Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

NGUYỄN THANH SƠN VIẾT VỀ "THUYỀN"

 


Khi đọc cuốn THUYỀN của tác giả Nguyễn Đức Tùng mình đã định viết ít dòng cảm nhận. Nhưng vì bận một phần, một phần thấy cảm nhận của mình sao lại khác biệt với rất nhiều người trong làng Văn, mà mình thì vốn độc lập, chả ở làng nào. Nên, thôi. Biết đâu tranh luận lại thêm đau đầu.

Đúng là sách ra thì ầm ào ngay lúc ấy, đa số toàn bạn bè thân thiết của tác giả quảng bá ủng hộ. Nhưng những lời nói thật, chê thật, cảm nhận thật, hay trái chiều thì cứ từ từ, vài ba năm hay thậm chí vài chục năm mới phát tác.
Dưới đây là một bài phê bình mình tâm đắc vì nó nói trúng cảm nhận của mình.
(Sao Mai)
------------
VỀ THUYỀN CỦA NGUYỄN ĐỨC TÙNG
( Nguyễn Thanh Sơn)
Người ta bảo, có thể đọc tiểu thuyết Thuyền của Nguyễn Đức Tùng như đọc một bài thơ. Người ta quên bảo, đó là một bài thơ dở dài tới 400 trang giấy. Đọc Thuyền như đang đọc phiên bản văn xuôi “Hai sắc ti-gôn” của thời hiện đại mà nỗi đau đã được “tăng âm” bởi bối cảnh bi thảm của thuyền nhân Việt nam những năm đen tối cuối 80 của thế kỷ trước. Suốt bốn trăm trang tràn ngập xác chữ trống rỗng, màu mè, kiểu văn chương mô tả những người phụ nữ “đẹp một cách khả ái”, những con sông “đẹp như một giấc mơ”, rất nhiều “tình yêu miên viễn”, “mịt mù huyễn mộng”, “xác những con ong chết, đầy mặt đất, như những mảnh vỡ của một trái tim”, với bi kịch vượt biển được thêm nếm gia vị với những trữ tình ngoại đề từ mái trường Vạn Hạnh, tiệm hủ tiếu ven đường, sông Jordan trong kinh thánh đến giọng ca Thái Thanh và Ngô Thụy Miên, nhạc Phạm Đình Chương, thơ Trần Dạ Từ, văn Dostoevsky.
“Văn học dòng ý thức”- người ta bảo tôi vậy. Nhân vật chính cũng bảo “thời đại chúng ta thiếu mất cấu trúc của một câu chuyện kể”, thế nhưng “dòng ý thức” chắc sẽ không “cấu trúc” câu chuyện kể thành 55 “chương” hay tiểu khúc theo đúng một vòng tròn tuyến tính được tính toán, bắt đầu từ “Thầy bói” và kết thúc bằng một buổi “Gọi hồn’ (điềm báo và hồi quy), ở giữa là hải trình của nhân vật theo dấu chân đau thương của các thuyền nhân- quyết định ra đi- bến mua- hải phận quốc tế- cướp biển- dàn khoan-trại tị nạn-quê hương mới- trở về, một hải trình dập khuôn của muôn vàn các tác phẩm khi viết về thuyền nhân. Cho dù tác giả đã cố gắng dùng kỹ thuật để kết nối (cú ngã khi có tiếng chuông điện thoại, cái đau âm ỉ của sườn gợi nhớ mấy xương sườn gẫy trên tàu) hay lồng ám ảnh Liên Hương trong hầu hết hành trình này, thì có cảm giác “dòng ý thức” này cứ mắc cạn ở một trạng thái lửng lơ nhạt nhẽo sình lầy. Có lẽ vì về cơ bản, cái “dòng ý thức” của tác giả vốn dĩ không sâu sắc, mà là một đống hỗn độn của những suy nghĩ rối loạn với tần suất cao của việc lặp lại liên tục của tuyên bố về những cái “lớn nhất” (“sự đau khổ lớn nhất”…”khát vọng lớn nhất”…”niềm vui lớn nhất”…) và những “đại tự sự” kiểu “những hi vọng đã chết. Triết lý, tôn giáo, sự hi sinh của Chúa trên thập tự, bài giảng cuối cùng của Phật, tình yêu nước, sự rời bỏ, sự trở lại đã chết” mãi hỏi đáp về tự do “ước vọng lớn nhất của con người là tự do…tự do không phải là một ý tưởng. Tự do là một kinh nghiệm cá nhân, không chia sẻ.” hay mục đích của sự viết “tôi viết vì người khác, một người hoàn toàn biệt tăm mất dạng, hay đã chết…”. Dòng ý thức này được mặc định là về một nỗi đau âm ỉ khôn nguôi, nhưng cái cách nó lãng mạn hóa cái chết của Liên Hương ”nàng lướt xuống biển như một con chim én”, hay kết thúc câu chuyện bi thảm về Nhỏ Xíu bằng suy tư hư vô “tôi biết rằng Xíu đang đi qua một đoạn đường khổ ải chỉ có một mình nó, không ai ở chung quanh, không ai biết, không ai nhìn thấy điều gì đang xảy ra, chỉ có nó nhìn thấy điều ấy, những cạm bẫy, những thú dữ, những lửa, chỉ mình nó biết. Con người đi tới cái chết hoàn toàn cô độc…” so sánh hình ảnh của người mẹ đêm khóc con “nước biển chính là những giọt lệ của mẹ tôi, tích tụ qua hàng ngàn năm, của những người phụ nữ mất con trên thế gian này” hoặc liên tưởng đến “ông già và biển cả” của Hemingway khi nhìn bóng lưng của người đánh cá kiêm cướp biển động lòng trắc ẩn cứu giúp những người tị nạn “không phải vận lộn với con cá khổng lồ kia mà với số phận của chính mình” (sic!) thì đó là dòng ý thức tự kỷ ái narcissism của cái tôi tự sự chiếm dụng không gian đau khổ tập thể để củng cố hình ảnh chiều sâu nội tâm của chính nó chứ không phải hố thẳm của một nạn nhân trong một thời đại bi thảm được chia sẻ thông qua những kinh nghiệm sống thật sự.
Nếu có thể nói gọi những độc thoại lan man của nhân vật chính trong Thuyền khi đang chạy thục mạng trốn đám người đuổi bắt “tình yêu của tôi là tình yêu đối với các chi tiết của sáng tạo và sự trở lại và gìn giữ cuộc đời, một cuộc đời thường xuyên làm bạn tan vỡ. Tôi lắng nghe đất thở. Đêm sâu, bạo liệt, không có gì, chỉ có các sự vật, giữ lại, buông ra, khép lại, mở ra. Có một giàn nhạc chơi đâu đó trong trời đất”, hay suy tư dưới mũi súng AK của cô du kích “Trong một đám đông bạo lực xảy ra mau lẹ hơn là trong rừng rậm. Bạo lực giữa người và người nguy hiểm hơn giữa con người và thiên nhiên. Sự tra tấn nếu được phép sẽ thúc đấy thêm sự tra tấn. Tội ác được nuôi dưỡng sẽ sinh ra hàng ngày tội ác khác. Bạo lực và dối trá sinh ra tội ác chống lại con người “ là dòng ý thức, thì đó là dòng ý thức phi tuyến lộn xộn được tạo ra bởi những câu văn dài thượt nhưng không hề có kiến trúc thời gian.
Sau khi đã đọc những masterpiece văn học về thuyền nhân như “Pháo thuyền trên giòng sông Yang Tse” của Trần Vũ hay ít khốc liệt hơn như Con thuyền của Nam Lê, kiên nhẫn để có thể đọc hết Thuyền của Nguyễn Đức Tùng là một sự giày vò. Ký ức bi thảm mà những thuyền nhân phải gánh chịu trong truyện ngắn của Trần Vũ chọc thẳng vào ta như một thanh sắt nung đỏ và để lại một vết sẹo vĩnh viễn. Ngôn ngữ “hồng hồng tuyết tuyết” của Nguyễn Đức Tùng ngược lại, thổi phù phù một cách đỏm dáng lên mỗi một thương tích của hồi ức vượt biển với những suy tư “dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi”. Chính vì vậy, nhân vật Liên Hương dù là nỗi ám ảnh của cuộc đời nhân vật chính, nhưng chẳng đủ tạo nên áp lực tâm lý, bởi những câu hỏi trở đi trở lại “anh sẽ nhớ em chứ…anh có đến dự tang lễ của em không…” không gắn với những hồi ức thực, mà với những suy tưởng vẩn vơ. Rồi vô số những người nữ đã đi qua cuộc đời sau này của nhân vật, những Kyra, Jen hay Ada đều không gợi lại hình bóng Liên Hương, họ là những người phụ nữ khác, khao khát khác, và ám ảnh của nhân vật chính đối với họ là ám ảnh khác chứ không phải ý niệm về một hình bóng của quá khứ mà nhân vật chính không thể vượt thoát.
Nếu có một hình ảnh có thể gọi là tiêu biểu nhất cho nhân vật chính trong Thuyền, thì đó là hình ảnh “tôi trốn trong tà áo của mẹ tôi. Tôi nhìn thấy những người phụ nữ qua khuôn mặt của mẹ tôi, thời trẻ, khi đã về già, cảm thấy có lỗi khi nghĩ về họ”. Nhân vật chính nói “không phải ta đi tìm tuổi thơ của mình mà tuổi thơ đi tìm ta, tìm và lay gọi”. Tôi tôn trọng cái tính nữ trong dòng độc thoại của anh, nhưng chúng ta phải gọi đúng sự thật, đó không phải tuổi thơ, đó là ám ảnh của sự dịu dàng, của việc văn chương hóa theo cái nghĩa thất bại của từ này của một trong những bi kịch đau xót nhất của người Việt trong thế kỷ XX. Có lẽ bi kịch lớn nhất của văn chương không phải là viết về đau khổ, mà là biến đau khổ thành một thứ nhan sắc để ngắm nhìn. Khi ký ức tập thể chỉ còn là phông nền cho cái tôi soi bóng, con thuyền của Nguyễn Đức Tùng trôi dạt qua đại dương nhưng chưa hề rời bến của bản ngã. Và rốt cuộc, điều chìm xuống sâu nhất không phải thân phận con người, mà là sự thật của nỗi đau.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét