Chủ Nhật, ngày 20 tháng 4 năm 2014

KHÔNG PHẢI TÌNH CỜ






KHÔNG PHẢI TÌNH CỜ
Tặng PL
ĐƯỜNG VĂN

Tào lao
nửa buổi,
Chẳng vơi
nửa ly buồn!

Đàn hát tràn
nửa tiếng,
càng… điếng
 cô đơn!

Cô đơn!
Cô đơn!
Biết làm gì hơn?
Tri âm đâu tá mà tri ngộ?
Khẽ rung giọt đàn…

Đàn ai ẩn phía vầng trăng?
Tiếng ai mờ khuất cuối làng?
Mênh mang sông vắng,
Gọi mời
San sẻ
chút bâng khuâng!

Ngậm ngùi:
Lời ru cỏ non!
cò trắng vút bay,
Hoa cải lên trời,
cây chi ở lại?
Ôi! quê tôi!
Hô… hà… hê!
Nhức nhối.
Thình thình trống gọi,
tình tình…
chênh chao!(*)

Trở về ấu thơ,
tắm ngọn sông Đào
Nôn nao, đắng, chát,
hanh hao một mình!

Chiều âm u, thu 26 - 8 – 2011
Sửa 4 – 4 - 2014

(*). Nhan đề và trích lời các ca khúc:
- Lời ru cỏ non (Nhạc Hữu Ước, thơ Nguyễn Thị Kim Châu; Thái Bảo hát);
- Con cò -  Lưu Hà An; Tùng Dương hát;
- Quê nhà – Trần Tiến;  Tùng Dương hát;
- Ôi! Quê tôi! – Lê Minh Sơn; Tùng Dương hát.

Thứ Bảy, ngày 19 tháng 4 năm 2014

VỀ THANH MINH



                   


 VỀ THANH MINH
                         Trần Năng Tĩnh

1/Năm nay, tôi về Quê-Nam Định đúng ngày Thanh minh( mùng sáu tháng ba-Giáp Ngọ). Định xong việc sẽ quay lên Hà Nội trong ngày.Nhưng rồi tôi lại thay đổi kế hoạch, sẽ ở lại Thành Nam của mình một đêm.
  Về đến Nam Định là tôi lo ngay tới việc hương khói và làm chu đáo cho quang quẻ, sạch sẽ mộ phần của ông bà Nội tôi bên làng Nam Vân (bên kia bến Đò Quan, nay đã là một Phường thuộc Thành phố).Sau đấy, lại quay sang hai nghĩa trang phía đầu Thành phố, có cái tên rất ấn tượng: nghĩa trang
Hoa Đồng và Cánh Phượng.Nơi ấy mẹ và vợ tôi đã nằm lại...
   Cũng thật may, buổi sáng hôm tôi về Quê để làm công việc phong tục-lễ nghĩa ấy, trời đất lại quang quẻ trở lại sau những ngày mưa dầm dề, sũng xịu.
  Cảm giác thanh thản, nhẹ nhõm và an tâm khi đã làm xong việc phải làm-nhất là lại đúng ngày Thanh minh.Thế là,còn cả buổi chiều và tối với Thành Nam của tôi. Với bạn bè tôi. Với những kỉ niệm một thời dài mà sống mãi trong tôi.

  Tôi  gọi điện cho mấy ông bạn vàng.Báo tin mình về Quê và hẹn các ông ấy chiều tối đến Ngõ Văn Nhân (ngõ phố có từ thời cụ Tú Xương-nơi gặp gỡ các Sĩ tử, Văn nhân Thành Nam một thời).Chả là, ngõ phố có cái tên rất sang trọng ấy, đến thời chúng tôi lại có một hàng phở, đặc biệt là món nạm bò ngon lại rẻ. Quả là phù hợp với mấy ông bạn nhà giáo, nhà báo, nhà thơ hàng Tỉnh như chúng tôi.
  Chiều ấy, phải còn hơn một tiếng mới đến giờ hẹn.Tôi mượn chiếc xe đạp của chú em rể, nói là đi quanh rong phố mặc cho ông em cứ nài nỉ: sao anh không lấy xe máy mà đi cho đỡ vất vả.Thật ra, tôi muốn thưởng ngoạn lại và những mong tìm lại dấu của Thành-Nam-Xưa.

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 4 năm 2014

TIẾU LÂM GABROVO 26 ( TIẾP)







TIẾU LÂM GABROVO 26 ( TIẾP)

KẺ TIÊU HOANG
Một chủ tiệm tạp hóa người Gabrovo than phiền về con trai mình với ông bán thịt láng giềng.
          - Tôi biết chắc rằng nó sẽ chẳng nên người! Hôm qua họ nhìn thấy nó ở nhà hàng. Nó gọi món thịt dần những hai lần! Mà bác hãy xem bao nhiêu là thịt dần tôi sẽ mua ở bác cũng bằng ngần ấy số tiền!...

VỊ KHÁCH HỒN NHIÊN
Vị linh mục người Gabrovo rất keo kiệt, không thích đãi khách. Nhưng dẫu sao, một thời gian, ông cũng phải thu xếp cái gọi là ăn trưa, như là một nhu cầu tinh thần.
          Các vị khách được mời kéo đến. Vợ linh mục bắt đầu bày bàn ăn. Bà đặt một cái đĩa sâu lòng đựng thức ăn trước mặt linh mục, còn mình thì đi vào bếp và khua bát đĩa lanh canh. Trong khi bà vợ lúi húi ở đó, linh mục ăn rất nhanh suất của mình. Sau khi lấy khăn lau tay, nâng kính lên mũi, linh mục hô lên:
          - Linh mục đã no, vợ linh mục cũng no! Ơn Chúa...Bà linh mục hãy dọn bàn đi!
Sự việc cứ diễn ra như thế và không ai có thể khoe rằng mình đã kịp ăn chút gì đó trong bữa trưa ở nhà linh mục.
Nhưng có một lần, có một vị khách hồn nhiên đến nhà linh mục. Người ta mời ông ngồi vào bàn ăn. Vợ linh mục như thường lệ đặt đĩa thức ăn trước mặt linh mục. Linh mục chưa kịp cầm thìa thì vị khách đã ngăn lại:
          - Gượm đã, thưa cha! Cha quên chưa cảm tạ đấng tối cao và làm dấu thánh!
          Linh mục đặt thìa xuống bàn, đưa tay lên để làm dấu thánh. Còn trong khoảnh khắc ấy, vị khách kéo đĩa thức ăn về mình và bắt đầu ăn.
          Khi vợ linh mục quay lại phòng, vị khách đã làm nhẵn đĩa thức ăn; còn linh mục, theo thói quen, cằn nhằn một cách giận dữ:
          - Linh mục đã no, bà linh mục đã no...
          - Nhầm tồi, thưa cha – Khách ngắt lời – Cần phải nói rằng ...Khách đã no, bà linh mục đã no...
Và ông khách đưa cho bà linh mục chiếc đĩa không.

CHỖ HẸP
Trước đây, trong xưởng may hợp tác xã chỉ có một người thợ cắt. Ông ta không thể nào làm kịp việc cho tất cả các thợ khâu. Bởi vậy người ta gọi ông ta là “cái chỗ hẹp”. Trong khi đó, phòng cắt cũng chật hẹp...
Nhưng khi nói về hạch toán kinh tế, về các kế hoạch ứng phó, trong phòng cắt, dù có chật chội thế nào, người ta cũng đặt một cái bàn để cho một người thợ nữa. Họ dồn cả việc thợ khâu cho hai người.
          - Cái anh thanh niên cùng làm với bác là ai thế? – Những bạn hàng hỏi người thợ cắt, khi họ rẽ phào phòng.
          - Sao lại là ai? – Ông ta đáp- Đấy là kế hoạch ứng phó chứ!

ĐỒNG TIỀN VÀNG
Một thương gia buôn chuyến sống ở thành phố Elena thường xuyên đi vào Gabrovo bằng xe ngựa tải chất đầy các hàng hóa khác nhau. Nhà hàng này thì ông  đưa hàng cho chịu, nhà khác thì thanh toán tiền mặt. Điều đó phụ thuộc vào tình trạng tài chính của họ. Một ngày nọ, một anh Gabrovo mới buôn bán yêu cầu thương gia cho anh mua chịu. Thương gia mặc dù chưa có niềm tin cậy với người sắp cộng tác với mình mà không có vốn, dẫu sao, cũng quyết định mạo hiểm. Anh Gabrovo chứng tỏ với thương gia rằng mình là người đáng tin cậy. Thương gia giao hàng hóa cho anh ta. Qua một thời gian, thương gia lại tới Gabrovo và rẽ vào nhà hàng của anh chàng nọ xem công việc tiến triển ra sao và lấy số tiền phải trả của anh ta.
          Anh Gabrovo dẫn thương gia về nhà, khoản đãi cà phê, sau đó rút trong túi ra cuốn sổ ghi chép tất cả các khoản thu chi. Đúng lúc đó, trong cuốn sổ rơi ra đồng mười leva ( đồng tiền vàng) và nó lăn trên sàn. Đứa con trai bé của chủ nhà nhặt lên:
          - Bố ơi, bố ơi! Con tìm được tiền này ! – Đứa bé thốt lên.
          - Chuyện vặt! – Ông bố phẩy tay – Hãy mang nó vào cửa hàng cho mẹ, cứ để cho mẹ đặt nó vào chỗ những đồng vàng khác. Còn con vì có công nhặt được nó, hãy để mẹ cho con tờ 5 đồng , con đi mua kẹo ca ra men!
          Chú bé vui sướng và nhảy chân sáo ra cửa. Còn vị chủ nợ mỉm cười, vui vẻ nói với chủ nhân:
          - Hãy hoãn món nợ lại, lần sau anh sẽ trả. Tôi thấy anh đã có khả năng thanh toán nếu anh có nhiều đồng tiền rơi xuống sàn!...Anh đã diễn như phải diễn. Còn tôi thì vui vì rằng tôi nhớ lại thời trước, tôi cũng diễn vở hài kịch với đồng tiền vàng, trước một công dân đồng hương của mình.

Vũ Nho dịch
Còn tiếp

Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014

LƯU LẠI TÌNH DÂN



              

                                                              Tác gỉa Đức Ninh và dịch giả Thúy Toàn (áo xanh)
 LƯU LẠI TÌNH DÂN
Đến ĐỀN HÙNG thắp một tâm nhang
Về với tổ tiên LẠC HỒNG ân đức !
Mười tám đời VUA HÙNG dựng nước
Xuống biển,lên rừng mở cõi VĂN LANG
Ôi liêng thiêng đất Việt-HY CƯƠNG
Núi  NGHĨA LĨNH muôn dân về nơi ấy
Những kiều bào ước mơ bỏng cháy
Được về nguồn,bái lạy HÙNG VƯƠNG
Thấm đượm tình quê,làn điệu hát XOAN
Chày THẬM  THÌNH lửa đêm càng ân ái
Đời một lần đến đây chiêm bái
VUA về trời,vẫn  lưu lại tình DÂN
                                   Ngày 4/3/2014
                               Nguyễn Đức Ninh

Thứ Tư, ngày 16 tháng 4 năm 2014

QUEN MÀ LẠ TRONG “NỞ MUỘN”





                                                                  Nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu

QUEN MÀ LẠ TRONG “NỞ MUỘN”

          Về tập thơ “Nở muộn” của Lưu Thị Bạch Liễu, nhà xuất bản Lao Động, 2013

                                               Vũ Nho

Sau tập thơ “Sông Cầu đang chảy đâu đây” năm 2009, mãi đến năm 2013, Lưu Thị Bạch Liễu mới cho in tập thơ “Nở muộn” mỏng mảnh chỉ có 26 bài thơ được chia thành hai phần với nhan đề mỗi phần khá gợi : “Đợi em về đỏ”  và  “Rùng rùng bóng lá”. Thật ra, khi đặt nhan đề này tôi có chút cân nhắc băn khoăn. “Quen mà lạ”  hoặc “Lạ mà quen”? Hai vế đó cân bằng, nhưng hình như vẫn có sự khác biệt khi vế nào đặt trước, đặt sau. Và  trực giác  cùng với ấn tượng mách bảo tôi : quen mà lạ. Bởi vì vẫn tác giả tôi đã biết, vẫn những đề tài quen thuộc, cả thi tứ, thi ảnh cũng quen, nhưng đọc vẫn thấy khang khác, vẫn thấy lạ.  Và lạ  chính là ấn tượng đọng lại cuối cùng chứ không phải đầu tiên.

Vì tác giả đã không ngừng tìm tòi để đổi mới mình.

Một trong những nét mà hầu như trong hai tập thơ trước người đọc đã quen là cảnh sắc miền núi trong thơ của Bạch Liễu. Đó là dòng sông Cầu hay chỉ là một dòng sông không tên, là bản làng với mái cọ, với nhà sàn, cầu thang, là  vùng trời Hà Giang hay ngọn núi ở Na Hang. Thì đây, vẫn là cảnh sắc vùng núi phía Bắc nhưng vừa cụ thể như Quản Bạ :

Chiều Quản Bạ


Tiếng chim kêu trĩu rừng cây


Trên những mái nhà


Sương đang bay

          Qua cổng trời 2

Đồng thời lại như mơ hồ, không rõ của nơi nào, chỉ biết là vùng cao. Bảo là Bắc Kạn cũng đúng, Hà Giang không sai, Cao Bằng hay Lạng Sơn, Sơn La đều được :

          Gió bắt đầu nức mùi cá nướng


          Mưa thỏa thuê trên hồ rộng


                            Những người đàn bà

          Rì rầm

          Phố chợ

          Bán mua

          Mắt bừng má đỏ

          Rực men rượu ngô

                       Qua cổng trời 3

Thứ Ba, ngày 15 tháng 4 năm 2014

TÂM SỰ


              
 
Chùm thơ Nguyễn Khôi
 
TÂM SỰ
       (Tặng : LXQ & BNN)
                    ------
*1-           NỖI ĐỜI
Trẻ cùng Đồng Chí theo lý tưởng
Lên tới đỉnh cao...thấy cũng "thường"
Xe sang, biệt thự...không bè bạn
Vái  trời Mai Dịch nỗi cô đơn ? (1)
----
(1) Tên gắn "biển đường" : bao Cụ sướng
       Táng vào Mai Dịch : lắm anh mơ...
*2-          ĐỜI THỰC
 Xông ra đạn lửa không sợ chết
Vướng vào chức tước bết  tham lam
Đường thẳng bẻ cong mà chiếm đất
Tầm thường chung sống với vinh quang.
*3-           KHÓ NÓI
Cháu hỏi bao điều  ?  không giải nổi
Bao cái đời thường cứ lòng vòng
-"Thầy thuốc- mẹ hiền" ai cũng nói
"không tiền" vào Viện...chớ mà "mong"...
*4-            LÀ HOA
Sống cũng chẳng ham. Chết tất nhiên
Tình như Hoa nở góc công viên
Lũ em bắt Bướm, quên, xéo nát
Vương chút hương thầm gót chân em.
               Hà Nội 10-3-Giáp Ngọ (2014)

Thứ Hai, ngày 14 tháng 4 năm 2014

ĐỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC MẠC ĐĂNG DUNG CỦA NGUYỄN HIẾU




                                 Đường Văn

 ĐỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC

MẠC ĐĂNG DUNG

CỦA NGUYỄN HIẾU
ĐƯỜNG VĂN

          Song song với những thành tựu về tiểu thuyết (hơn 20 cuốn), Nguyễn Hiếu – nhà văn làng Chiện - còn gặt hái được những mùa màng bội thu ở thể loại kịch – kịch bản văn học (hơn 10 vở). Về kịch lịch sử, sau Chu Văn An (Thầy Chu, 2009) - Huy chương vàng Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp các tỉnh phía Bắc, năm 2013), chưa đầy nửa năm sau, với sức sáng tạo vẫn đang hết sức dồi dào, sung mãn của nhà văn tuổi ngoại nhi nhĩ thuận (67), cuối xuân năm Giáp Ngọ (2014), Nguyễn Hiếu đã hoàn thành bản thảo vở kịch lịch sử mới: Mạc Đăng Dung (phụ đề: Này Lịch sử! Chảy đi!) gồm 14 lớp - cảnh lớn nhỏ, mà mới đọc trên văn bản, tôi đã cảm nhận rõ ràng không ít những cố gắng cách tân, làm mới táo bạo trên cả hai bình diện chủ chốt của tác phẩm: nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật.
                                                        ***
          Trước hết, về nội dung, chủ đề tư tưởng thể hiện qua xung đột cơ bản của vở kịch. Tác giả đã mạnh dạn khai thác một giai đoạn lịch sử Việt Nam, mà cho đến nay, bởi nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, vẫn chưa được chú ý nghiên cứu đúng mức (kể cả giới nghiên cứu lịch sử nước ta): vương triều Mạc (1525 – 1677), chọn một nhân vật lịch sử lớn: Thái tổ Mạc Đăng Dung (1483 – 1541), một trong những nhân vật lịch sử lớn, phức tạp, đã và đang gây ra (trong và ngoài giới nghiên lịch sử Việt Nam) những bàn thảo, tranh cãi chưa hoàn toàn ngã ngũ về công, tội, ưu, khuyết, đóng góp và hạn chế đối với đất nước và dân tộc. .. cùng triều đại do ông gây dựng nên.
          Với người viết kịch, đó là một khó khăn, thách thức không nhỏ.

Chủ Nhật, ngày 13 tháng 4 năm 2014

THANH MINH TRONG TIẾT THÁNG BA






THANH MINH TRONG TIẾT THÁNG BA
                                      TRẦN TRUNG

Chắp tay lạy tạ Đất-Trời
Nén nhang con thắp dâng lời Trước-Sau.
Xa Quê...bạc trắng trên đầu,
Tình-Quê-Nguồn cội lẽ nào dám quên.

Tử-Sinh, đậu lại chữ “Thiền”,
Dẫu đời giông bão tìm “Hiền” tại Tâm.
Cõi-Người...Một kiếp phù vân
Thương-Người thơm thảo giữ gần-thương xa.

Ngẩng lên...Vọng áng Trăng-Ngà
Càng thương chú Cuội phải xa Dương-Trần
Rót tràn ly rượu...phân vân
Hướng Trời cao
với Mộ-Phần
rưng rưng...

Thanh minh-Tảo mộ...
Tìm-Xanh
Thủy-Chung-Một-Cõi
gửi tình-Gió đưa...

Thương ơi !
Biết mấy cho vừa...

                Nam Định-Hà Nội, ngày7/4/2014.
                  (Mồng tám tháng ba-Giáp Ngọ)