Thứ Tư, 21 tháng 8, 2019

PHƯỢNG SÓT







PHƯỢNG SÓT
                 Tặng Vũ Nho
                           Nguyễn Khôi

Tháng Tám Thu vàng đến
Đ
àn ve thôi nỉ non
Phượng nở chùm goá phụ
Thắm một màu như son

Trời đất như giở chứng
Bao biến động thất thường
Cứ như ngày tận thế
Nhân loại nghĩ mà thương

Elnino - nano
Hạn hán rồi bão lụt
Khủng hoảng những niềm tin
Gối đầu trên ngõ cụt ...

Một chùm hoa phượng vĩ
Còn sót lại trên cành
Cứ bập bùng như lửa
Cháy cồn cào trong anh !

Sớm 18.8.19







Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2019

Bài của Hằng Thanh trên FB và những bình luận lai rai...

Hôm qua họp Hội đồng PBLL VHNT TW, có nói đến chuyện dạy văn trong trường đại học, thị chợt nhớ đến chuyện thời sinh viên của mình và các thầy trong Khoa Ngữ văn ở trường Đại học.
1. Năm học thứ 4, thị bảo vệ khóa luận nghiên cứu về tác phẩm của Nam Cao, thuộc phần Văn học Việt Nam hiện đại. Hôm đó, có khá đủ các thầy ở nhiều bộ môn trong Hội đồng phản biện, trong đó, có thầy Vu Nho, dạy môn Giáo học pháp. Thị bị các thầy “quay” nhiều câu hỏi nhất trong số mấy bạn cùng bảo vệ. (Hồi ấy, một khóa chỉ có mấy sinh viên được làm khóa luận, vì phải đạt tiêu chuẩn về điểm trong suốt 4 năm. Không biết giờ còn lệ đó không?)
Có 7 câu, các câu hỏi khác thì là “tép”, riêng câu của thầy Vũ Nho khiến thị “nhớ lâu thù dai” đến tận giờ: “Đến tôi còn phải gọi con trai Nam Cao là anh, mà cô lại gọi Nam Cao là “anh”? Vì nếu còn sống, cụ cũng đã gần 70 tuổi rồi?”(hồi ấy, thầy mới đi nghiên cứu sinh ở Nga về, nên tiếng nói oách xà lách lắm) :D :D :D
Thị, đầy lo lắng, nhưng cũng nở nụ cười cầu tài và giải thích: Vì cuộc đời Nam Cao dừng lại khi mới ở tuổi ngoài 30, nên trong trái tim mọi người, Nam Cao vẫn mãi còn trẻ. Gọi Nam Cao bằng “anh”, là muốn nói rằng, nhà văn vẫn trẻ mãi trong lòng bạn đọc!
Nhưng, có vẻ, câu trả lời chưa làm thầy Vũ Nho kính mến thỏa lòng, nên thầy cứ cười cười rất chi là … nhạo.
Hôm sau, thầy trò lại gặp nhau ở Hội nghị sinh viên tiên tiến. Vừa thấy thị, thầy đã cười trêu, như để cho bõ sự chưa vừa lòng từ hôm trước: “Dám gọi Nam Cao bằng “anh” mới kinh chứ!”
Thị, dù bất ngờ khi thấy thầy vẫn chưa “buông tha” vụ dùng đại từ nhân xưng với Nam Cao, nhưng không còn áp lực của buổi bảo vệ khóa luận nữa, nên mạnh dạn cười hỏi lại: “Thế em hỏi thầy, thầy gọi chị Võ Thị Sáu bằng gì?” Lần này, chắc thật sự hài lòng với câu trả lời của trò, nên thầy cười thật tươi: “Tôi thua 1-0 nhé!”
Có lẽ, không mấy ông thầy dám thừa nhận trước trò như thế. Thỉnh thoảng gặp thầy, 2 thầy trò vẫn nhắc lại câu chuyện rất vui này.

2. Hồi năm thứ 2, trong giờ Ngôn ngữ, GS. Nguyễn Minh Thuyết giảng: “Từ “rất” không bao giờ đi với động từ! Nhưng tối đó, thầy có việc xuống ký túc xá và kể chuyện về cậu con trai nhỏ rồi bảo “cô giáo RẤT KHEN”. Thị hỏi lại: “Sao sáng nay thầy giảng từ “rất” không đi được với động từ, mà câu này vẫn đúng nghĩa ạ?” GS. Nguyễn Minh Thuyết cười bối rối vì bất ngờ, rồi giải thích: “À, chỉ trong trường hợp này thôi! Vì có những ngoại lệ!”
3. Thầy Phạm Luận dạy văn học Việt Nam cận đại cũng luôn khuyến khích sinh viên tư duy độc lập và sáng tạo. Bản thân thầy cũng không bao giờ giảng bài theo giáo trình, mà đều bằng quan điểm của thầy. Các giáo trình đều phân tích các tác phẩm của Nguyễn Dữ, Nguyễn Khuyến vv… có nội dung chống phong kiến, nhưng thầy là nhìn bằng quan điểm riêng: Ở Nguyễn Dữ là cái nhìn nhân văn với người phụ nữ, còn Nguyễn Khuyến là sự rung cảm trước thiên thiên vv…Vì thế, thị đã học được ở thầy cách tiếp nhận tác phẩm văn học khách quan, chứ không theo lăng kính chính trị… Thị từng bị gọi lên phân tích tác phẩm "Thu" của Nguyễn Khuyến và đã phán theo cảm nhận, chứ k theo giáo trình và được thầy Phạm Luận gật gù khen (thầy rất, rất hiếm khen :D )
Thị thấy mình may mắn khi được là học trò của các thầy giáo không chỉ giỏi chuyên môn, mà còn có tư cách rất sư phạm, để sinh viên được phát huy và thể hiện khả năng của mình.
Không biết bây giờ, các sinh viên có dám “vặn vẹo” thầy giáo như hồi của thị không và các thầy có tiếp nhận điều đó một cách thoải mái như thế không? Hay lại trù ẻo, cho rằng như thế là “cãi” lại thầy” và “trứng khôn hơn vịt”?

(Đôi khi, chán nhậu bạn bè và lũ em, đành lôi các thầy yêu quí ra để đổi món vậy. Xin được các thầy lượng thứ ạ! :D :D :D )
  • Hằng Thanh
    Hằng Thanh Ke ke ke
  • Sa Hoang Nguyễn
    Sa Hoang Nguyễn Riêng stt này em lai thật sự chị ạ
    2
  • Việt Hồng Trần
    Việt Hồng Trần E rất thích phụ nữ như chị. Thông minh, dí dỏm có lẽ ở ngoài đời chị xinh nữa...he he
    1
  • Hằng Thanh
    Hằng Thanh Việt Hồng Trần: Ở ngoài á? da đen, tóc bạc, mặt nhăn nheo như táo tầu :D
    3
  • Chuyến thăm Nga của Đoàn nhà văn Việt Nam 2010 ( tiếp)

     Chuyến thăm Nga của Đoàn nhà văn Việt Nam 2010 ( tiếp)

    Một ngày ở Van Đai
    31.V. Đi thăm trại cá giống. Bên cạnh trại cá là Bảo tàng lịch sử Trại nuôi cá giống Nhikônxki đầu tiên ở Nga mang tên V.P. Vraxki. Bảo tàng đặt trong  căn phòng của văn phòng Trại cá giống Nhikônxki ( tên làng đem đặt cho tên Trại), được xây cất trên khu nhà của điền trang dòng họ Vraxki. Phòng trưng bày bảo tàng chia làm hai gian chính. Ngay lối vào bên trái là thư phòng  của Vladimir Pavlovit Vraxki, nơi thu thập những tư liệu về cuộc đời của người sáng lập trại cá giống và hoạt động của nó như trại nuôi cá đầu tiên của Nga. Sau khi tốt nghiệp đại học, chàng trai Vladimir Vraxki đã về quê và đầu tư vào việc nuôi cá giống. Ông đã khảo sát và xây dựng hệ thống liên hoàn nước tự chảy giữa các ao, hồ nuôi trong vùng. Những giống cá quý đã được nuôi thành công. Người sáng lập trại mất năm 33 tuổi trong một tai nạn nghề nghiệp do cảm lạnh, khi ông chưa kịp xây dựng gia đình.
    Trong gian thứ hai – lịch sử trại nuôi cá từ cuối thế kỉ XIX đến nay. Phần trưng bày đầu tiên dành cho Oxakar Andreevich Grim, nhà động vật học nổi tiếng, người đặt nền móng cho khoa ngư loại học, lãnh đạo Trại cá giống 33 năm. Dưới sự quản lí của ông, Trại Nhikônxki trở thành địa chỉ kinh nghiệm tầm cỡ thế giới.
    Chiếm vai trò đáng kể là các giá trưng bày tư liệu về hoạt động của Trại cá từ năm 1920 đến năm 1940 và sự khôi phục hoạt động sau chiến tranh. Số phận đặc biệt của các nhà lãnh đạo Trại cá và sự lao động tận tụy của họ đã cho phép giữ được Trại trong những năm gian khó nhất của đất nước.
    Hoạt động của Trại nuôi cá giống hơn ba chục năm gần đây là phần trưng bày cuối cùng, kết thúc của Bảo tàng.
    Sau khi xem bảo tàng, Trưởng đoàn Lê Văn Thảo ghi vào sổ Lưu niệm. Mọi người uống cà phê, ăn bánh. Cả đoàn tiếp tục thăm nghĩa trang của dòng họ Vraxki, xem nhà cầu nguyện do dân chúng tự đóng góp xây dựng. Rồi sau đó về nhà người bạn thân của Oleg để thưởng thức tiệc cá.
    Ăn xúp cá và nhậu với cá xông khói  ở cạnh bờ hồ ( một người bạn của Oleg  chiêu đãi).  Bàn tiệc bày giữa nắng mát mẻ dưới gốc bạch dương. Những con cá hồi thơm ngon được nấu xúp khoai tây với rau thì là thật hấp dẫn. Chủ nhà mang ra một xê-ri cá măng ( suka) và cá hanh (lin) mới xông khói. Hóa ra cá hanh ngon hơn cá măng một bậc. Thấy mọi người khen, chủ nhà lại hào phóng mang ra tặng. Kim Hiền nhận mang  mấy con về Matxcơva để làm quà.


    Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2019

    Chủ đề “Mùa thu trong thi ca Đức“

    Chủ đề “Mùa thu trong thi ca Đức“

    Chuyển ngữ Nguyễn Văn Hoa ( Tháp Dương-Bắc Ninh )

    Bài 1

    Ban mai thu  

    của  Horst Werner Bracker

    Giăng giăng sương trắng bìa rừng

    Ban mai lá đỏ sáng bừng  xa xa

    Lấp lánh suối nhỏ hoan ca

    Tim sao bốc lửa lòng ta rộn ràng

    Herbst Von  Horst Werner Bracker

    Weiße Nebel ziehen.
    Am Waldesrand
    malt mit rotem Scheine, -
    die Morgensonne.
    Ihr feurig Band, -
    vergoldet, Bach und Haine.

    Bài 2

    Tháng 11

    Của Judith Bernhardt, 2010

     

    Sương mù lãng đãng

    Vô hướng

    Chim lặng hót

    Một bông tuyết đầu mùa

    Lá thu đa sắc

    Mờ đục mặt trời

    Tiếng cú rúc  

    Ý nghĩ vô định

    ( Bài này tác giả Judith Bernhardt chơi chữ , 8 chữ đầu dòng bài thơ tiếng Đức ghép dọc thành chữ NOVEMBER: tháng 11, xin lỗi tác giả , khi chuyển ngữ xin tạm bó tay.)

    Herbst

    Judith Bernhardt, 2010

     

    N ebelfetzen
    O hne Richtung
    V erstummte Vögel
    E ine vorwitzige Schneeflocke
    M odernde Blätter
    B lasse Sonne
    E ulenschrei
    R ieselnde Gedanken

    Bài 3

    Soi gương khi mùa thu cuộc đời  

     

    Của Horst Werner Bracker

     

    Khi gã nhìn vào gương,

    Gã thấy nỗi kinh hoàng của gã.

    Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2019

    TIẾU LÂM GABROVO 4 ( TIẾP)




    TIẾU LÂM GABROVO 4 ( TIẾP)

    TRẢ LỜI CẢ HAI
    Một thợ cả Gabrovo ngồi ăn trưa nhưng không mời các học trò của mình. Hai thanh niên đứng chồn chân cạnh bàn ăn và nuốt nước miếng. Cuối cùng, anh bạn trẻ hơn lấy hết can đảm nói:
    -         Thưa thầy…thầy xem, anh Ivan muốn được ăn với thầy…
    -         Vậy hả? – Ông ta đáp – Con thì thầy không mời, còn anh Ivan thì còn lâu!

    TÍNH TÌNH HÀO PHÓNG
    Ở thôn nọ, trưởng thôn là người không rượu chè, nhưng có thói quen lúc rảnh rỗi ghé vào tửu quán nghe mọi người trò chuyện. Ông ta ghé ngồi với hội nào đó, lần lượt, những người trong hội gọi rượu “ mỗi người một chén!”. Người ta đặt chén rượu trước mặt trưởng thôn. Khi số rượu trước mặt bằng với số người của nhóm, trưởng thôn đứng dậy:
              - Bây giờ đến lượt tôi mời!
    Và mỗi người đều được nhận lại đúng chén rượu đã mời trưởng thôn.

    PHƯƠNG TIỆN TIN CẬY
    Bỗng có tin đồn là một anh Gabrovo biết phương tiện tin cậy chống chai chân. Thế là ngày ngày, bao nhiêu người kéo đến anh ta xin lời khuyên. Anh ta đàng hoàng bật  hai ngón tay kêu đánh “tách” rồi phán cách chống chai chân:
    -         Phương tiện tin cậy chống chai chân là dùng giầy rộng!

    SẴN SÀNG
    Một hôm hai anh bạn lính cũ của Trung đoàn gặp nhau. Một người ở Gabrovo, anh kia là dân Xeplievo. Khi chia tay, anh kia hỏi:
    -         Bao giờ chúng mình lại gặp nhau?
    -         Cậu cứ mời đi – Anh Gabrovo đáp – Từ thành phố mình đến chỗ cậu gần lắm!

    TÍNH TOÁN NHANH
    Một thanh niên sửa lại mái nhà cho hàng xóm, một phụ nữ đứng tuổi. Khi anh làm xong, sắp ra về, chủ nhà bảo: Thím chẳng biết trả công cháu thế nào? Lấy gì để cảm tạ cháu đây? Mận thì hãy còn xanh lắm…Bí ngô thì chưa già. Gà thì còn quá nhỏ, chưa lớn…
    -         Bé thì bé, thím đưa cho cháu một cặp gà là xong – Anh kia nói.

    Thứ Năm, 15 tháng 8, 2019

    CHUYẾN THĂM NGA CỦA ĐOÀN NHÀ VĂN VIỆT NAM (2010)




    CHUYẾN THĂM NGA CỦA ĐOÀN NHÀ VĂN VIỆT NAM (2010)



                                                    Vũ Nho





    28.V. 2010 Bay 10 tiếng đồng hồ, vượt 7850 km từ Nội Bài, Hà Nội đến Semechevo, Matxcơva. Oleg Bavykin  đón ở sân bay. Về nhà hàng Việt Nam của vợ chồng anh Hoàng, ăn cơm Việt. Sau đó Vũ Nho và Lê Văn Thảo về KS Đại học tổng hợp. HM Tường và Y Ban về nhà Nguyễn  Thị Kim Hiền.

              Khi ở trên tàu bay, ghế trống nên Y Ban lật ghế lên nằm ngủ. Xuống sân bay, Vũ Nho ra trước tìm chỗ lấy hành lí. Mãi không thấy mọi người. Hóa ra Y Ban trùng tên với đứa bị nghi là khủng bố.( Đấy là theo lời Ban, có Trời mà biết được các bác Nga nói với Y Ban điều gì) Mà cũng có thể là máy tính tìm không ra tên của chị chàng nên chúng cứ giữ. Hoặc giả là trong túi xách của Ban có đủ các thứ hàng: 2 quả mướp, 10 bắp ngô, một ít vải tươi, rau ngót, rau húng, ớt tươi, mồng tơi và gi gỉ gì gi…Lạ cái là họ cho qua hết. Xuống nơi tìm thấy hành lí, chất lên xe. Ra ngoài thì Oleg đến. Huy Hoàng, Châu Hồng Thủy gọi điện. Yên tâm.

              Ăn cơm ở nhà hàng Bếp Việt. Hoàng Minh Tường đem Thời của thánh thần ra tặng vợ chồng anh Hoàng. Rồi cả bọn về nhà Hiền để đồ. Kéo sang khách sạn Đại học Tổng hợp. Chụp mấy bức ảnh đêm. Sim điện thoại chưa lắp nên không liên hệ được. Vũ Nho nhờ Huy Hoàng gọi về nhà báo tin cho bác Thìn yên tâm.

              Tối hôm đó anh Lê Văn Thảo loay hoay lắp được sim vào máy. Nhưng anh không gọi được. Hai ông gọi cho nhau cũng không được.  Lúc ba giờ khuya, Vũ Nho gọi cú điện thoại về nhà thành công ( khi đó ở nhà là 6h30 sáng). Tiếp theo anh Thảo cũng gọi được cho con trai. Hai ông ngủ tiếp đến quãng 5 giờ thì dậy. Trời đã sang tanh bành. Hai ông xuống đường đi bộ. Nhà hàng mãi 8h30 mới mở cửa. Đi chán lại quay về đợi giờ đi ăn sáng.

              Đúng 8h 30, hai ông lò dò xuống. Nhà hàng đã mở cửa. Vũ Nho cẩn thận hỏi xem giả bằng Đôla có được không. Trực nhật trả lời là không. Vậy là có một đống tiền nhưng hai ông đành nhịn đói. Lúc này cảm giác hoàn toàn bị cô lập. Điện thoại không liên hệ được. Tiền không có. Anh Thảo bảo nhờ họ gọi ta xi để đi ra chỗ đổi tiền. Ra đó mới có tiền rúp  trả cho ta xi và đi ăn sáng. Vũ Nho nói lại với nhân viên trực khách sạn. Bà ta nói không cần đi ta xi. Đi thẳng từ KS ra, rẽ trái, đi 3 nhà sẽ có chỗ đổi tiền. Thế là hai ông quyết tâm đi. Không thấy dấu hiệu Ngân hàng, nhưng đúng là có một điểm  chi nhánh ngân hàng. Vào tới nơi. Thấy treo tỉ giá đổi và phí đổi từ 1000 đến 10.000  U SD. Mừng quá. Hóa ra không thể đổi dễ dàng. Nhân viên đưa cho Vũ Nho một bản khai yêu cầu điền vào đó Họ tên, nghề nghiệp, số hộ chiếu, ngày cấp, nơi ở hiện tại, và mấy câu hỏi dài dòng rắc rối khác mà không có từ điển, chịu không rõ là hỏi cái gì. Vốn nhanh nhẹn nên Vũ Nho nói rằng lâu lắm không dùng tiếng Nga, không biết hai câu hỏi này thì nên đề Đa hay Nhét? Nhân viên bảo nên đề Nhét. Vậy là đổi tiền xong.

              Khi về Khách sạn thì Ban và Tường cũng đã đến. Anh Thảo muốn vào Bar để ăn sáng, nhưng mọi người bảo sang nhà Kim Hiền. Thế là qua đó.



    29.V. Đi thăm bảo tàng Kremli. Không ngờ người xếp hàng đông đến thế. Trước đó, Oleg đỗ xe rồi mọi người đi bộ qua thư viện mang tên Lê- Nin. Trước sân thư viện là tượng của Đốt xtoepxki. Vũ Nho lấy làm lạ. Hơn hai mươi năm trước, đã từng đọc sách cả tháng trong thư viện này. Lại còn tra giúp tài liệu về Văn tâm điêu long cho bạn cùng khoa là Bàn Tiến Tân nữa. Rõ là không có tượng Đốt. Hỏi lại Oleg. Quả đúng như vậy. Bức tượng này mới được đặt trong vòng một chục năm nay.

    Thứ Ba, 13 tháng 8, 2019

    NHỮNG ĐIỀU MỚI MẺ THÚ VỊ TRONG LUẬN ÁN của Tiến sĩ Bàn Tiến Tân




    NHỮNG ĐIỀU MỚI MẺ THÚ VỊ TRONG LUẬN ÁN  của Tiến sĩ Bàn Tiến Tân

                                                                       PGS.TS. Vũ Nho

             
     Khi nói về những  điều mới mẻ trong luận án  “Truyện dân gian và sự hình thành truyện ngắn trung đại Việt Nam” ( Vũ Nho, Trần Hậu, Đăng Bẩy dịch ra tiếng Việt) của  cố TS Bàn Tiến Tân, thiết tưởng phải đặt vào thời điểm hoàn thành của nó vào năm 1983. Khi đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng qua lại của văn học dân gian với văn học viết  Việt Nam còn đang ở buổi sơ khai. Năm 1980 mới xuất hiện duy nhất bài viết của Lê Kinh Khiên trên Tạp chí Văn học, mà các quan điểm trong bài viết này còn đang tranh cãi. Các nhà nghiên cứu Việt Nam thường lúng túng và đau đầu khi xử lí các văn bản văn học viết liên quan đến văn học dân gian.  Nhiều tài liệu dẫn luận cho giáo trình Đại học Sư phạm và Tổng hợp đều có sự “lẫn lộn”  về ranh giới văn học  dân gian với văn học viết. Các tác phẩm trong “Việt điện u linh” hay “Lĩnh Nam chích quái” được coi là “sưu tầm” văn học dân gian. Đánh giá văn học dân gian nói riêng,  và văn học nói  chung, các nhà nghiên cứu thiên về nội dung tư tưởng mà ít bàn đến thi pháp. Bởi vì thi pháp học hầu như chưa được nghiên cứu. ( Mãi năm 1987 mới xuất hiện cuốn Thi pháp thơ  Tố Hữu của Trần Đình Sử - Lí thuyết thi pháp, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng học và mang từ Nga về -  và sau đó là “Thi pháp ca dao” của Nguyễn Xuân Kính). Mặt khác vì thiếu vắng phương pháp luận nghiên cứu phù hợp nên các kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Việt Nam không có tính thuyết phục cao, thường dựa vào phán đoán mà thiếu dẫn chứng.

    Luận án  này  cố gắng lần đầu tiên tiếp cận khám phá một loạt các vấn đề gắn liền với việc giải thích rõ vai trò đặc biệt quan trọng của  truyện kể dân gian trong sự xuất hiện trực tiếp của các tác giả truyện trung đại Việt Nam sớm nhất. Tác giả chứng minh rằng “Việt điện u linh” là tác phẩm  truyện ngắn trung đại Việt Nam đầu tiên chứ không phải là tác phẩm “sưu tầm” văn học dân gian như các nhà nghiên cứu trước đây quan niệm. (1)

    Đề làm rõ được điều này, tác giả đã phân tích, so sánh các cốt truyện, các motip trong tác phẩm của Lí Tế Xuyên và đi đến kết luận rằng Lí Tế Xuyên đã sử dụng các motip truyện của thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, kết hợp với các thông tin của biên niên sử, các tác phẩm văn học Phật giáo để sáng tạo nên những truyện ngắn trung đại đầu tiên của Việt Nam. Tất nhiên, với tinh thần khoa học nghiêm túc, Bàn Tiến Tân cũng thừa nhận ảnh hưởng của truyện trung đại Trung Hoa đối với sáng tạo của Lí Tế Xuyên, nhưng điều quan trọng nhất là Lí Tế Xuyên đã dựa vào các nguồn văn học dân gian, văn học Phật giáo, sử biên niên, dã sử cùng với kinh nghiệm cá nhân để tạo nên một hệ thống nghệ thuật mới, đặt nền móng cho truyện ngắn trung đại Việt Nam. Tất nhiên, vì là người mở đầu, nên hệ thống nghệ thuật của Lí Tế Xuyên còn chưa ổn định.

            “Hệ thống đó dễ dàng bị thay đổi dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thống này hay truyền thống khác mà nhà văn dựa vào khi xây dựng các truyện của mình. Điều này được giải thích bằng việc là trong nhóm các truyện của Lí Tế Xuyên về các nhân vật lịch sử có thật mà tên tuổi của họ  vẫn gắn liền với  các sự kiện lịch sử có thật, làm cớ cho xây dựng tác phẩm, các tư liệu thu thập, trong số đó có tư liệu dân gian, thường được trình bày một cách logic trong các truyện, phù hợp với sườn niên đại và quan điểm sử biên niên trình bày các sự kiện. Các thủ pháp trần thuật  của mình riêng biệt hay của văn học dân gian, chính xác hơn, của truyền thuyết, được Lí Tế Xuyên sử dụng trong tác phẩm của ông , không đủ để xóa hoàn toàn “giọng” của biên niên sử về các sự kiện. Trong trường hợp ngược lại, khi nhà văn sử dụng trong trần thuật những thần thoại đền miếu về các điều kì diệu của truyền thống văn học Phật giáo, ông thường xuyên bị ảnh hưởng của chính các truyền thống này”. ( Kết luận của Luận án).

    Trái  qua: Bùi Phú Hảo, Vũ Nho, Bàn Tiến Tân, 1971
    Cán bộ Khoa văn ĐHSP Việt Bắc