Cuộc chiến thứ hai của
người lính
(Viết về
chiến tranh từ cái nhìn đương đại – trường hợp Hoàng Dự)
- BÙI
VIỆT THẮNG
VIẾT VỀ CHIẾN TRANH TỪ CÁI NHÌN ĐƯƠNG ĐẠI
Thực tiễn văn học xác nhận sự trở lại ngoạn mục của đề tài chiến tranh trên văn đàn Việt Nam đương đại với hai nguyên tắc viết đạt tới hiệu năng – hiệu lực – hiệu quả nghệ thuật: Dịch chuyển chiến tranh từ chiến địa vào mỗi căn nhà và tiếp cận “vi lịch sử” trong thời hậu chiến. Khuynh hướng nghệ thuật này được bện rễ từ thành tựu của văn học đổi mới, biểu đạt tập trung trong thể loại văn xuôi với các tác phẩm gây nhiều tiếng vang và ấn tượng: Đội hành quyết của Thái Bá Lợi, Bến không chồng của Dương Hướng, Đêm làng Hạ Nhân của Sương Nguyệt Minh, Trên đất kẻ thù của Lê Lan Anh, Tiểu thuyết đàn bà của Lý Lan, Mảnh vỡ của mảnh vỡ của Vĩnh Quyền, Nhiệt đới gió mùa của Lê Minh Khuê, Người yêu dấu và những truyện khác của Dạ Ngân, Lạc vào giông bão của Phương Văn, Quay đầu lại là bờ của Hữu Phương, Hương của Nguyễn Thụy Kha, Tình yêu vĩnh cửu của Trần Thiên Hương, Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín của Nguyễn Một, Hai chồng và Huyền diệu tình người của Hoàng Dự. Dấu vết chiến tranh của Từ Nguyên Tĩnh,...
Đặc điểm
chung của các tác phẩm viết về chiến tranh theo khuynh hướng nghệ thuật này là
giảm thiểu “đại tự sự” có tính chất sử thi, hoành tráng, toàn cảnh (panorama)
với những vấn đề vĩ mô về số phận của nhân dân, cộng đồng; khám phá tâm thức và
tâm lý cũng như hành vi của những trận cuồng phong lịch sử như “xung kích”, “vỡ
bờ”, “bão biển”, “vùng trời”, “chiến sĩ”, “mặt trận trên cao” dấu chân người
lính”, “Thôn ven đường”, “dòng sông phẳng lặng”, “rừng U Minh”, “hòn đất”, “đất
lửa” (những tác phẩm ghi dấu một thời đáng nhớ). Cấu trúc tác phẩm theo khuynh
hướng nghệ thuật viết “vi lịch sử” này có sự dịch chuyển rõ nét: Từ lịch sử sự
- kiện có tính biên niên chuyển sang lịch sử tâm hồn, lịch sử được nhìn qua
lăng kính số phận những cá nhân gắn với các tế bào xã hội quan trọng – mỗi gia
đình, mỗi căn nhà, mỗi hạng ổ của con người trong hiện thực đời sống có tính
cộng sinh – nghiệm sinh – hiện sinh, một hiện thực vô bờ bến phát triển theo xu
hướng ngày càng phức tạp hơn, khó nhận thức hơn thậm chí có thể dẫn tới bất khả
tri. Nghệ thuật hiện đại phát triển theo quy luật cá thể hóa sâu sắc từ vai trò
của chủ thể sáng tạo của nghệ sỹ cũng như khách thể - cái được phản ánh, thậm
chí quan tâm tới tính chất bất bình thường, phi logic của nó trong diện mạo
“cái dị biệt” (grotesque). Hiểu là cái điển hình có thể không phải là cái phổ
quát mà là cái dị biệt, đơn nhất, không lặp lại.
NHÀ VĂN HOÀNG DỰ VÀ LỐI NÉO VÀO VĂN CHƯƠNG
Hai chồng (2025) và Huyền diệu tình
người (2025) của Hoàng Dự là hai cuốn tiểu thuyết ngắn (199 trang và 133
trang), chúng phù hợp với cơ chế của văn hóa đọc hiện nay trong cuộc cạnh tranh
khốc liệt với văn hóa nghe nhìn đang bành trướng trong bối cảnh văn hóa đại
chúng.
Huyền diệu tình người là câu chuyện đời người, trong đó tác giả đã bắt mạch
chuẩn chính vào thế giới nội tâm của một gia đình sau chiến tranh – gia đình bà
Nhàn. Vũ con trai bà Nhàn trở về sau chiến tranh và Thanh, chịgái Vũ, có người
yêu (anh Đoàn) hy sinh trong chiến trận. Tình cảnh này đúng như lời cố Thủ
tướng Văn Văn Kiệt đã chia sẻ với tấm lòng độ lượng nhân ái cao sâu với đồng
bào của mình cùng da vàng máu đỏ, cùng con cháu dòng máu Lạc Hồng “có triệu
người vui và cũng có triệu người buồn”. Tình cảnh của gia đình bà Nhân đúng với
trạng thái lịch sử của đất nước, nhân dân như thơ Tố Hữu “Việt Nam ơi máu và
hoa ấy/ Có đủ mai sau thấm những ngày”. Việt Nam máu và hoa! Cảm xúc của chiến
sĩ Vũ ngay trở về đoàn tụ gia đình không có gì cảm động hơn "Vũ cũng rơm
rớm nước mắt, không chỉ vì niềm vui vì mình là người đã may mắn sống sót sau
chiến tranh để trở về gặp mẹ, mà chính là vì anh thấy mẹ đã quá già, già trước
tuổi ngoài năm mươi của mẹ rất nhiều, Vũ biết rất rõ, vì sao mẹ lại già như
vậy. Tóc mẹ bạc trắng, gương mặt của mẹ, từ trán, hai bên khoé mắt và cả hai
bên má hằn những nếp nhăn. Có lẽ sự vất vả và lo lắng quán quýt quanh năm bên
thửa ruộng cùng những khoảnh mẹ gầy gò, già nhanh đến vậy. Chỉ là sự chờ đợi
mòn mỏi, sự nam nớp lo sợ đứa con trai duy nhất ở ngoài mặt trận có qua được
mũi tên hòn đạn trở về mới làm cho mẹ tiều tuỵ đến thế”. Không cần phải lên
tiếng tố cáo, nhưng hình ảnh người mẹ già nua trước tuổi vì sống trong bất an,
bất ổn, lo sợ cho sinh mệnh của đứa con trai duy nhất của mình, đã nói đủ về sự
tàn khốc của chiến tranh như là điều bất bình thường trong đời sống xã hội loài
người không ai mong muốn đã nghiền nát tất cả. Văn chương một thời có vụ nhiệt
thành cho tinh thần sẵn sàng xả thân quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, thì nay
nghiêng về ngợi ca sự sống, giá trị của sinh mệnh con người. Ai đã cướp đi tuổi
xuân của người mẹ như mẹ Nhân? Ai đã cướp đi hạnh phúc của người con gái tuổi
trăng tròn như chị Thanh? Câu trả lời... Chiến tranh! Nên thể, trong tiểu
thuyết hậu chiến, xu hướng giảm thiểu tối đa giọng điệu sùng kính như ở hoa
chiến tranh trong hình ảnh “đường ra trận mùa này đẹp lắm”.
Sống sót, trở về sau chiến tranh, bây giờ Vũ
là trụ cột của gia đình. Cuộc chiến mới của anh là bằng mọi cách, mọi nỗ lực
hồi sinh sự sống, mưu cầu hạnh phúc cho bản thân và những người thân yêu ruột
thịt. Vũ đã lấy vợ, có con sau một cuộc vượt vũ môn (chữa trị dứt điểm bệnh sốt
rét rừng thời ở chiến trường mắc phải), Vũ đã vun vén và tác thành cho chị
Thanh với anh Tú (vợ chết vì trong bệnh) một tổ ấm mới (dù chị Thanh bị bệnh
nan y nên không có con). Chưa hết, Vũ cũng vợ se duyên cho mẹ đẻ của mình với
thầy Ban thầy giáo cũ của Lan) dựng xây tổ ấm mới khi cả hai tuổi đã qua dốc
đời người, đưa các bậc sinh thành thoát khỏi cảnh cô đơn khi về già. Vũ đã kỳ
công cùng với nhiều người tốt khác "phục sinh" ông Tân từ thế giới âm
ty về đương gian để động viên bố mẹ già sống trong hy vọng cuối đời về con cái
cháu chắt. Một vở bi kịch lạc quan lấy đi nhiều nước mắt của người đọc. Nếu như
chiến tranh với quy luật khắc nghiệt của nó đã hủy diệt tan bạo sự sống, trong
hoàn cảnh đó con người không tránh khỏi bị ảnh hưởng đến nhân tính do cái bất
bình thường chi phối nghiệt ngã thì trong điều kiện đời sống thời bình, con
người có điều kiện trở lại sống bình thường, cân đối hài hòa cả tính người và
tình người như hai mặt của đời sống xét từ bản thể. Nói người lính trở về sau
chiến tranh với cuộc chiến mới chính là nói về cuộc đấu tranh kiên trì và vĩ
đại vì một sự sống không bao giờ chán nản, không bao giờ bị hủy diệt. Thêm một
hàng chông để nói: có thể không hiện thực khi “bắt bọ gẫm thì hoa ri ngang
trái” như vậy, kiếm lối ra thì không còn tình yêu và hạnh phúc nỉ. Nói huyền
diệu tình người như nhan đề tác phẩm (Huyền diệu tình người) là nói về sự tuẫn
tiết của người phụ nữ đặc biệt, độc đáo như cô giáo Chung, một mình nuôi con
của người yêu (một liệt sĩ), dù không hề có quan hệ huyết thống nhưng sẵn sàng
và tự nguyện chăm sóc bố đẻ của Phương - người lính ở chiến trường - theo tinh
thần của một người con trong nhà, như thế một liệt nữ. Nếu một thời văn học
viết về chiến tranh nói nhiều về cái chết (sự hy sinh) thì nay văn học nghiêng
viết về sự sống, sự hồi sinh, cải lão hoàn đồng, phục sinh, vun trồng mầm sống,
sinh sôi nảy nở. Có thể gọi đó là một phương diện mới mẻ của thi pháp tiểu
thuyết đương đại. Nếu có viết về bi kịch thì cũng là những bi kịch lạc quan, bi
hùng khi mỗi con người vượt thoát những dấu vết chiến tranh, khởi đầu bằng lừa
khóc tột cùng của một thời dạn bom ngút ngàn để sống bình thường với hạnh phúc
bình thường.
Hai chống mang một sắc thái thẩm mỹ khác, nó
đích thực là câu chuyện về một cuộc chiến thứ hai với mỗi người lính trở về sau
chiến tranh và những người thân yêu ruột thịt của họ. Cũng là hệ lụy chiến
tranh mà một người phụ nữ dân tộc Tày Đi Hà Rì phải đóng vai vợ với chồng mình
(Y Nùi) và cả với em trai chồng (Y Thục) cùng trong một ngôi nhà vừa nương theo
luật tục vừa chia sẻ cả dải thời nghiệt ngã của hoàn cảnh. Chiến tay nhi đã
biến cái bất bình thường thành cái bình thường và ngược lại Chiến tranh đã làm
cho cuộc sống và con người biến thành những “mảnh vỡ của mảnh vỡ”. Hạn gắn
những mảnh vỡ cũng là một công cuộc khó khăn với mỗi người sau chiến tranh như
khi bắt đầu bước vào chiến tranh. Nếu không có chiến tranh thì Y Nùi mãi mãi là
người đàn ông, người chồng lý tưởng của Hà Rì. Họ sẽ dựng nhà, xây tổ ấm, đôi
uyên ương sẽ tìm thấy hạnh phúc trong sinh con đẻ cái, làm ra của cải, sản vật
nuôi sống gia đình. Họ sẽ gây dựng niềm vui sống khi Tổ quốc hòa bình, gia đình
hạnh phúc. Nhưng chiến tranh đã cất lìa số phận của họ một cách tàn nhẫn. Khi Y
Nùi bặt tin tức (hay đã hy sinh) thì Hà Rì rơi vào cảnh ngộ cô đơn. Chỗ dựa
tinh thần của cô giờ đây là người em trai chồng (Y Thục). Ban đầu, Y Thục chỉ
định ninh mình có trách nhiệm thay mặt anh trai chăm sóc chị dâu theo đạo lý.
Nhưng con người là một thực thể phong phú và phức tạp. Cả sức mạnh của luật tục,
cả hoàn cảnh xô đẩy điện hình, Hà Rì và Y Thục đã quấn hồ tình cảm - tình dục
như một tất yếu. Rồi Y Nùi đột ngột trở về. Từ đây câu chuyện tình tay ba dưới
lớp vỏ “hai chồng” đã khiến cho mỗi người trong cuộc rơi vào thế cười ra nước
mắt. Cách tác giả để cho Y Nùi chết vì xót yêu, bệnh tật nên không làm tròn
chức năng của người đàn ông, người chồng, cũng là một cách giải quyết, xét về
logic nghệ thuật, giải phóng cho cả Hà Rì, cả Y Thục. Nhưng cái gì đã sút xả
đầy đứt với những người còn sống, trong đó có đội già lam, nam thoi ra, cuộc
chiến thứ hai của người lính đâu không có tiếng súng, nhưng quyết liệt và han
nguy không kém khi lại phải vượt qua chính bản thân mình, chiến hoàn chỉnh và
đây là phân minh. Cuộc đổ vỡ sau chiến tranh của Y Nùi so với Vũ trong câu
chuyện 1, hai người, có thể nói là thất bại bởi anh đã chết vì bệnh tật. Anh
không đầu hàng nhưng đó là số phận. Liệu đó có phải là một cái chết có ý nghĩa,
có sức mạnh gieo mầm sự sống? Nếu như Y Nùi không đủ điều kiện vượt qua những
giới hạn của sinh tử thì Hà Rì và Y Thục phải có trách nhiệm nối dài sự sống.
Vấn đề còn lại với người sống (Hà Rì và Y Thục) là gắn kết những mảnh vỡ của
mảnh vỡ. Giờ đây, họ sống vì mình trước hết. Tất nhiên. Nhưng họ cũng phải sống
xứng đáng vì người đã chết. Đó là chủ nghĩa nhân văn cao cả của con người chân
chính như những nhân cách văn hóa.
LỜI KẾT
Trong sáng tạo văn chương, vấn đề quan trọng
với nghệ sĩ ngôn từ không phải là viết về cái gì, mà là viết như thế nào. Đó là
một định đề có tính quy luật. Cái giả đó của hai tác phẩm Huyền diệu tình người
và Hai chồng của Hoàng Dư rõ ràng là vấn đề muôn thuở - tình người và tình
người. Rõ ràng tác giả không chung chiêng, không “nhất bên trọng, nhất bên
khinh” khi viết. Cách viết của Hoàng Dư, xem ra, là cách viết của tri âm tri
kỷ. Đôi lúc có cảm giác tác giả ươm mình vào nhân vật và những cảnh ngộ cụ thể
mà kể chuyện một cách có đầu có đuôi. Không có dấu vết của các thứ chữ nghĩa
tân kỳ nhoáng cảng, như thói hiện đại hay đại loại, tác giả cứ “có cứu ta về”
từ điển hiện đại từ truyền thống. Thế nhưng đọc gia khó rời sách khi đã cầm
trên tay. Thế nhưng sách để lại nhiều ấn tượng và dư luận. Đó chẳng phải đã
thành công?
Hà Nội, tháng 1-2026 B.V.T

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét