Thứ Tư, 22 tháng 2, 2017

PHAN KHÔI VIẾT VỀ NGUYỄN DU VÀ “TRUYỆN KIỀU”






PHAN KHÔI VIẾT VỀ NGUYỄN DU VÀ “TRUYỆN KIỀU” (1955): PHÊ BÌNH “TRUYỆN KIỀU CHÚ GIẢI” CỦA LÊ VĂN HÒE
PHÊ BÌNH TRUYỆN KIỀU CHÚ GIẢI
CỦA LÊ VĂN HÒE


Ông Lê Văn Hòe có xuất bản cuốn Truyện Kiều chú giải ở Hà Nội từ năm 1953, sách khổ lớn, dày 772 trang, là một cuốn sách viết rất có công phu, kỹ càng và đầy đủ, so với loại sách ấy đã ra từ trước đến giờ. Muốn viết bài phê bình nó, tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới dám hạ bút, tức là bài này. Với sự thận trọng ấy, tưởng cũng đủ tỏ một độc giả là tôi, biết quý chuộng và không phụ công lao của tác giả.
Nhan sách là Truyện Kiều chú giải, nhưng mở đầu ra, người chú giải có đánh giá Truyện Kiều. Phần đánh giá chỉ có 2 trang mà thôi, nhưng tôi, tôi lại coi phần ấy là trọng yếu còn hơn 770 trang chú giải kia. Tôi chưa có thì giờ để thảo luận tỉ mỉ về phần chú giải vì nó khí bề bộn quá, cho nên trong bài phê bình này tôi chỉ mới nói trước về phần đánh giá.
***
Dưới cái phó đề Truyện Kiều ở đầu sách, ông Hòe nói Truyện Kiều lấy sự tích ở Phong tình lục, một tiểu thuyết Trung Hoa “chẳng có giá trị gì mấy”, mà nhờ “ngọn bút tài tình của cụ Nguyễn Du đã biến hóa … thành một áng văn chương kiệt tác”.
Ông Hòe nói phải. Tôi hồi trước từng đọc Phong tình lục sách in, và mới đây, năm 1948 lại được đọc bản sách ấy chép tay của một nhà ở Yên Bái, thì thấy quả thật không có giá trị. Có lẽ vì nó không có giá trị cho nên mấy trăm năm nay nó đã tuyệt bản ở Trung Quốc. Đọc cả hai sách đem đối chiếu nhau, thì thấy Truyện Kiều cắt xén xê dịch nguyên văn Phong tình lục rất nhiều. Có những tình tiết ở nguyên văn không có thì thêm vào, hay là ở nguyên văn có rất rườm rà mà bớt đi. Do đó, chúng ta có thể nói Truyện Kiều không phải một tiểu thuyết dịch, cũng không phải phóng tác, mà là hoàn toàn sáng tác. (1)
Tiếp theo đó, ông Hòe tổng luận tánh chất và giá trị Truyện Kiều bằng ba đoạn văn rất gọn nhưng rất dứt khoát mà tôi phải sao lục đúng từng chữ ra đây để làm căn cứ cho sự thảo luận của tôi. Ông viết:
“Tác giả (chỉ Nguyễn Du) hình như muốn mượn Truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo. Tư tưởng ấy giá trị cũng tầm thường và chứng minh cũng chưa đúng xác.
Nhưng giá trị Truyện Kiều không ở tư tưởng đạo đức, luân lý hay triết học, cũng không ở cốt truyện hay bố cục, kết cấu, chi tiết. Cái giá trị tuyệt đối của Truyện Kiều là ở văn chương, ở kỹ thuật miêu tả, tự sự và diễn đạt tình cảm của tác giả.
Người ta tán thưởng Truyện Kiều, người ta học tập Truyện Kiều, là tán thưởng và học tập văn chương Truyện Kiều. Chính phần văn chương đó đã làmTruyện Kiều bất hủ”.
Theo đó, có thể đặt ra ba câu hỏi: 1/ Có phải tác giả muốn mượn Truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo không? 2/ Có phải cái giá trị tuyệt đối của Truyện Kiều là chỉ ở văn chương không? 3/ Có phải người ta tán thưởng học tập Truyện Kiều là chỉ tán thưởng học tập ở văn chương Truyện Kiều mà thôi không? Ba câu hỏi ấy, tôi muốn đảo ngược thứ tự lên, từ thứ ba đến thứ nhất mà giải đáp, tự nhiên thấy sự đánh giá của người chú giải là có đúng được phần nào hay hoàn toàn không đúng.
***

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

CHÙM THƠ TÂN XUÂN





CHÙM THƠ TÂN XUÂN
           
                         Trần Trung

1/NỐI LẠI
Em lặng buồn...đứng mãi gọi mưa
Như Tình-Yêu-bao giờ lành vững ?
Như Đất-Trời cứ xa nhau mãi
Giọt mưa thầm...nối lại mênh mông

2/CHIỀU XUÂN
Chiều xuân giăng mắc mưa bay
Thấm vào nhung nhớ...ngày này năm qua
Vỗ về-Con sóng thiết tha
Vọt trời xanh-mãi mặn mà cùng Ai.

3/CÁNH BƯỚM
Xa xót xuân qua...đã có tình
Hồn xuân rộn rực Gái-Đồng-Trinh
Thời gian lãng đãng lên mầu nhớ
Lại đón Ai về-Cánh bướm xinh


4/TÌM SAY

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2017

TỨ THƠ QUYẾT ĐỊNH BẠI THÀNH

TỨ THƠ QUYẾT ĐỊNH BẠI THÀNH

NGUYỄN VŨ TIỀM - Túi nhà thơ có ba ngăn: Tứ - Từ - Tư đủ quanh năm tiêu xài
                                                                            Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm
“Làm thế nào để có thơ hay”? Câu hỏi của Tập san Văn Hóa Việt (NXB Văn hóa Dân tộc - 2017) số Xuân Kỷ Dậu cũng là câu hỏi muôn đời; nhưng sẽ muôn đời không có câu trả lời thỏa đáng. Bởi “Thơ hay” là thuộc về Thượng Đế, cũng giống như nhân tài, thiên tài, hoa khôi, hoa hậu… Bí mật này ở sau ổ khóa thiên cơ. Mỗi thời hay mỗi người chỉ có thể tiếp cận phần nào mà thôi.
Nhớ lại những năm khó khăn của thế kỷ trước, cánh làm thơ trẻ chúng tôi chả mấy khi có đồng xu dính túi, hàng ngày toàn ăn phở tưởng nhưng vẫn ung dung:
            Túi nhà thơ có ba ngăn
            Tứ - Từ - Tư đủ quanh năm tiêu xài.
Bây giờ ngẫm lại thấy chí lý quá, ba yếu tố cần thiết nhất cho thơ được thể hiện đầy đủ: Tứ: tứ thơ. Từ: từ ngữ. Tư: tư tưởng. Xếp thứ tự ưu tiên cũng rất logic: Tứ thơ là quan trọng hàng đầu.
Tôi hoan nghênh tập san Văn Hóa Việt nêu vấn đề này, ngõ hầu khắc phục tình trạng đáng buồn của thi đàn hiện nay: người làm thơ nhiều hơn người đọc thơ; người in thơ nhiều hơn người mua thơ. (Tất nhiên trong số đó không ít ấn phẩm chỉ “giống như thơ” mà thôi -  Lời của một ủy viên Hội đồng Thơ HNV VN).
            Một bài thơ hay, trước hết ở tứ thơ.

1. Tứ thơ và các yếu tố tạo nên tứ thơ
Tôi từng nghe nhiều nhà thơ nói: Tứ thơ là xương sống của bài thơ, là trụ cột của ngôi nhà thơ. Không sai nhưng không đủ và dễ bị hiểu lầm đồng nhất với “đại ý” của bài, kiểu học sinh phổ thông và tai hại hơn là hiểu xương sống và cột nhà có thể giống nhau, có thể có khuôn mẫu để sản xuất hàng loạt. Đây là tình trạng thơ chạy theo số lượng, viết vội vàng đang rất phổ biến hiện nay.
Theo sách “Đi tìm vẻ đẹp văn chương”, NXB Giáo dục – 2008: “Tứ thơ là một khám phá”. Rất cô đọng và chính xác, yêu cầu trước tiên là phải sáng tạo, mới mẻ và không lặp lại.
Nhiều nhà thơ, nhà phê bình đã từng viết về tầm quan trọng và giải mã về tứ thơ, tôi xin góp thêm.
Quá trình xây dựng, hình thành tứ thơ gọi là cấu tứ. Theo sách “Đi tìm mật mã thơ” (NVT), NXB Hội Nhà văn tái bản 2015: “Cấu tứ là hoạt động tư duy để sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật, đó là cây đời xanh tươi duy nhất do nhà thơ “lai tạo” giữa hình ảnh sống động và ý nghĩa thơ” (tr 77).
Xin nêu một số ví dụ để xem những yếu tố gì tạo nên tứ thơ:

ĐÔI ĐIỀU VỀ "THƠ HAY"





ĐÔI ĐIỀU VỀ "THƠ HAY"

(Viết để chia sẻ tấm lòng cùng bạn thơ Châu Thạch, Nguyễn Bàng, Phạm Đức Nhì)
                                   Nguyễn Khôi


 Xưa nay trong các cuộc Thảo luận/ tranh luận về Thơ...đều nhằm mục đích tìm  (phát hiện) ra "Thơ hay" và loại bỏ "Thơ dở".

  Vậy Thơ chỉ có 1 tiêu chuẩn 1 chữ  là HAY hoặc DỞ mà thôi.

  Thơ là tuyệt đỉnh của văn chương vì Thơ ít chữ nhưng nói được nhiều hơn văn xuôi. Thông qua tư duy, người ta đạt đến Nghệ thuật và khoa học; nhưng với Thi ca thì không như vậy, bởi vì Thơ là ngẫu hứng (là tài hoa mà Thi nhân phát tiết ra).

  Một tác phẩm Thi ca càng độc nhất vô nhị và khó nắm bắt đối với trí tuệ bao nhiêu thì lại càng hay đến bấy nhiêu. Ở Đức, Thơ là chốn ẩn mình của những Tác giả có tài và bất tài, song đều chung nhau ở một điểm là ít dính dáng đến trí tuệ (nói theo Thi hào Goethe). Còn theo Heine thì "Thơ ca là căn bệnh lạ kỳ, căn bệnh đẹp nhất của nhân loại " ; chả thế mà Chế Lan Viên cũng nói "Thi sĩ không phải là người (bình thường), nó là Người Mơ,Người Say, người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ"; còn nói văn vẻ như Tchékov (Nga) thì "các thiên tài của tất cả các thời đại và các nước nói bằng các thứ tiếng khác nhau, nhưng trong các thứ tiếng ấy có cùng một ngọn lửa cháy".
               Tác giả Nguyễn Khôi

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2017

QUÀ TẾT XUÂN ĐINH DẬU




QUÀ TẾT XUÂN ĐINH DẬU

ĐƯỜNG VĂN

Cảo thơm lần giở trước đèn!
(Nguyễn Du)

Chiều 30 tháng chạp,
đọc – ngẫm Thơ bạn thơ*,
Vườn 5 nhà* bung nở
cùng Chém gió muôn màu*

Quà Tết - xuân Đinh Dậu
phập phồng gió phương Nam;
Câu từng câu hây hẩy
Tình Đời chan chứa chan!...

Tình Xuân thật đượm đà!
Từ ái, quá vô tư!
Gần xa, cho – tặng – biếu,
Thơm thảo, triệu lòng Nhân

Kim kê gáy rền rền,
vang khắp non nước Việt,
qua Á – Mỹ - Phi - Âu…
Tình Thơ không biên giới!

Ca Nàng Thơ Phương Liên,
ngợi Chàng Văn Nguyên Bảy:
Kỳ nhân – ngời Tuệ - Tâm!
Hạnh phúc tràn Tân Xuân!



Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2017

Ngưỡng cửa




                                       Nhà thơ Vũ Quần Phương
Ngưỡng cửa
       Vũ Quần Phương
Nơi này ai cũng quen
Ngay từ thời tấm bé
Khi tay bà, tay mẹ
Còn dắt vòng đi men
Nơi bố mẹ ngày đêm
Lúc nào qua cũng vội
Nơi bạn bè chạy tới
Thường lúc nào cũng vui
Nơi này đã đưa tôi
Buổi đầu tiên đến lớp
Nay con đường xa tắp
Vẫn đang chờ tôi đi

Lời bình của Vũ Nho
Trong kiến trúc của ngôi nhà  truyền thống  tre hay gỗ của Việt Nam, nhà có cửa và bao giờ cũng có cái ngưỡng cửa để ngăn cách phần thềm nhà với lòng nhà, nghĩa là ngăn cách phía bên trong và bên ngoài. Ngày ngày, các thành viên trong nhà đều nhiều lần qua cãi ngưỡng cửa đó để đi làm, đi chơi và về nhà đi ngủ. Ngay từ bé thơ,  trẻ em đã được  người lớn “dắt vòng đi men” cái vật thân thuộc đó. Vì vậy mà ai cũng quen. Bố mẹ là lao động chính trong nhà thì qua đó  lúc nào cũng vội. Đó là cách nói ẩn dụ về sự vất vả, bươn chải của người lao động. Còn trẻ em, bạn bè cùng  trang lứa thì đến với nhau, bước qua ngưỡng cửa vào nhà, hoặc là ngồi chính ngay trên ngưỡng cửa mà trò chuyện, nghịch ngợm thì thường lúc nào cũng vui. Thường lúc nào cũng vui là vì thi thoảng cũng có lúc bất thường, không vui, ấy là khi xích mích hoặc cãi vã…
          Nhưng điều quan trọng nhất mà tác giả muốn nhắc đến chính là cái ngưỡng cửa ấy là nơi xuất phát những bước đi đầu tiên trên con đường học hành, thu lượm học vấn để thành người. Cái con đường xa tắp ấy đang chờ bạn nhỏ bước tiếp những bước quan trọng. Cái ngưỡng cửa  ngôi nhà ấy cũng là nơi xuất phát để bước vào ngưỡng cửa cuộc sống. Vì vậy mà ngưỡng cửa còn có tính chất tượng trưng. Dù đi đâu, làm gì, thành đạt đến bao nhiêu chăng nữa thì mỗi người đều nhớ lại những bước đi đầu tiên từ “ngưỡng cửa” của nhà mình. Đó cũng là  điều nhắn gửi  thầm của tác giả bài thơ.
                                                          Tháng 12 năm 2016

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

Vương Trọng đánh giá Thúy Vân






“THI CA ƠI, NGƯƠI PHÙ PHIẾM VÔ NGẦN” HAY
“PHIẾM ĐÀM VỀ CÔ EM THÚY VÂN”


“Cô em” là gọi một cách dân dã, pha chút suồng sã cho có vẻ thân mật, chứ sự thực nàng sống cùng thời với cụ tổ chín đời của Đại thi hào Nguyễn Du, xấp xỉ với cụ tổ mười lăm đời của người viết bài này. Nhưng nàng vẫn trẻ, mở đầu Truyện Kiều đi chơi hội đạp thanh thì mới tuổi “cặp kê”, tức khoảng mười lăm, mười sáu tuổi; cuối Truyện Kiều, trong buổi đoàn viên thì cộng thêm 15 năm nữa, tức là mới ngoài ba mươi, nếu sống thời nay ở nước ta thì đang tuổi sinh hoạt Đoàn!
Mặc dù nhan sắc có thua người chị, nhưng cô em này vẫn đẹp, đẹp một cách khỏe mạnh. Này nhé: mặt tròn, tóc dày mượt, da trắng là điều không ai tranh cãi, chỉ riêng chuyện thân thể nở nang hay nét mày rậm rạp thì các nhà Kiều học xưa nay tranh cãi bất phân thắng bại, giống như chuyện cào cào châu chấu hay tôm và tép. Tôi thì vẫn tin chữ “ngài” là tiếng Nghệ Tĩnh, người phản đối nói rằng trong chữ Nôm, chữ ngài ấy có “bộ trùng”, nên phải là con ngài tằm…nhưng xem ra cũng chưa hẳn thuyết phục, vì bản Kiều Nôm đó có thể do một nhà Nho quê Bắc chép, họ không hiểu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, nên tin là chỉ con ngài tằm, thì phải viết như thế, mặc dù họ cũng thấy khó giải thích tại sao tính từ “nở nang” lại dùng để chỉ nét lông mày! Nhưng mà thôi, dù hiểu thế nào đi nữa, thì cô em này vẫn là cô gái khỏe mạnh. Đó là điều đáng mừng, dù nhan sắc không bằng chị. Mặc dù cụ Nguyễn Du nói chị Kiều tài hơn em, Kiều tài thì đúng rồi, nhưng đọc thế cứ nghĩ là cô em cũng có chút tài, dù không bằng chị, nhưng đọc đến nát Truyện Kiều ra, chả tìm được chút tài nào của cô em này cả! Đúng là “cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, tính Vân dường như ngược lại với tính Kiều: chị nhạy cảm, tinh tế, thương người…; em không hề cảm xúc trước câu chuyện đau buồn của người khác. Cùng nghe Vương Quan kể chuyện về Đạm Tiên, chị thì “mê mẩn tâm thần”, “ủ dột nét hoa”…, hết tìm hương thắp khấn vái lại đề thơ nói nỗi lòng mình rồi khắc lên gốc cây “bốn câu ba vần”, còn bản thân chị thì “sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài”. Cô em Thúy Vân “bình chân như vại”, không làm bất cứ một việc gì, chỉ nói một câu, đó là trách chị: “Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”, thì thật là gỗ đá chứ còn đâu là người nữa!

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

CÁI CHI CHI...



                  

 
CÁI CHI CHI...
                                  Trần Trung

Thế là Tết đến. Thế rồi đi.
Ngân vang Đinh Dậu-Gáy...Một khi,
Đất trời sóng sánh
                         Như men rượu
Xuân dâng sóng mắt gái đương thì...
                       ***
Thì đến
Thì đi...
Rồi lại đến
Bất tận xuân tình-Cái chi chi...

                Hà Nội,31/1/2017
               (Tức mồng bốn Tết Đinh Dậu).

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017

MỘT TÀI LIỆU MỚI TÌM THẤY VỀ BÌNH PHẨM TRUYỆN KIỀU







MỘT TÀI LIỆU MỚI TÌM THẤY
VỀ BÌNH PHẨM TRUYỆN KIỀU
Nhân đọc lại báo “Tiếng dân” (Huế, 1927-1943) để tìm một vài tài liệu, tôi thấy có bài sau đây, nói về việc cụ Thai Sơn Đặng Nguyên Cẩn (1866-1923) bình phẩm Truyện Kiều.
Sáng tác và trứ thuật của cụ Thai Sơn mới chỉ được thấy trích trong cuốn “Thi tù tùng thoại” (1939) của Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng, hoặc “Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX”  (1961) của Đặng Thai Mai (học giả Đặng Thai Mai chính là con trai cụ Thai Sơn).
Điều hơi ngạc nhiên là thời gian trước đây, dù giới nghiên cứu đã chú ý khảo sát lịch sử việc biên khảo và bình luận Truyện Kiều, song tài liệu này vẫn chưa hề được tìm ra và ghi nhận.
Bài này không phải do đích thân cụ Thai Sơn viết ra, chỉ là do một học trò của cụ là Tùng Ngư (đây là tự hoặc hiệu, chưa rõ họ tên thật) hỏi chuyện cụ, nghe cụ giảng giải thuyết minh rồi về nhà nhớ ra mà ghi lại. Tuy vậy, có thể tin rằng bài này đã ghi được một số nét thuộc quan niệm của cụ Thai Sơn về Truyện Kiều. Nếu các nhà nho ở ta xưa thường hay bàn về phương diện thơ ca của tác phẩm Truyện Kiều, thì trong buổi trò chuyện với anh học trò đã thuộc về thời đại chữ quốc ngữ này, cụ Thai Sơn lại đề cập một phương diện mà thường khi không phải sở trường nhà nho, − phương diện nghệ thuật tự sự. Cụ gọi là “văn pháp” Truyện Kiều, phiên sang hệ thuật ngữ hiện đại, có lẽ cần phải gọi là “thi pháp” hoặc “nghệ thuật” Truyện Kiều. Thiết nghĩ, những điều cụ Thai Sơn nhận xét về “văn pháp” (hay là nghệ thuật) Truyện Kiều, trong tài liệu này, đương nhiên không còn gì mới so với các quan niệm nghiên cứu của tự sự học ngày nay, song chính những luận bàn của cụ, do một học trò cụ ghi lại, cách nay 80 năm, lại cho thấy điều người ta ít biết, ít có tài liệu, ấy là quan niệm về văn tự sự ở giới nhà nho, thông qua một trong những nhà nho được xem là uyên bác và rất có ảnh hưởng trong giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX.
Để hoàn thành bản đánh máy tài liệu đăng báo này, nhất là các đoạn có chữ Hán, tôi đã được sự giúp đỡ của GS. Trần Đình Sử, của TS. Phạm Văn Ánh. Nhân đây xin tỏ lời cảm ơn.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
5/7/2015
LẠI NGUYÊN ÂN



VĂN PHÁP TRUYỆN KIỀU
TRONG CON MẮT CỤ THAI SƠN ĐẶNG NGUYÊN CẨN

Lâu nay kể chuyện mấy nhà tiên thời nhân vật thường hay nhắc đến các cụ Tập Xuyên, Mai Sơn, Hải Ngư, v.v. mà có một nhân vật rất quan hệ rất ảnh hưởng trong khoảng tân cựu giao thời, bạn thiết với cụ Sào Nam, cụ Tây Hồ, không chỉ là bạn, tự hai cụ Phan còn xem như bậc thầy, mà ít kẻ thuật đến.
Ấy là cụ Thai Sơn Đặng Nguyên Cẩn.
Cụ Thai Sơn, một nhà lão học trứ danh đất Nghệ, đỗ Phó bảng năm 1895 (Ất Vị), làm quan đến Đốc học Nghệ, đổi vào Bình Thuận. Năm 1908, cuộc dân biến, vì học trò cụ nhiều người cổ động tân học và có người em xuất dương nên cụ bị đày ra Côn Lôn; năm 1921 được tha về, vài năm sau thì cụ mất.
Đời cụ, nói Hán học thì uyên bác lão luyện, mà nói tân học thì mở mang phong khí lúc đầu tiên, nhứt là truyền bá học thuyết Khương, Lương cùng cách giáo dục Phúc-trạch Dụ-cát của người Nhật, thì cụ có công rất nhiều. Trong đám Hán học mà có tân tư tưởng, tưởng không ai không biết đến cụ.
Văn chữ Hán cụ có lưu truyền nhiều, điển nhã thâm thúy, thoát hẳn lối sáo thường, mà văn quốc ngữ cũng già dặn.

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

Chùm thơ Nguyễn Khôi





Chùm thơ Nguyễn Khôi

*1- THĂM WONDERLAND (Malaysia)    
   nhớ mùa đông nước Nga

(Viết theo yêu cầu của Đ/c Đại sứ từng học bên Nga)
                         
Thăm Wonderland qua miền tuyết phủ (1)
Lại nhớ mùa đông ở nước Nga
Mái nhà gỗ sơn xanh, nhen lửa
Xa mô va ấm tỏa khói mờ...
                  *
Ôi Liên Xô một thời để nhớ
Mùa thu vàng rực rỡ hồn ai
Lê Nin đứng ngã tư chỉ lối
Sông Volga cuộn tới chân trời.
                   *
Chiều nào đó rừng Phong lá đỏ
Sông Nê va ta đứng một mình
- Ngắm lịch sử thăng trầm thế sự
Đêm trăng vui tới tận bình minh.
                   *
Ôi Mã Lai miền rừng nhiệt đới
Người ta giàu làm Tuyết để chơi
Quê hương ta đang vào mùa rét
Lại thương người còn áo rách vai.
----
(1) khu vui chơi , giải trí
      Kuala Lumpur 25/11/199
trích "Gửi Mường Bản xa xăm" 1998

*2- NHỚ VỀ QUÊ CỌ
           
"Ai đó vừa đi ngang đồi Cọ
Nón trắng còn vương vệt nắng vàng
Áo tím thoảng riêng một mùi nhớ
Để mình lên đồi Cọ lang thang..."