NGHE VƯƠNG TRỌNG BÌNH KIỀU


Lắng nghe Vương Trọng bình Kiều
CHU THU PHƯƠNG
Ngồi xe một chặng đường dài từ Hà Nội vào Hà Tĩnh, rồi lại từ Hà Tĩnh về Hà Nội, cả một chuyến đi văn thơ và Kiều. Một trong những điều tôi thích nhất có lẽ là được nghe nhà thơ Vương Trọng giảng Kiều. Kiều hay, việc này có lẽ ko cần tranh cãi nữa. Nhưng hãy nghe thầy giảng:
———-
1. Tôi nghĩ rằng, khi tả cảnh, trong nhiều trường hợp, Nguyễn Du học theo phép điểm huyệt chữa bệnh của các thầy thuốc Đông y. Trước khi chữa, thầy thuốc phải tìm cho được cái huyệt của bệnh, sau đó chỉ cần điểm huyệt bằng đầu ngón tay hoặc mũi kim thì tức khắc bệnh khỏi. Tương tự thế, khi tả cảnh, Nguyễn Du tìm được cái huyệt của cảnh, nên không cần nhiều lời. Những câu thơ điển hình tả mùa xuân, mùa thu như: "Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa" hoặc: "Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng"… cũng được tả theo thủ pháp ấy nhưng vì chúng quá quen thuộc nên tôi không muốn dừng lại để phân tích. Tôi đi vào câu thơ ít phổ biến hơn.
Trong tiết dạy hướng dẫn cho một lớp bồi dưỡng sáng tác, nói về nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du, tôi đã yêu cầu mỗi người về nhà viết một đoạn văn hoặc mấy câu thơ để tả ngôi nhà đã bị đốt cháy. Và tiết học hôm sau tôi đã có trong tay "tác phẩm" của gần 40 người. Chưa quan tâm về nghệ thuật câu chữ, tôi muốn biết các học viên đã dùng những chi tiết gì để tả. Sau đó đem so sánh với các hình ảnh mà Nguyễn Du đã dùng trong hai câu thơ:
Bước vào phòng cũ lầu thơ
Tro than một đống, nắng mưa bốn tường
Cả lớp ai cũng phải tấm tắc khen cụ Nguyễn Du tài, vì đã điểm đúng cái huyệt, cái đặc trưng nhất của ngôi nhà cháy: Tất cả mái nhà và đồ đạc đã biến thành tro than một đống, bốn tường không có thứ gì che chở nên phơi mưa phơi nắng. Đồ đạc biến thành tro than thì nhiều học viên tả được, nhưng không một người nào chạm tới cái cảnh "nắng mưa bốn tường" sờ sờ trước mắt mà chỉ cần đọc lên, kết hợp với "tro than một đống" thì không còn gì đầy đủ bằng khi tả ngôi nhà đã bị đốt. Trong hai câu lục bát, câu đầu cụ Nguyễn dùng để kể chuyện Thúc Sinh bước vào nhà xưa. Chỉ dùng tám chữ của câu sau để tả, mà cảnh nhà cháy hiện lên rõ ràng, đầy đủ hơn khi chúng ta dùng đến cả một trang văn. Là vì cụ tả cảnh theo lối điểm huyệt, chỉ cần lảy đúng huyệt là cảnh đó hiện lên vừa điển hình, vừa đầy đủ, còn chúng ta tả cảnh theo lối đấm tẩm quất, cứ đấm lung tung lên, chẳng biết đâu là huyệt và thậm chí có khi đã đúng huyệt rồi, không biết dừng lại, còn đấm tiếp, làm mất tác dụng của huyệt đó. Cũng cần lưu ý rằng, Nguyễn Du tả cảnh này không phải bằng đôi mắt của tác giả, mà qua cái nhìn của chàng Thúc Sinh: Khi bàn chân chàng vừa bước tới, thì cái trước tiên đập vào mắt chàng là một đống tro than. Ta như thấy được lúc đầu chàng nhìn xuôi, sau đó mới thẫn thờ quay đầu nhìn quanh và ngước nhìn lên, ngao ngán trước cảnh bốn bức tường chơ chỏng không còn gì che chở. Như vậy, đại thi hào chỉ dùng mấy chữ, không những làm hiện lên cảnh một ngôi nhà cháy trụi điển hình, mà người đọc thấy được tâm trạng của người trong cuộc, tức chàng Thúc Sinh lúc bấy giờ.
2. Nghe lời khuyên của sư Tam Hợp, Giác Duyên về dựng một ngôi nhà lá bên sông Tiền Đường và thuê người đón vớt Thuý Kiều. Tất nhiên ngôi nhà này nằm ở chỗ vắng vẻ, yên tĩnh (nơi ở của sư mà). Bây giờ bạn đọc chúng ta hãy tả ngôi nhà này xem sao? Có thể tả bằng thơ hoặc bằng văn xuôi. Trước mắt chúng ta hiện lên cảnh sông Tiền Đường tĩnh lặng, có một ngôi nhà của sư lợp bằng lá cỏ… Thế là những từ như vắng vẻ, yên tĩnh, lung linh, soi bóng… hiện lên trong ngôn ngữ chúng ta. Tôi tin rằng khi định tả ngôi nhà này, những từ vừa rồi cũng đã xuất hiện ở cụ Nguyễn Du và chính cụ cũng biết được những từ đó có thể xuất hiện ở những người khác như cỡ chúng ta. Nếu cụ là nhà thơ bình thường thì có lẽ những từ đó đã xuất hiện trong "Truyện Kiều" khi tả ngôi nhà này. Nhưng là đại thi hào, cụ phải vượt xa cái nhìn thường tình của người thường, không dùng những từ quá quen thuộc mà người khác dùng để tả cảnh, cụ phải có cách nhìn khác, từ khác, dù vẫn tả cảnh ấy. Thế là cụ viết:
Đánh tranh chụm nóc thảo đường
Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi
Câu thứ nhất mang chức năng kể, một yếu tố không thể thiếu được trong truyện thơ. Sự kể này mới kỳ diệu làm sao, chỉ sáu chữ mà nói được bao điều về ngôi nhà cỏ ấy, đặc biệt là hai chữ "chụm nóc", không chỉ kể chuyện làm nhà mà một phần làm người đọc hình dung hình dáng ngôi nhà: Có lẽ đây là một nhà tạm do hai mái chụm lại mà thành. Sự thần kỳ nằm ở câu bát: "Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi". Như vậy với tám chữ, Nguyễn Du không chỉ tả nhà mà tả trời, tả sông, bao chứa tất cả những điều chúng ta đã hình dung, đã muốn tả; bao chứa tất cả những từ "vắng vẻ", "yên tĩnh", "lung linh", "soi bóng" nhưng tác giả không hề dùng một từ nào trong đó. Từ ví dụ này, người làm thơ chúng ta có thể rút ra được bài học là tránh xa sự thường tình, không nói điều mà những người khác có thể nói được.
————-
Thốt nhiên giật mình nhận ra xưa giờ mình cứ nghiễm nhiên thuộc Kiều, nghiễm nhiên thưởng thức, nghiễm nhiên coi cái đẹp ấy là một sự tất nhiên, mà chưa từng thử viết để thấy rằng viết được đẹp như Nguyễn Du, nén chữ chặt như Nguyễn Du khó biết dường nào!
Bởi thế mà tôi dứt khoát phải ghi lại bài giảng này để nhớ. Nhưng cũng còn một lý do nữa để ghi lại bài giảng này - một câu nói bé nhỏ thôi, thầy nói ngay sau câu giảng cuối - “Thơ của Phương đã tránh được sự thường tình đó, không nói điều mà những người khác có thể nói được”. Lặng đi mất một giây vì lời nhận xét nhẹ nhàng của thầy mà rất nặng đối với mình, không thốt được nên lời. Một lúc sau mới cúi đầu cảm ơn thầy vì lời nhận xét ấy, mà cũng ko biết nói gì hơn. Lại xin lắng nghe thầy giảng tiếp về Kiều.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét