Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2026

CHUYỆN ĐỜI NHƯ TIẾNG THƠ NGÂN

 

NGUYỄN TRỌNG TÂN giới thiệu 

anh_cua_trung_nguyen_11

CHUYỆN ĐỜI NHƯ TIẾNG THƠ NGÂN
NGUYỄN TRỌNG TÂN
Tôi đọc “Mây vẫn bay” (thơ tuyển) và “Người của một thời” (tự truyện) của nhà thơ Hải Đường với tâm trạng vừa háo hức vừa tò mò. Cảm nhận bóng dáng thi nhân qua những bài thơ chắt lọc và xem bạn nghề kể chuyện đời mình như thế nào, bởi tôi cũng đang viết “Mai này ai nhớ đến ai”, một dạng na ná thế.
Con đường đến với thơ của Hải Đường khá sớm, từ những năm học phổ thông, như một phẩm chất thiên bẩm. Con người ta ai sinh ra cũng mang trong mình một chút thiên bẩm, một năng lượng hào quang. Nhưng để thiên bẩm ấy, hào quang ấy phát lộ rực rỡ phải trải qua một chặng đường đời thử thách. Con đường thử thách nhà thơ tương lai là những năm tháng chiến tranh khốc liệt, là một thời bao cấp khốn khó và một nghề làm nên phẩm chất của một cây bút chính luận sắc sảo: nghề báo.
Hải Đường nhập ngũ năm 1972, đúng lúc cuộc chiến tranh lên đến cao trào. Mặt trận Quảng Trị, mặt trận Tây Nguyên đỉnh điểm ác liệt. Miền Bắc chìm trong sự hủy diệt chưa từng có của máy bay Mỹ. Cả nước là chiến trường với tinh thần và khí thế quyết tâm bẻ gẫy ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Nhà thơ trẻ đã dấn thân vào những năm tháng khốc liệt đó. Và trong chặng đường trưởng thành, khi cái chết kề bên, khi vật vã trong gió lốc mưu sinh, và khi ở vị trí chứng kiến sự vần xoay trong một xã hội đầy biến động… là lúc lý tưởng, trách nhiệm, lương tâm và phẩm chất phải lựa chọn, định hình. Đó cũng là nét chung đối với những người cầm bút. 17 tuổi chàng tân binh ấy đã viết những tâm sự đầu tiên bằng thơ khi khoác lên người bộ quần áo lính: “Chúng tôi sẽ đi lao vào trận đánh/ Chúng tôi sẽ đi làm những mũi chông/ Mũi chông vót từ cây tre Thánh Gióng…”. Tuy còn sơ lược, còn thô ráp nhưng thể hiện rõ tâm trạng, nhận thức và khí phách của cả một thế hệ trước vận mệnh đất nước. Nói về thơ có lẽ bạn đọc nhận chân khá nhanh và chính xác về thơ Hải Đường ở chiều sâu triết lý, giọng điệu đậm chất dân ca Bắc bộ và sự chân thành. Yếu tố trữ tình bay bổng nâng cánh cho tư tưởng, quan điểm sống của tác giả. Người thơ nặng nỗi suy tư trăn trở về lẽ đời, về kiếp người và cõi nhân sinh. Và thơ đã truyền tải những thông điệp ấy bằng một nghệ thuật mềm mại, nhân văn đi vào lòng người một cách tự nhiên, bén ngọt. Nếu gọi đó là thi pháp thì quan niệm sáng tác ấy hình thành ngay trong những tác phẩm đầu tiên.
Thơ Hải Đường không triết lý, cầu kỳ. Không chạy theo số lượng hoặc rậm lời. Không cuốn theo trào lưu cách tân với đủ thứ quan niệm rối rắm. Ngôn từ ngắn gọn, sáng rõ đi thẳng tới sự cảm nhận của người đọc. Như những nhát cuốc bập vào lòng đất, chân thành ký thác suy ngẫm, tâm sự, trăn trở về kiếp làm người giữa chốn phù sinh. Hình ảnh bông lúa mẩy nặng hạt thì cúi xuống lặng im, bông lép lại ngông nghênh vươn lên phô phang đem đến cho người đọc sự ám ảnh vượt ra khỏi câu chữ: “Lặng nghe gié lúa đơm bông/ bông mẩy cúi xuống tịnh không một lời/ Ngấp ngo bông lép lên giời/ nắng làm thinh, gió bời bời hắt sang/ Cỏ dại chen chúc thóc vàng/ bọt bèo thì nổi hồng nhan thì chìm” (Lặng im). Rất nhiều bài thơ giản dị mà ám ảnh. Ông coi sự chân thật chính là nghệ thuật, là cảm xúc gọi cảm xúc: “Nhớ em thu níu mùa sang/ chiều ru cát ấm lá vàng bơ vơ/ anh từ độ ấy đến giờ/ ngày rơi mấy nẻo đêm mơ giấc gầy/ lặng soi đôi mắt em đây/ có anh không những sum vầy một mai?/ nín đi em… lặng sông dài…/ khuya lìm lịm sóng vỗ hoài trăng xưa”. (Có anh không những sum vầy một mai?).
Hải Đường là người thông minh, hóm hỉnh, mạnh ở sự tự nhận chân, giễu nhại bản thân, nét cốt tử làm nên cái riêng trong văn thơ. Con người ta khi tóc bạc, da mồi, trải bao ái ố hỉ nộ cuộc đời khiến cho tâm trạng ai cũng mang sẹo, cũng nặng nỗi suy tư, ngẫm ngợi. Nhà thơ của chúng ta cũng không ngoài quy luật đó. Chứng kiến cái làng Vọc thuần hậu xưa kia đổi thay nhanh quá, đứa con lưu lạc trở về thành kẻ lạc lõng. Vẫn triền đê ấy, miền cỏ biếc ấy, ngọn khói đốt đồng xưa và cánh diều từng vi vút trong ký ức mà nay lòng sao thấp thỏm, hoang mang:“Lạ sao “phố mới” của làng/ lô xô cao thấp ngổn ngang giầu nghèo/ quan to lăng mộ to theo/ thân phận bọt bèo lúp xúp hàng bia (Về với mẹ). Đứa con của cái làng nghèo xưa đã trở thành nhà thơ, nhà báo nổi tiếng nhưng vẫn coi mình là hòn đất ải giữa cánh đồng quê:“Vẫn là quê đấy quê ơi/ Lời ăn tiếng nói đất người đồng chiêm/ Tôi hòn đất ải vẹn nguyên/ Về quê tìm lại một miền phù sa” (Miền phù sa).
Văn phong ngôn ngữ thơ Hải Đường đạt tới cái hay, chiều sâu triết lý ở sự giản dị, mộc mạc và chân thành. Ông không viết vội, viết dễ dãi. Đằng sau con chữ là sự nghiền ngẫm, đắn đo. Câu thơ nhiều khi thốt ra như một lời cảm thán: “Bao lần định viết những câu thơ cho mẹ cho em/ mà cứ sợ lòng mình vơi cạn” (Những câu thơ chưa viết).
Ung dung tự tại, điềm đạm và khiêm nhường là cảm giác chung khi đọc Hải Đường. Và tôi cứ bị ám ảnh hình ảnh bông lúa mẩy hạt thì cúi xuống, lặng im.
***
Phần tự truyện, tác giả kể về thời thơ ấu của mình; kể về cái nghề lái máy húc trong lực lượng Công binh, rồi trở thành sĩ quan quân đội ở Tổng cục Chính trị và bén duyên với nghề báo, nghiệp văn. Với tôi, hồi ký, tự truyện là thể loại dễ viết nhưng cũng cực kỳ khó đạt tới sự hấp dẫn, cuốn hút. Như làm thơ lục bát, ai cũng có thể làm được, song thơ hay, ám ảnh người đọc thì thật hiếm.
Tuổi thơ của một đứa trẻ quê thì cũng giống như triệu triệu đứa trẻ ở khắp mọi miền đất nước. Rồi lớn lên ai cũng chọn cho mình, hay được sự phân công lao động tự nhiên cho một nghề nào đó, lặp đi lặp lại các hoạt động sống hằng ngày như: ăn, nghỉ, làm việc, yêu đương sinh con đẻ cái… đều là thứ ai cũng trải qua, là thứ “biết rồi, khổ lắm”. Vậy mà rồi bập vào “Người của một thời”, đọc hơn trăm trang sách không dứt ra được. Không phải khen lấy lòng đâu mà quả thật rất hấp dẫn. Bằng chất giọng hóm hỉnh, lối kể tưng tửng ken chặt chi tiết sinh động, tác giả cuốn người đọc vào các câu chuyện thường ngày một cách say sưa khám phá. Chuyện học lái máy húc, chuyện uống vụng sữa của lính, chuyện mẹo tán gái… Rồi chân dung cán bộ thời kháng chiến chống Pháp, chân dung “giáo viên tiểu đoàn”… ai cũng có nét riêng khó lẫn. Lòng tấm tắc phục cho cái tài người viết, biến cái tưởng như nhàm chán hằng ngày trở nên có chuyện, có hồn vía.
Phải nói lúc đầu tôi đã khá sốt ruột khi đọc chương “Thời thơ ấu”. Đọc mãi mà chẳng thấy bóng dáng của tác giả đâu. Ngòi bút say sưa kể về cái làng Vọc, huyện Bình Lục, Hà Nam, quê ngoại, nơi ông sinh ra, có cái tên cổ là làng Quắc Thị mà nhiều người dịch ra là làng Cướp Chợ. Và làng Hạ Vĩ quê nội, ở huyện Lý Nhân. Làng Vọc sinh ra me Tây Hồng, còn gọi là cô Tư Hồng một nhân vật văn học nổi tiếng cuối thế kỷ trước. Chuyện làm ăn, chuyện tình duyên của cô Tư Hồng như truyền thuyết, như cổ tích “dài như con sông Châu” chảy qua làng Vọc. Hết chuyện cô Tư Hồng, là chuyện về các di tích lịch sử rất linh thiêng của làng và trong vùng. Rồi cảnh làm ăn ở vùng đất trũng chua phèn chiêm khê mùa thối: “sống ngâm da, chết ngâm xương”. Tiếp nối sang việc học hành của con trẻ, việc làng Vọc đổi thay trong thời đại 4.0… Bức tranh quê cứ thế hiện ra trong mạch kể rất có duyên cho đến cuối chương. Cả quãng đời thơ ấu chỉ gói trong vài trăm chữ mà là vài trăm chữ kể về “lũ trẻ trâu làng tôi” chứ không kể về mình. Những trò tát ròn, mò cua, bắt cá, săn vợt châu chấu, làm giậy đón cá nhảy ngày mưa giông… một thời tuổi thơ bùn đất
Bóng dáng tác giả ẩn trong các câu chuyện thường ngày, trong hơi thở đồng quê chân chất, dìu dặt cánh diều, lời thưa lẽ gửi của một vùng đất vốn là cái nôi của những làn điệu dân ca cổ, hát xẩm Bắc bộ. Qua hình ảnh người mẹ nghèo với tấm lòng vĩ đại khiến ta rưng rưng biết ơn và cảm phục: “Vào buổi tối, trước khi đi ngủ, mẹ cuộn mành trước cửa, rồi ra bờ giậu chặt một cành hóp nhiều lá đem vào. Cứ thế lùa cành hóp vào gầm giường, gầm chõng xua muỗi. Một lúc sau bọn muỗi đói đã bay ra ngoài vãn thì buông mành thật nhanh… Đặt lưng xuống chiếc giường ngựa ghép tạm bằng mấy mảnh gỗ sung, các con ngáy pho pho, còn mẹ thì mắt chong chong… Mẹ bèn cởi áo vắt lên mắc, chỉ mặc chiếc yếm nâu, bụng bảo dạ, còn con muỗi nào thì nó đốt mẹ, đừng đốt con”. “Thời thơ ấu” khép lại khi nhà thơ tương lai bước chân lên đường nhập ngũ. Người làng ríu rít tiễn các chàng trai ra trận, nhưng người mẹ nghèo làng Vọc chỉ dám tiễn con đến đầu ngõ. Bà sợ đi nữa không cầm được nước mắt, moi trong túi áo vá 5 hào, nói với con: “Bu cho con. Bu chỉ có từng này. Con cầm đi cho đỡ tội nghiệp”.
Hải Đường viết báo từ khi còn khoác áo lính rồi chính thức dấn thân vào nghề báo chuyên nghiệp sau khi tốt nghiệp Đại học báo chí. Thời gian công tác ở Tạp chí Công tác đảng, thuộc văn phòng Tổng cục Chính trị Quân đội, ông chuyên viết các bài mang tính chính luận. Điều này đòi hỏi sự vững vàng về tư tưởng, hiểu biết về đường lối và cập nhật nhiệm vụ đã tôi rèn ngòi bút trở nên sắc bén. Và sau này khi ở cương vị Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân, ngòi bút của Hải Đường phát lộ rực rỡ nhất ở cả hai lĩnh vực báo chí và thơ ca. Ông đã lặn lội đến hầu khắp các tỉnh thành, nơi biên cương, hải đảo, đã góp nhặt được biết bao hiểu biết ở mọi vùng miền. Điều ấy góp phần bồi bổ phẩm chất lý tưởng cách mạng, trách nhiệm công dân và thấm đẫm nỗi yêu đời, đau đời, hòa cùng nhịp đập trái tim mình với nhân quần.
Không ngẫu nhiên mà tôi lấy tiêu đề “Chuyện đời như tiếng thơ ngân” để nói về tác phẩm của ông. Một tự truyện mang âm hưởng bay bổng, giầu có dư vị. Nhân vật chính khiêm tốn giấu mình sau chuyện làng, chuyện bạn. Ông kể về nó như hát một khúc đồng dao thấm đẫm ánh trăng, tiếng sáo diều vi vút cùng lời ru của mẹ. Nhà thơ đã tránh được lối viết xưa nay, gần như mặc định, thể loại hồi ký, nhật ký, tự truyện cứ tuần tự theo dòng thời gian, kể lể thành tích, thống kê chặng đường công tác… Quan điểm sáng tác đó được xác định rõ qua vĩ thanh:“Cuộc đời ít thăng trầm thì câu chuyện có thể kém hấp dẫn. Nhưng tôi nghĩ cái hấp dẫn là sự thành thật. Là cái tôi hòa chung trong cái chúng ta, trong thời thế, trong cuộc đời. Làm sao để ai đọc cũng thấy thấp thoáng hình bóng của “một lứa bên trời”. Đọc xong, gấp sách lại đúng là thấy được “chân dung” của một thế hệ chống Mỹ, trong đó có tác giả với những năm tháng không thể nào quên. Ông đã rất cao tay, cho người đọc nhìn vào cả cánh rừng để thấy một cây. Nhìn dòng sông để nhận ra mạch nguồn trong trẻo.
Hải Đường đã sáng tác và cho công bố hơn 10 đầu sách, một số lượng không nhiều nhưng để lại dấu ấn riêng đóng góp vào kho tàng văn học hiện đại Việt Nam. Thơ, văn như cái gạch nối từ một thời chiến tranh qua những năm tháng hậu chiến gian khó tới thời kỳ đổi mới với biết bao suy tư trăn trở. Một sự dấn thân không ngừng nghỉ của cây bút giầu lòng trắc ẩn với đất nước và nhân dân mình.
Khép lại “tấm chân dung” này, không gì thú vị hơn khi viện dẫn ra đây bài thơ “Chân dung” in trong tập: “Ảnh chân dung/ ký chân dung/ la liệt phác thảo/ không “chụp” được nét trăng run rẩy/ trong tâm hồn thi sĩ/ không “ký” được ý nghĩ/ sau rổn rảng mỹ từ/ những chân dung giả/ chập chờn bóng ma”. Tác giả đã “chụp” được “nét trăng run rẩy” trong tâm hồn và “ký” thác được ý nghĩ mình gửi gắm trong tập “Mây vẫn bay” và “Người của một thời”. Vì thế nó trở nên thực sự hấp dẫn, ngân vọng./.
hoagao2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét