Đem về làm tư liệu! Bái phục anh Đặng Văn Sinh kì công chỉ ra những cái dở của một món lẩu không thể ăn!
“CÒN CÓ AI NGƯỜI KHÓC TỐ NHƯ”, MỘT MÓN LẨU THẬP CẨM
“CÒN CÓ AI NGƯỜI KHÓC TỐ NHƯ”, MỘT MÓN LẨU THẬP CẨM
Đặng Văn Sinh
Chẳng cần suy nghĩ nhiều, chúng ta cũng hiểu được, tác giả lấy cảm hứng từ câu kết trong bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký” (讀小青記) của Nguyễn Du “Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” (天下何人泣素如) làm tựa đề cho cuốn sách vừa được ra mắt rất hoành tráng tại Hà Nội.
Ngoài bìa sách, Võ Bá Cường ghi là “tiểu thuyết”, nhưng vì nội dung lại viết về giai đoạn Nguyễn Du từ kinh thành Thăng Long về sống ở quê vợ ở làng Hải An, huyện Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam Hạ, cho nên người đọc nghĩ ngay đến thể loại tiểu thuyết lịch sử. Sách do Nxb Hội Nhà văn cấp phép, bìa cứng, khổ 15 x 23 cm, dày 255 trang, nếu cộng cả bài giới thiệu của ông Ngô Đông Hải, bài “tựa” của ông Văn Chinh và bài phê bình của ông Bùi Việt Thắng là 296 trang. Nội dung “Còn có ai người khóc Tố Như” chia làm hai phần, Phần một: “Sóng Bạch Lãng”, Phần hai: “Phong Nguyệt Sào”. Tổng cộng 16 chương, mỗi chương được đặt tên bằng một câu thơ, trong đó có cả thơ của chính tác giả. Cầm cuốn sách có cái bìa rất đẹp, một cái tên khá ấn tượng, sau khi lướt qua bài giới thiệu về tác giả và tác phẩm bằng những lời có cánh của ông bí thư tỉnh ủy Thái Bình, tôi thầm nghĩ, chắc chắn đây là tác phẩm văn chương đích thực. Mà đã là văn chương đích thực thì kiểu gì cũng phải đọc để xem nhà văn Võ Bá Cường gửi đến độc giả những thông điệp gì mới về đại thi hào Nguyễn Du. Nhưng rồi, càng đọc tôi càng thất vọng, không phải tác giả đề cao Nguyễn Du mà chính là hạ thấp nhân cách văn hóa Nguyễn Du qua những trang văn đầy khuyết tật của một người có kiến văn hạn hẹp.
Trước hết, tôi dám khẳng định, “Còn có ai người khóc Tố Như” không hoàn toàn thuộc thể loại tiểu thuyết hư cấu, nói một cách hình ảnh, đó là thứ sản phẩm đầu Ngô mình Sở, thêm chút gia vị “tình yêu” mùi mẫn có thể qua mắt một số bạn đọc dễ tính nhưng không thuyết phục nổi các nhà tiểu thuyết lịch sử cũng như giới phê bình học thuật.
Nói thật lòng, tôi không khuyến khích bất cứ ai đọc cuốn sách này, nhưng nếu đã chót đọc, sẽ không khó khăn gì để các bạn nhận ra, nó vừa là sản phẩm của loại tiểu thuyết hư cấu rẻ tiền, vừa mang đậm đặc trưng thể loại dã sử, lại vừa có bóng dáng của một công trình biên khảo ở cấp độ câu lạc bộ phường. Sở dĩ có điều bất cập này là bởi Tố Như quá vĩ đại. Trong khi ấy, người viết lại hiểu biết rất hạn chế về tác giả “Đoạn trường tân thanh” mà bút lực non yếu, cho dù có lòng thành cũng lực bất tòng tâm.
Thất bại đầu tiên của cuốn tiểu thuyết này là Võ Bá Cường đã tìm hiểu thân thế, sự nghiệp Nguyễn Du một cách chủ quan, hời hợt dẫn đến việc định vị mười năm tránh nạn ở quê vợ Thái Bình là sai với sự thật lịch sử được ghi chép trong gia phả dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Ở phần TÁM (Tâm sự cùng ai giãi tỏ), Võ Bá Cường khẳng định: “Nguyễn Du về đây (Phong Nguyệt Sào) sau khi ở tù ra (1796) tính đến năm ấy là 30 tuổi. Hai năm đầu ở Hải An cuộc đời dâu bể, rồi có nhiều thay đổi. Sự đổi thay bắt đầu từ Huệ” (tr. 135). Đây cũng chính là mốc lịch sử để tác giả viết được 10 chương về mối tình của Nguyễn Du với cô em gái Đoàn Nguyễn Tuấn là cho đến khi hai người cưới nhau. Và cũng trong mười chương ấy, tác giả sử dụng thủ pháp hồi ức kể về hành trạng Nguyễn Du trong chuyến đi giang hồ cùng Nguyễn Đăng Tiến sang Trung Quốc. Tiếp đến là sự kiện Nguyễn Du bị tướng Tây Sơn bắt, phải ngồi tù mấy tháng vì tội trốn vào Gia Định phò Nguyễn Ánh. Thậm chí có lúc tác giả còn để cho Nguyễn nhớ lại những năm tháng từng ra làm quan với triều đình nhà Nguyễn, lúc viết “Văn tế thập loại chúng sinh”, lúc lại xướng họa với nữ sĩ Hồ Xuân Hương hay gặp lại nàng Cầm ở kinh thành Thăng Long.
Không phải ngẫu nhiên khi nhận cuốnThơ Hoàng Cầm với văn hóa Kinh Bắc của Nguyễn Thị Minh Bắc, thi sĩ Hoàng Cầm đã xúc động gọi chị “một người gái ngoan của Kinh Bắc…đã hoàn thành cuốn sách đáng quý với quê hương mình”và tôi xin nói thêm không chỉ với quê hương mà với cả thơ Hoàng Cầm - “một người trai Kinh Bắc đã đa mang cái nghiệp thơ nhiều oan khổ”.
Cuốn chuyên luận nói trên bắt nguồn từ luận văn thạc sĩ Văn hóa Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm, bảo vệ thành công năm 2003. Có thể nói, cách đây gần 20 năm, đề tài của Nguyễn Thị Minh Bắc là đề tài đầu tiên nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm, một đối tượng thẩm mỹ đầy sức mời gọi nhưng cũng không tránh khỏi sự e ngại về “nhân thân” với những thăng trầm, oan nghiệt mà thi nhân đã trải qua trước thời kỳ đổi mới. Và như mang cái nghiệp vào thân, từ kết quả mùa đầu ấy, hai mươi năm qua, cô giáo dạy văn Nguyễn Thị Minh Bắc bên các trang giáo án vẫn bền bỉ theo đuổi niềm đam mê nghiên cứu sự nghiệp thi ca của Hoàng Cầm. Sau khi bảo vệ, Nguyễn Thị Minh Bắc dành thời gian xem xét và điều chỉnh hệ thống luận điểm cùng các nhìn nhận, đánh giá thơ Hoàng Cầm sao cho khách quan và khoa học hơn.
Nắng tháng Chín vàng ươm từ sáng sớm. Mặt trời vừa bứt qua cánh núi xâm xấp như lưỡi cưa khổng lồ ngoạm vào bầu trời ban mai hồng nhạt phía núi Hồng là chiếu ngược đoạn thượng nguồn sông Phó Đáy. Vạt đồi thoai thoải con, lồi lõm phơi hướng đông hứng nắng. căn nhà hai tầng mái tôn đỏ sẫm của trường cấp 2-3 Trung Quan như dán mình vào bức tranh xanh mướt của cánh rừng.
Phin bước lên từng bậc đất, ngước mắt nhìn ngôi trường mới. Mặt trời ở sau lưng mà sao mặt Phin nóng ran, lâng lâng như vừa uống cả bát rượu hoẵng. Hôm nay là ngày đầu năm học mới, ngày đầu Phin làm cô giáo trường trung học phổ thông, trong đầu tràn ngập bao ý nghĩ…Phin thoáng nhận ra nhiều bước chân học trò vụt nhanh qua mình.
(Dân trí) - PGS.TS Vũ Nho chỉ ra những bất hợp lý trong bài thơ "Bắt nạt". Ông bất ngờ khi nhân vật "tớ" tưởng có phép màu gì, hóa ra chỉ là anh chàng cam chịu vì bị bắt nạt quen rồi.
Tác giả bài thơ "Bắt nạt" ví von bắt nạt dễ lây (Ảnh: Hoàng Hoàng).
Bài thơ "Bắt nạt" một lần nữa lại gây xôn xao dư luận về sự khác biệt khi được đưa vào sách giáo khoa ngữ văn lớp 6. Là nhà phê bình văn học, dịch giả, nhà thơ, nhà văn, công tác lâu năm trong ngành giáo dục, PGS.TS Vũ Nho đánh giá như thế nào về sự phù hợp của bài thơ khi được đưa vào sách giáo khoa?
- Thật ra, năm 2021, khi sách ngữ văn 6, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống được công bố có in bài thơ này, dư luận đã xôn xao. Tôi đã có bài viết phân tích về nội dung bài thơ này.
Khi ấy, một số thầy cô giáo dành lời khen bài thơ nói trúng vấn đề bắt nạt - vấn đề khá phổ biến trong nhà trường. Từ bắt nạt, chuyện nhỏ dễ bùng phát thành bạo lực học đường.
Một vấn đề đau đầu các thầy cô giáo, các vị phụ huynh và toàn xã hội được đề cập thành thơ. Có lẽ, chính vì nhìn qua, thấy bài phù hợp vấn đề giáo dục, nên người ta mới chọn bài này đưa vào chương trình.
Ở góc ngược lại, một số thầy cô cho rằng bài thơ không có chất thơ, diễn đạt lủng củng, luẩn quẩn. Dù thiện ý của tác giả rất đáng ghi nhận, nhưng bài thơ dở quá. Thành ra, mục đích tốt đẹp kia trở nên xa vời.
Tôi cho rằng một bài thơ dở mà buộc học sinh phải học, giáo viên phải dạy đều làm khổ cho cả hai. Và tất nhiên, nếu học sinh nhờ bố mẹ dạy cho cái hay, cái tốt của bài thơ cũng làm khổ luôn các vị phụ huynh.
Nhiều nhà giáo và nhà thơ khả kính như thầy Hoàng Dân, nhà thơ Đỗ Trung Lai đã có nhận xét bài thơ Bắt nạt. Tôi cũng cho rằng một bài thơ không hay, thậm chí là quá dở, không thể làm tài liệu dạy học cho học sinh.
PGS.TS Vũ Nho - nhà phê bình văn học, dịch giả, nhà thơ, nhà văn, nguyên cán bộ chỉ đạo văn của Bộ GD&ĐT, đạt giải C của Hội đồng Lí luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương 2016 (Ảnh: NVCC).
Xin nói rằng, tiêu chí để lựa chọn tác phẩm đưa vào sách giáo khoa không phải chỉ có một. Phải phù hợp lứa tuổi, phải phù hợp với mạch của chương trình... và phải hay, nhưng không nhất thiết là hay nhất.
Trước hết, xin tự giới thiệu về mình, không phải để khoe mẽ, mà để làm chứng cho cách điều trị bệnh đau nhức chân tay: Tôi là Võ Sư Judo, Đệ Tứ Đẳng (USA JUDO) và Huấn luyện viên Aikido Đệ Nhất Đẳng, Huấn luyện viên Tài Chi và Yoga. Từng dậy Judo tại Orange County Judo Training Center, thành phố Garden Grove, và hiện đang dậy Tài Chi và Yoga đến năm thứ 23 (Free cho những người lớn tuổi). Viết như vậy để chứng minh rằng tôi là một người khỏe mạnh trên trung bình. Tuy nhiên, theo Luật Trời, đến gần Bát Thập là đột nhiên đau nhức lung tung. Mới đầu là đầu gối trái, mà hồi còn trẻ, trong môt buổi đấu, tôi bị địch thủ đá vào phía chân dưới rất mạnh, khiến cho cả cái chân rời ra khỏi khớp gối, lủng lẳng như que củi. Tôi phải vào bệnh viện, bó bột cả tháng, sau lại nhờ một Võ Sư người Hoa điều trị mới đi đứng bình thường được. Nhưng bây giờ, bất ngờ cơn đau trở lại, nhức kinh khủng, dùng thuốc uống và xoa bóp huyệt đạo, không hết, phải đến bệnh viện chích STEROID mới hết đau. Vừa hết đầu gối trái, lại sang đầu gối phải! Đi khập khiễng. Lại đến chích Steroid. Không hết đau. Bác Sĩ lại chích GEL vào đầu gối để bớt cọ xát giửa các khớp xương, cũng chỉ bớt đi khập khiễng mà thôi. (Steroid là thứ thuốc chống xưng, nhưng có hại làm mục xương. Một năm chỉ được chích 2 lần; GEL: dung dịch nhờn như nhớt xe để bôi trơn giữa các khớp xương))
“Em mới làm trưởng bản mà. Bà con tín nhiệm quá, cứ giới thiệu rồi hô nhau mà bỏ phiếu, thế là em phải làm thôi. Mỗi khóa hai năm rưỡi, mà làm hết lòng là cũng lắm việc lắm bác ạ”. Anh Hà Văn Cảnh-Trưởng bản Năng Cát, xã Trí Năng, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa mở đầu câu chuyện với tôi như thế.
Trước khi gặp anh, tôi đã nghe mấy người dân ở bản giới thiệu vui rằng: “Bác cứ thấy anh nào người bóp vừa nắm tay, đấy chính là anh trưởng bản của chúng em đấy”.
Của đáng tội, Cảnh cũng giống tôi, vào loại “thấp bé nhẹ cân”, nên cứ nhìn dáng anh tôi ước chừng anh cũng chỉ cao khoảng 1m6 trở xuống, còn cân nặng chắc cũng không qua nổi năm chục ký. Bù lại, anh nhanh nhẹn mà nói chuyện lại rất dễ nghe. Cái chân chất của người Thái, lại là người đàn ông biết gánh vác công việc gia đình, khiến tiếng nói của anh với bà con luôn có trọng lượng là phải. Nhà anh có hai cô con gái, thì cháu lớn đang học đại học năm thứ hai tại thành phố Thanh Hóa, còn cháu nhỏ cũng đã học lớp 11 rồi.
Nói đến Nguyễn Bính, nhà thơ hương đồng gió nội, dường như người Việt Nam thuộc thế hệ chúng tôi trở về trước, không ai là không thuộc dăm ba câu thơ của ông. Nhiều câu thơ của ông đã ru vào lòng người, làm cho nhiều người tưởng đó là ca dao. Cuộc đời của ông cùng khổ, phiêu bạt giang hồ. Có thể nói, đời ông là một tấn bi kịch gắn liền với xã hội đương thời.
Nguyễn Bính sinh năm 1918 tại Nam Định, mất năm 1966 tại quê nhà. Ông chỉ thọ có 48 tuổi, nhưng ông đã để lại cho đời hàng ngàn bài thơ, hầu như bài nào cũng hay, cũng rung động lòng người. Ông viết rất nhiều thể loại, từ kịch, truyện ký, truyện thơ. Song có lẽ hay nhất là những bài thơ ông viết về nông thôn, về đồng quê.
Năm tháng tuổi trẻ của ông gắn liền với Nam Bộ với Hà Tiên, nơi có những nhà thơ Kiên Giang, Đông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết. Họ là những người bạn thân tình, giúp đỡ ông từ vật chất cho đến tình cảm trong những năm tháng phiêu bạt giang hồ. Những ngày lang bạt, giang hồ ấy, đã gây cho ông nhiều cảm hứng viết nhiều bài thơ thật cảm động và đau thương.
CỬA LÒ QUÊ EM Quê em ở Cửa Lò Nghe mà thấy...nóng ghê Thế mà mát lắm nhe Bốn mùa vui thật nhé. Biển cho ta nhiều cá Biển cho ta nhiều tôm, Cha chài lưới chiều hôm Mẹ cào ngao mờ sáng. Mùa hè về đầy nắng Người tắm biển thỏa thê, Cửa Lò thế mà mê Biển quê em xứ Nghệ.
TIẾNG VIỆT EM YÊU Tiếng Việt của em Thú vị lắm nhen Cùng một màu sắc Mà lại nhiều tên:
Ơ cái quần đen Mẹ gọi: thâm đất Màu đen của mắt Lại gọi mắt huyền Mái tóc đen tuyền: Tóc mây đấy nhé Chú mèo đen thế Lại gọi : mèo mun Chó đen gầm giường Lại kêu: chó mực Chú ngựa đen nhức Lại bảo:ngựa ô Gà đen hiền khô Lại kêu:gà ác.
Cùng một màu sắc Lại có nhiều tên Bạn hãy tìm xem
Còn tên nào nữa ?
HOA QUẢ TRONG VƯỜN
Ả Mít đáo để góc gai Anh Hồng vểnh cả bốn tai lên giời Thanh Long sừng mọc khắp người Cô Thị thu đến đem phơi áo vàng Thím Na mở mắt ngỡ ngàng Nhìn lão Bưởi trọc còn mang bụng bầu Góc vườn quấn quýt bà Trầu Vươn tay bám chặt ông Cau cao kều. Mỗi cây, mỗi quả đáng yêu Em mang nước tưới chia đều cho cây.
TRẦN THỊ TRÂM - NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI VĂN HỌC DÂN GIAN ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM
Nguyễn Thị Huệ (Trà Lý)
Sau nhiều chục năm giảng dạy & nghiên cứu tại Học viện Báo chí & Tuyên truyền, PGS-TS Trần Thị Trâm đã liên tục trình làng nhiều công trình nghiên cứu, phê bình văn học có giá trị. Năm 2022- sau 20 năm ấp ủ, thai nghén, chị lại tiếp tục cho ra đời chuyên luận: VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM SAU NĂM 1986- NXB Văn học, H.2022. Có thể nói rằng công trình này là nhát cuốc khai vỡ đầu tiên trên một vùng đất hoàn toàn mới: Vùng đất văn học dân gian Việt Nam đương đại. Chuyên luận bao gồm hai phần. Phần một: Văn học dân gian Việt Nam sau năm 1986 (chuyên luận) & Phần hai: Một số tác phẩm văn học dân gian Việt Nam chọn lọc từ sau năm 1986 (sưu tầm tuyển chọn).
Đọc cuốn sách, chúng tôi không chỉ khâm phục sự dày công sưu tầm, gom góp, tuyển chọn hàng trăm câu thành ngữ, tục ngữ, hàng trăm câu ca dao cùng hàng trăm truyện cười, …giữa cái mênh mông, bát ngát của đại dương văn học dân gian bao la ở dạng truyền miệng hoặc là văn bản ảo trên mạng mà còn thực sự tâm đắc phần chuyên luận với những nhận định đánh giá khá toàn diện về sự vận động và phát triển của văn học dân gian Việt Nam sau năm 1986. Người đọc đặc biệt thú vị trước những phát hiện khá sắc sảo, tinh tế về sự hóa thân của văn học dân gian trong các hình thức văn hóa hiện đại.