƯỜI BẠN CŨ
Tôi mơ thấy người bạn cũ
                                     giờ đã thành kẻ thù
Nhưng tôi không mơ thấy kẻ thù
                                     mà chính người bạn cũ
Với tôi, chẳng có anh
                                 nhưng anh bây giờ mọi chỗ
Cái đầu trong mơ đâu cũng thấy anh.
Tôi mơ thấy người bạn cũ
                                       tiếng kêu xưng tội bên tường
Trên cầu thang
                         nơi quỷ bẻ chân gãy xương
Sự căm hờn của anh 
                              không chĩa vào tôi, mà vào những kẻ
Đã là kẻ thù của chúng tôi và sắp sửa.
Tôi mơ thấy người bạn cũ
                                      như tình yêu đầu tiên
Và vĩnh viễn không lặp lại.
Chúng tôi đã cùng mạo hiểm, đã cùng chiến hào
Và bây giờ là kẻ thù của nhau
                                             – hai người bạn cũ.
Tôi mơ thấy người bạn cũ
                                      như mơ phấp phới ánh cờ
Như những người lính mơ kết thúc chiến tranh khốn khổ
Tôi không có anh – không là tôi
                                                 anh không có tôi - chẳng là anh
Và nếu chúng tôi là kẻ thù
                                        chẳng phải thời này nữa.
Tôi mơ thấy người bạn cũ
                                        Anh cũng như tôi, thằng ngu
Ai phải ai trái
                        tôi sẽ không giảng giải
Những người bạn mới là chi?
                                               Tốt hơn kẻ thù cũ
Kẻ thù có thể mới
                                còn bạn - bạn thì chỉ cũ mà thôi…
                                                                      1973
                         
VỀ CÁI CHẾT CỦA MỘT NGUYÊN SOÁI
Ông đã chết như một vị nguyên soái, một cách chiến lược
Như một vị nguyên soái, ông mang những trận đánh đi vào cái chết
Và thân thể chiến đấu thảm thê
Giành lấy từng xăng ti mét cuối cùng sự sống

Lũ bệnh tật – xâm lược chiếm được người ông
Nhưng ngay sát cạnh bên cái chết
Những giọt máu không đầu hàng, đánh theo lối du kích
Ở trận này không phản bội ông

Trong lặng im cũng có lời thú nhận
Ông, lần đầu, không nói “Theo tôi!”
Ông rút lui vào cái chết dường như vào những rặng núi xa
Từ đó nhìn rõ trái đất tròn nguyên vẹn.
                                              1980

                    Vũ Nho

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2017

EM - MỘT TÌNH THƠ HAY CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN



EM - MỘT TÌNH THƠ HAY
CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
*
  EM

Ta gạ em cạn chén
Thế là em cạn ta
Nửa đời ta trễ hẹn
Em nồng nàn đốt ta.

Run rẩy, em ghì ta
Quấn vào ta hoang dại
Thẫn người, ta ngây dại
Uống em từng giọt say.

Trời đất như cuồng say
Ngả nghiêng theo nhịp phách
Nửa đời trai trinh bạch
Em nhuộm ta ngả màu.
*.
Hà Nội, đêm 21 tháng 01 năm 2015
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

LỜI BÌNH của Giáp Kiều Hưng
Người ta ví von người phụ nữ như lửa, có thể thiêu đốt cả thành trì, lâu đài, thậm chí cả một vương triều... quả thật không sai. Ở EM, ngọn lửa ấy đã thiêu đốt một thành trì TA “trinh bạch” sừng sững được “nửa đời” người rồi. 

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

Chỉ là mơ thôi





CHỈ LÀ MƠ THÔI
                                  Trần Trung
Chỉ là
Em hỡi
Mơ thôi!
Bình minh mới ló
Rã rời hoàng hôn...
Như nụ hôn tình
Trao vào bỡ ngỡ
Như sông kia bên lở, bên bồi
Con thuyền xa
               Rời bến ngậm ngùi...
Thế thôi.

Bằng lòng nhé Em ơi!
Sẽ có ngày
         Hai Ta gặp lại,
Ta tìm nhau,
Khi đã xa “Cõi tạm”
Dãi dầu.

Ta tìm mơ
Ngày dãi vắt đêm thâu.

                     HÀ NỘI 1/12/2017
                                                          Tác giả Trần Trung

Thứ Hai, 4 tháng 12, 2017

Kỉ niệm mười năm nhà thơ Phạm Tiến Duật đi xa

Kỉ niệm 10 năm nhà thơ Phạm Tiến Duật đi xa

Sáng 4/12 năm 2017, tại Hội trường Hội nhà Văn VN số 9 Nguyễn Đình Chiểu, các nhà văn và người thân của nhà thơ Phạm Tiến Duật đã  tổ chức kỉ niệm 10 năm nhà thơ đi xa.
VN ghi lại một số hình ảnh.

                                  Chánh văn phòng Dương Dương Hảo giới thiệu chương trình

                                      Ban chấp hành và người thân thắp hương

                                          Người dự. Bìa phải là bà Nguyễn Thái Vân, phu nhân của nhà thơ.

ĐỢI ANH, ANH SẼ VỀ...




ĐỢI ANH, ANH SẼ VỀ...
                                                                               Nhà văn BÙI VIỆT THẮNG
Ngày 7-11-2017, Tổng thống Liên bang Nga V. Putin đã ký lệnh viện trợ khẩn cấp 5 triệu USD giúp nhân dân Việt Nam khắc phục hậu quả cơn bão số 12 (Tên quốc tế Damrey). Bốn mươi tấn hàng viện trợ đã đến Cảng Hàng không Quốc tế Cam Ranh vào lúc 0h ngày 9-11-2017. Nhân văn và chung thủy luôn luôn là bản lĩnh và cốt cách ứng xử văn hóa của nhân dân Nga dành cho nhân dân Việt Nam suốt mấy chục năm qua kể từ khi hai nước có quan hệ chính thức. Ai dù chỉ một lần đặt chân đến xứ sở của bạch dương và tuyết trắng đều cảm nhận được một cách sâu sắc: thiên nhiên Nga trác tuyệt, tâm hồn Nga tinh khiết cao thượng, văn hóa Nga vĩ đại. Tác phẩm Đợi anh về (Tuyển thơ Nga về chiến tranh vệ quốc 1941-1945) do NXB Thông tin - Truyền thông ấn hành, vừa ra mắt ngày 3-11-2017 tại Hà Nội, là một sự kiện văn hóa đặc sắc nhân dịp kỷ niệm 100 năm Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại (1917-2017) tại Việt Nam.
NHỮNG DỊCH GIẢ ĐẶC BIỆT
Hai dịch giả Nguyễn Huy Hoàng và Nguyễn Văn Minh đều đã sống ở Liên Xô (trước đây) và Liên bang Nga hơn một phần tư thế kỷ. Cũng bằng một phần ba đời người tính trung bình tuổi thọ cao hiện nay. Nhưng không phải theo cách “sống lâu lên lão làng”. Tôi biết rõ cả hai dịch giả vì họ là những người đồng hương xứ Nghệ vĩ đại, như ai đó thường nói vui mỗi khi gặp nhau. Tiến sỹ Nguyễn Huy Hoàng là một chuyên gia văn học Nga. Ông nghiên cứu chuyên sâu về văn hào Nga thế kỷ XIX – N. Gô-gôn, luận án đã công bố thành sách tại Việt Nam. Ông đặt chân đến nước Nga từ 1992. Vậy là đã 25 năm, nói cho có vẻ dài lâu hơn, đúng một phần tư thế kỷ. Ngày đi tóc còn xanh. Nay đã phơ phơ đầu bạc. Vì bao nỗi niềm đắng cay của đời sống. Một lần nhà văn Bảo Ninh nói một câu mà tôi đã ghi vào sổ tay văn học “nhà văn phải có thân phận thì mới viết được”. Vận vào trường hợp Nguyễn Huy Hoàng tôi thấy vô cùng sát hợp. Ông có cô con gái thông minh, xinh đẹp sinh năm 1980 tại Việt Nam. Nhưng cháu đã mất tích trên bãi biển nghỉ mát nổi tiếng Nga Sô-chi từ 1993. Từ bấy đến nay vợ chồng ông trụ hạng tại Nga, tìm kiếm và mong đợi đón con gái trở về. Cứ âm thầm chịu đựng, tìm kiếm. Lại còn phải kiếm sống vì “cơm áo không đùa với khách thơ”. Lại còn món nợ văn chương nữa. Một phần tư thế kỷ xa xứ, Nguyễn Huy Hoàng “vịn câu thơ đứng dậy”. Hỏi dịch giả Nguyễn Văn Minh đã ởNga bao nhiêu năm? Anh cười “Lâu hơn bác Nguyễn Huy Hoàng nhiều nhiều!” Vậy có thể là ba mươi năm hoặc hơn. Tiếng Nga của hai người này thì như người ta nói “chuẩn không cần chỉnh”. Nhưng quan trọng hơn, tôi nghĩ, là tình yêu nước Nga,văn hóa Nga, văn chương Nga đã thấm nhuần sâu sắc vào tận máu huyết mỗi người,vậy nên mới đủ năng lượng tái tạo và sáng tạo. Mới đủ niềm vui khuyến khích cả hai người đóng cửa ngồi dịch thơ Nga ra tiếng Việt giữa thời buổi thóc cao gạo kém. Rồi còn mang thơ Nga về Việt Nam quảng bá. Đúng là xả thân vì đại nghĩa, vì văn chương, vì nước Nga thân yêu. Thế mà không ít người hoặc bi quan hoặc thiếu thiện ý cứ lâm ly thống thiết “văn chương lâm nguy” (!?).

                                  Bùi Việt Thắng

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

Kỉ niệm 10 năm ngày mất nhà thơ Vũ Cao

 Kỉ niệm 10 năm ngày mất nhà thơ Vũ Cao
Sáng 3 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Hội nhà Văn Việt Nam, số 9 Nguyễn Đình Chiểu đã diễn ra việc kỉ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Vũ Cao.
Ghi lại mấy hình ảnh.

                                 Chánh văn phòng Dương Dương Hảo giới thiệu khách và chương trình

                                           Ban chấp hành và người thân thắp nhang

                                               Nhà thơ Hữu Thỉnh phát biểu

                                                Người dự

Thái độ văn hóa




Thái độ văn hóa

Chép lại từ  trang FB của Hoang Nhan
Giáo sư Trần Văn Khê được mời dự buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản, tổ chức tại Paris (Pháp). Tham dự hầu hết là người Nhật và người Pháp, duy chỉ mình ông là người Việt. Diễn giả hôm đó là một cựu Thủy sư Đề đốc người Pháp đã mở đầu bài thuyết trình bằng câu: “Thưa quý vị, tôi là thủy sư đề đốc đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể.. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy một rừng văn học, trong đó Tanka là một đóa hoa tuyệt đẹp, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm với chỉ 31 âm tiết. Chỉ hai điều này thôi, các nước khác không dễ có được…’".
Lời phát biểu đã chạm đến lòng tự trọng dân tộc của Giáo sư Trần Văn Khê. Khi đến phần giao lưu, ông xin phép đuợc bày tỏ: “Thưa Ông Thủy sư Đề đốc, ông nói rằng ông đã ở Việt Nam cả 20 năm mà không thấy áng văn nào đáng kể.. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên. Chẳng biết khi ngài qua Việt Nam, ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của nước Việt?
Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút xách… Phải chi ngài chơi với giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm 1300 sách báo về văn chương Việt Nam mà giáo sư đã in trên Tạp chí Viễn Đông Bác cổ của Pháp. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông ấy đã cất công sưu tập…Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng vạn áng văn kiệt tác…
Ngài nói trong thơ Tanka, chỉ cần một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm. Tôi chỉ là nhà nghiên cứu âm nhạc nhưng với kiến thức văn chương học thời trung học cũng đủ để trả lời ngài: Việt Nam có câu: “Đêm qua mận mới hỏi đào/Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”. Trai gái thường mượn hoa lá để bày tỏ tình cảm. Còn về số âm tiết, tôi nhớ sử Việt Nam chép rằng ông Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang nhà Nguyên (Trung Quốc) gặp lúc bà phi của vua Nguyên vừa từ trần. Nhà Nguyên muốn thử tài sứ giả nước Việt nên mời đọc điếu văn. Mở bài điếu văn ra chỉ có 4 chữ “nhất”. Mạc Đĩnh Chi không hốt hoảng mà ứng tác đọc liền:
“Thanh thiên nhất đóa vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì nhất phiến nguyệt
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!”
(Một đám mây giữa trời xanh
Một bông tuyết trong lò lửa
Một bông hoa giữa vườn thượng uyển
Một vầng trăng trên mặt nước ao
Than ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!) - tất cả chỉ 29 âm chứ không cần đến 31 âm”.
Khi giáo sư Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt liệt.
Ông thủy sư đề đốc đỏ mặt: “Tôi chỉ biết ông là một nhà âm nhạc nhưng khi nghe ông dẫn giải, tôi biết mình đã sai khi vô tình làm tổn thương giá trị văn chương của dân tộc Việt Nam, tôi xin thành thật xin lỗi ông và xin lỗi cả dân tộc Việt Nam".
Kết thúc buổi nói chuyện, ông Thủy sư lại đến gặp riêng Giáo sư và ngỏ ý mời ông đến nhà dùng cơm để được nghe nhiều hơn về văn hóa Việt Nam. Giáo sư tế nhị từ chối, còn nói người Việt không mạo muội đến dùng cơm ở nhà người lạ. Vị Thủy sư Đề đốc nói: "Vậy là ông chưa tha thứ cho tôi". Giáo sư lại nói: "Có một câu mà tôi không thể dùng tiếng Pháp mà phải dùng tiếng Anh. Đó là: I forgive, but I cannot yet forget (Tạm dịch: Tôi tha thứ, nhưng tôi chưa thể quên)".
 
*Hồi ký Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản tại Paris vào năm 1964

                                                              Giáo sư Trần Văn Khê