Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

MỘT SỐ HÌNH ẢNH NGÀY THƠ VIỆT NAM lần thứ 13

MỘT SỐ HÌNH ẢNH NGÀY THƠ VIỆT NAM lần thứ 13
Năm nào Vũ Nho cũng dự ngày thơ. Chủ yếu để gặp gỡ bạn bè gần xa, đồng thời lấy cảm hứng để làm việc. Năm nay cũng vậy. Đã đưa 2 anbum ảnh lên Facebook ( facebook.com/vu.nho.18). Ở đây chỉ đưa một số ảnh để lưu.

Với các bạn thơ

Ở quán thơ  của CLB Tháp Bút

Các bạn thơ quê gốc Thái Bình

Với con gái, TS Vũ Thanh Nhã

Chúc mừng 8 tháng Ba!



Chúc mừng 8 tháng Ba!
CHÚC CÁC BÀ, CÁC MẸ, CÁC CHỊ, CÁC EM, CÁC CHÁU
Sức khỏe, Tươi trẻ, Hạnh phúc!
Chủ trang vunhonb.blogspot.com

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

Bulukhin Nguyễn hầu chuyện bác BOBI

Thứ Sáu, ngày 06 tháng 3 năm 2015

HẦU CHUYỆN BÁC BOBI



Từ điển Biểu tượng Văn hóa thế giới của Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, nxb Đà Nẵng 1997


Con dấu của Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm, có bụi trúc ở giữa

Sau một thời gian im hơi lặng tiếng bổng nhiên bác BOBI “tái xuất giang hồ” và đọc khá kỹ bài TẢN MẠN TRE của bu. Bác có nhận xét  khá dài, với câu cuối cùng: “BOBI tôi có vài suy nghĩ và thắc mắc như vậy mong bu tiên sinh chỉ giáo”.  Bu tui tóm tắt cái “thắc mắc như vậy” của bác BOBI như sau:
I- Câu “vị xuất thổ thời tiên hữu tiết, đáo lăng vân xứ dã hư tâm” đối không chuẩn. Vị (未) là phó từ có nghĩa “chưa” không thể đối với đáo (到) là động từ có nghĩa đến. Xuất (出) là động từ chỉ sự xuất hiện, không thể đối với lăng (崚) là tính từ chỉ sự cao vút. Như vậy đây không phải là câu đối  mà là 2 câu thơ  vịnh tre trúc.
II- Nếu ví tre trúc như người, thì hai câu thơ trên đã đánh giá rất thấp tính cách con người, bên ngoài có vẻ cứng cáp nhưng thực chất lòng rổng không. BOBI Chưa hình dung ra được tại sao “những mắt tre trúc lại là một thứ tuệ nhãn nhìn thấu suốt triết lí sâu xa.” Tài liệu nào nói ông Ngô Đình Diệm treo câu đối trên ở đầu giường ngủ.
      Bu tui xin hầu chuyện bác BOBI theo từng mục trên:

TẢN MẠN TRE của Bulukhin Nguyễn

Thứ Năm, ngày 26 tháng 2 năm 2015

TẢN MẠN TRE


Thánh Gióng



Trong Facebook nhà Phan Khiêm, ông đạo diễn phim truyền hình Sói Đồng Hoang hỏi bu
Bác Bu Lu Khin có nhớ cái vụ câu đối mà em đưa vào phim BÍ THƯ  TỈNH  ỦY không. Đó là câu đối mà ông Ngô Đình Diệm vẫn treo trên đầu gường ngủ
"Vị xuất thổ thời tiên hữu tiết
Đáo lăng vân xứ dã hư tâm"
Thưa rằng bu tui không chỉ nhớ mà sau khi xem phim  Bí thư Tỉnh ủy đã viết TẢN MẠN TRE đăng trên blog Multiply, trên báo tết Quảng Bình. Nay tái bản có chữa lại, mời các bạn đọc và chỉ giáo
***
Cây tre đi vào huyền thoại và gắn bó với người Việt đã bao đời nay. Có lẽ phải từ thời Thánh Gióng nhổ tre phá tan giặc Ân, và hoàng tử Lang Liêu dùng lạt tre gói bánh chưng dâng vua Hùng. Đến thế kỷ 20 tre lại theo người ra trận. Gậy tre tầm vông theo bộ đội đánh Pháp. Chông tre của đồng bào Miền Nam đánh Mỹ. Măng tre đi vào bữa ăn người chiến sĩ, lá tre tươi nguỵ trang che mắt quân thù, lá tre khô được anh nuôi thay củi đun bếp. Sang thời hiện đại, đụng vào đâu trong gia đình người Việt cũng gặp tre. Từ cái đũa tre, tăm tre, nơm bát cá, cho đến cái chổi tre, quạt nan tre… Trong ẩm thực, con cháu nhà tre làm vui lòng bạn bè năm châu bốn biển bằng những thực đơn nhắc đến đã thấy ngon: Bún măng, măng xào củ hành, măng kho thịt. Tre đi vào văn hoá địa danh với những: Tỉnh Bến Tre , hồ Trúc Bạch, Bến Nứa, Trúc Lâm Yên Tử, Khe tre, Suối Lồ ô...Người Nhật xem mận, thông, và tre, là những cây báo điềm lành. Tre cũng là yếu tố chính trong hội họa đời Tống, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo Thiền.  Người Bamoun và người Bamiléké thuộc Ca mơ run (Phi châu)  gọi mỗi đốt tre là một nụ cười (Guis) - biểu tượng của niềm vui sống giản dị, không bệnh tật chẳng ưu tư (1). Thế nhưng, các nhà thông thái đã tốn khá nhiều giấy mực để bàn về cây tre. Cũng cái cây ấy nhưng khi này tre, khi khác trúc. Sách "Điển cố văn học" (2) ở trang 412 có câu: "chặt hết trúc trên núi Nam Sơn, chẻ thành tre cũng chẳng đủ để ghi tội ác Tuỳ Dượng Đế"(3). Hoá ra tre là mảnh nhỏ của trúc ?. Từ điển tiếng Việt ở trang 1028 ghi: "Trúc - tên gọi chung của các loài tre nhỏ, gióng thẳng". Thành ngữ "Trúc chẻ ngói tan" được từ điển này giải thích: "Vì thế quân địch mạnh như chẻ tre, đánh đến đâu quân đối phương tan rã đến đó".

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015

TÒM TEM ...THÌ...TÒM!


TÒM TEM… THÌ… TÒM!...
                                                                                    
                                                                             ĐƯỜNG VĂN
Đang khi lửa tắt, cơm sôi,
Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem!?
Bây giờ, lửa đã cháy lên,
Lợn no, con nín, tòm tem… thì… tòm!
                                                                                     (Ca dao)

Người Việt Nam ta, mấy ai không biết bài ca dao vui nổi tiếng này? Vậy nhưng, 2 cặp lục bát dân gian ấy vui, hóm ở chỗ nào?
Tôi nghĩ, trước hết, nó tạo được 2 tình huống nghệ thuật trữ tình – kịch thăng hoa từ thực tế cuộc sống phổ biến của các gia đình nông dân Việt Nam tự ngàn xưa cho tới nay, đã, đang và sẽ còn có thể xảy ra như thế…! Qua đó, nói lên truyền thống và tinh thần vén khéo, đảm đang, tháo vát chăm lo việc nhà, thương chồng, yêu con, chịu thương, chịu khó, lạc quan yêu đời, vui sống của những người vợ, người mẹ, người phụ nữ Việt Nam. Nói lên bằng lời lẽ, hình ảnh dân gian quen thuộc, giản phác, hóm hỉnh và đầy bất ngờ, thú vị theo lối tạo đối xứng các sự việc, chi tiết và nối tiếp theo dòng mạch thời gian sinh hoạt gia đình nông thôn.

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

ĐI MỸ Bút ký của Phạm Văn Đoan


ĐI MỸ
                                                           Bút ký của Phạm Văn Đoan

Tôi đã nhiều lần ra nước ngoài công tác nhưng chuyến nào cũng đi cùng đoàn, thủ tục đều do một người làm, sự lo lắng không quá căng thẳng và hồi hộp như chuyến đi Mỹ lần này. Tôi sang Mỹ theo lời mời của trường đại học Mc Nee State University để dự lễ trao bằng tốt nghiệp cho con trai tôi vào ngày 17/5/2014. Chuyến đi này từ việc làm thủ tục xuất nhập cảnh, lối đi ra máy bay, viết tờ khai hải quan…đều phải tự làm. Tiếng Anh thì tơ lơ mơ, viết một câu lại hỏi một câu, mình nói họ không nghe được đã đành, mà họ nói gì mình cũng chẳng hiểu. Đã vậy, lộ trình lại loằng ngoằng. Điểm cần đến là bang Louisana nhưng ở nhà mọi người lại khuyên: Thôi thì một công đôi việc, tiện thể bay sang New York trước rồi sang California để thăm họ hàng lấy một lần chứ đã sang đến Mỹ mà không đến những nơi đó là không được. Thông tin trên mạng bây giờ rộng rãi và nhanh chóng lắm, tôi mới qua vòng phỏng vấn mà mọi người bên ấy đã biết và háo hức chờ đón tôi sang.
Từ sân bay Tân Sơn Nhất máy bay cất cánh lúc một rưỡi đêm, qua Nhật phải đợi ba giờ mới chuyển máy bay sang Mỹ. Máy bay hạ cánh tôi phải bám sát một người cùng đi để theo họ đến chỗ lấy hành lý. Lấy hành lý xong lại lúng túng tìm đường ra, vì phải đi nhiều chặng bằng nhiều phương tiện mới ra đến cổng. Lúc này tôi ở vào tình trạng đơn thương độc mã, đúng như Triệu Tử Long ở trận Tương Dương. Mà không phải thế, Triệu Tử Long lúc ấy chỉ  cần dùng đến sức mạnh để phá vây, còn tôi bây giờ có dùng đến sức mạnh cũng chẳng giải quyết được việc gì. Đang nhớn nhác, một người Mỹ da đen cao to, mặc đồng phục an ninh của sân bay lại gần hỏi tôi mấy câu tiếng Anh, chẳng hiểu anh ta nói gì, tôi vội đưa giấy tờ cho anh ta xem và cũng bập bẹ mấy câu tiếng Anh nhưng phải khua chân múa tay để chuyển tải ngôn ngữ thay cho sự khiếm khuyết của ngữ điệu lúc phát âm. Anh ta cũng hiểu được và dẫn tôi nhảy mấy chặng xe điện đưa tôi ra tận cổng. Anh ta quay về, lại phát sinh tình huống khó xử mới, tâm thần tôi thật sự bấn loạn vì lo lắng. Biết đi đâu bây giờ, lạ nước lạ cái, lạc lõng bơ vơ, ngôn ngữ lại bất đồng, trông trước trông sau không tìm ra cái cớ mỏng manh nào để bấu víu. Lường trước được tình huống này ở nhà đã phải mang đi hai cái điện thoại mà không có cái nào gọi được, mặc dù khi đi đã phải ra bưu điện Vũng Tàu nạp mỗi cái hai triệu rưỡi tiền trả trước của hai hãng Vinafone và Viettel, sau đó cài đặt hệ thống Roaming để liên lạc quốc tế, ghi các số cần liên hệ ở cả Việt Nam và Mỹ vào đó, đã thử đi thử lại chắc chắn, tin cậy lắm rồi, mà đến lúc này đều vô dụng, gọi cho số nào cũng không có tín hiệu. Lúc cần đến nó nhất thì nó lại vô dụng.

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

"Gửi em, cô thanh niên xung phong" của Phạm Tiến Duật với lời bình


Gửi em, cô thanh niên xung phong
                                                                                                          Phạm Tiến Duật

Có lẽ nào anh lại mê em
Một cô gái không nhìn rõ mặt
Đại đội thanh niên đi lấp hố bom
Áo em hình như trắng nhất

Người tinh nghịch là anh dễ thân
Bởi vì thế có em đứng gần
Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là “Thạch Nhọn”
Đêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón

Em đóng cọc rào quanh hố bom
Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn
Tiếng Hà Tĩnh nghe buồn cười đáo để
Anh lặng người như trôi trong tiếng ru

Tranh thủ có ánh sáng đèn dù
Anh vội nhìn em và bạn em khắp lượt
Mọi người cũng tò mò nhìn anh
Rồi bóng tối lại khép vào bóng tối

Em ơi em, hãy nghe anh hỏi
Xong đoạn đường này các em làm đâu?
Anh đã tìm em rất lâu, rất lâu
Cô gái ở Thạch Kim, Thạch Nhọn
Khăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm
Sách giấy mở tung trắng cả rừng chiều

Anh đã đi rất nhiều, rất nhiều
Những con đường như tình yêu mới mẻ
Đất rất hồng và người rất trẻ
Nhưng chẳng thấy em, cô gái ở Thạch Nhọn, Thạch Kim

Những đội làm đường hành quân trong đêm
Nào cuốc nào choòng xoong nồi xủng xoảng
Rực rỡ mặt đất bình minh
Hấp hối chân trời pháo sáng
Đường trong tim anh in những dấu chân

Chiếc võng bạt trên đường hành quân
Anh đã buộc nhiều cây xoan cây ổi
Lại đường mới và hàng nghìn cô gái
Ở đâu em tinh nghịch của anh?

Bụi mù trời mùa hanh
Nước trắng khe mùa lũ
Đêm rộng dài là đêm không ngủ
Em vẫn đi, đường vẫn liền đường

Cạnh giếng nước có bom từ trường
Em không rửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhiều bom nổ chậm
Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà
Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa
Thương em, thương em, thương em biết mấy…

Dừng tay cuốc khi em ngoảnh lại
Sẽ giật mình đường mới ta xây
Đã có độ dài hơn cả độ dài
Của đường sá đời xưa để lại
Sẽ ra về bao nhiêu cô gái
Một ngày mai đường sẽ đứng chơ vơ
Để cho đời sau còn thấy ngẩn ngơ
Trước những công trình ngoằn ngoèo trên mặt đất

Ơi em gái chưa một lần rõ mặt
Có lẽ nào anh lại mê em
Từ cái đêm Thạch Nhọn, Thạch Kim
Tên em đã thành tên chung anh gọi:
Em là cô thanh niên xung phong
                                             Đức Thọ, 1968

Lời bình của Hoàng Dân
Đây có thể chưa phải là một bài thơ tình như bài “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây” nhưng lại là một bài thơ rất nặng tình đồng đội khác giới. Tình đồng đội nói chung vốn đã rất thiêng liêng, tình đồng đội khác giới còn có thêm chút xao xuyến, bâng khuâng rất khó gọi tên cho chính xác. Là tình đồng chí hoàn toàn vô tư ư? Không hẳn thế. Là tình yêu ư? Cũng chưa chắc!

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Triệu Lam Châu THAM DỰ NGÀY THƠ TẠI CỐ HƯƠNG CAO BẰNG



THAM DỰ NGÀY THƠ TẠI CỐ HƯƠNG CAO BẰNG

Ngày 28 tháng 2 Triệu Lam Châu cùng gia đình đi xe máy vào Trùng Khánh thăm thác Bản Giốc, một thắng cảnh tuyệt vời của Tổ Quốc Việt Nam yêu quý.
Đang say sưa thưởng ngoạn thác nước cao vời, hùng vĩ và tuyệt đẹp – thì tôi nhận điện thoại từ nhà văn Tày Hoàng Quảng Uyên (Tác giả của Bộ tiểu thuyết trường thiên hai tập Mặt trời Pác Bó – Giải phóng, nói về sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác Hồ ở Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp).
- A lô, Châu đang ở đâu?
- Chào anh Hoàng Quảng Uyên, em đang cùng gia đình thăm thác Bản Giốc.
- Chiều ngày 2 tháng 3 tức ngày 12 âm lịch, mời Châu đến Sở Văn hoá thông tin Cao Bằng dự Ngày thơ nhé! Châu biết Sở Văn hoá ở đâu chưa?
- Ở phố có hàng cây dã hương thơm, đối diện với Trường Mầm non 3/10 phải không ạ?
- Vâng, ở đấy. Châu hãy chuẩn bị đọc một bài thơ và hát một bài tác phẩm của mình. Thế nhé!
- Vâng, em rất hân hạnh, được dự Ngày thơ tại quê nhà.

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

NHA TRANG của NGUYỄN THỊ MAI với lời bình TRẦN TRUNG

          

NHA TRANG*
            Nguyễn Thị Mai
Cũng bao la gió ngàn trùng
Mà trong xanh đến tận cùng trăng sao
Tuần Ngâu không hạt mưa nào
Dành riêng nắng, đón tôi vào Nha Trang
Mắt vừa chạm nỗi mênh mang
Đã nghe khơi thẳm xốn xang mặn mòi
Đã mềm tay sóng vẫy tôi
Ngàn chân sóng chạy reo lời đại dương
Như mình con của quê hương
Xa về được biển yêu thương đón mời
Rưng rưng...tôi hóa không lời
Lặng yên đi giữa rực trời mẫu đơn
Biết còn thanh khiết nào hơn
Cái hương hoa sứ ngát vườn đêm thâu
Cách xa mấy chục giờ tàu
Mà Nha Trang biết lần đầu,
                                           thương chưa!
                                   
                                      Nha Trang, 8/1999.


*Thơ Nguyễn thị Mai trong tập “Tầm xuân mắt biếc”-
Nhà xb VH-2014.

LỜI BÌNH CỦA TRẦN TRUNG

`NHA TRANG-MÊNH MANG, ẤM ÁP
                                Trần Trung
  Với hàng chục tập thơ, từ “Thời hoa gạo cháy”(NXB Phụ nữ-1995) đến 2 tập liền “Tầm xuân mắt biếc” và “Không xóa nổi lời hoa” cùng được ấn hành năm 2014,Nguyễn Thị Mai  để lại ấn tượng ấm lành trong tôi về những miền đất mà chị đã qua trên quê hương-đất nước mình. Và, mỗi địa danh lưu dấu bước qua của nhà thơ nữ này,ở những mức độ khác nhau về cảm xúc cùng suy tư của người thơ, người đọc còn nhận ra tình cảm hai chiều giữa Đất và Người.Cũng bởi thế, Nguyễn Thị Mai đã để lại dư vị xúc động,khó mờ phai từ những bài thơ ngỡ tưởng chỉ là sự ghi lại-nhất là những bài được viết theo điệu lục bát.

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

NHÌN... TRONG TAY ÁO ( lời bình của Vũ Nho cho 2 câu ca dao)

                                                                         Vũ Nho - Chủ trang
NHÌN... TRONG TAY ÁO
Thương em chẳng biết để đâu
Để vào tay áo lâu lâu lại dòm

Lời bình của Vũ Nho
CÂU CA DAO NÀY NÓI NỖI NHỚ THƯƠNG, NÓI TẤM LÒNG CỦA NGƯỜI CON TRAI CŨNG KHÁ  LÀ ĐỘC ĐÁO. NĂM 1995, NĂM TÔI CÓ DỊP LÊN LẠNG SƠN, RA QUẢNG NINH, TỚI BẮC THÁI, VÀO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, TÔI ĐEM CÂU CA NÀY ĐỂ THỬ THÁCH CÁC BẠN HỌC SINH LỚP 9, CHỦ YẾU LÀ TRƯỜNG CHUYÊN. CÓ MỘT ĐIỀU LÍ THÚ : PHẦN LỚN CÁC EM ĐỀU CHO VẬT BỎ VÀO TAY ÁO LÀ MỘT VẬT KỈ NIỆM, VÍ NHƯ TẤM KHĂN, TÚI ĐỰNG TRẦU, CÀNH KIM THOA, CHIẾC LƯỢC, CÁI NHẪN, MÓN TÓC THỀ...
RẤT ÍT EM NGHĨ RẰNG CHÀNG TRAI ĐỂ "TÌNH THƯƠNG" VÀO TAY ÁO. HẦU NHƯ  KHÔNG CÓ EM NÀO NGHĨ  ĐẾN CHUYỆN CHÀNG TRAI BỎ CÔ GÁI VÀO TAY ÁO MÌNH. NHƯ THẾ, TRONG QUAN NIỆM CỦA CÁC EM, "VẬT BỎ TRONG TAY ÁO LÀ VẬT KỈ NIỆM, LÀ MỘT VẬT CỤ THỂ NHỎ NHỎ, XINH XINH".