NGUYỄN THỊ THIỆN bình thơ Sửa

PHÙNG TRUNG TẬP
CHIẾC NÓN CỦA MẸ
Con về thăm mẹ sớm nay
Nghĩa mẹ, hơi ấm tràn đầy tim con
Mẹ vừa ra chợ đầu thôn?
Mẹ ra tỉa những lúa von ruộng nhà?
Chắc rằng mẹ chẳng đi xa
Nón mẹ treo trước hiên nhà, còn đây!
Tay nâng vành nón hao gầy
Lắng lòng nghẹn nấc tháng ngày vừa qua…
Khoảng trời nón trắng thiết tha
Che đầu mẹ, chắn mưa sa nắng ngầu
Nghiêng che con lúc ốm đau
Tay bồng, tay nón nghiêng đầu ngắm con.
Long đong vành nón hao mòn
Đồng trên, bãi dưới mạ non cấy trồng
Chắn cơn mưa quất đằng đông
Chặn luồng gió quẩn bão giông cuối chiều!
Vòm trời nón mẹ, thương yêu
Bốn mùa bóng mát, sớm chiều nắng thơm.
Nghiêng tay lành ngọn gió vờn
Vụm tay mái lợp nắng vờn rung rinh.
Chéo khăn mái tóc bạc dần
Mắt mờ, chân chậm bần thần thương con!
Vầng trăng khi khuyết khi tròn
Vành nón của mẹ chẳng mòn lo toan.
Nguồn: Trường ca “Quê mẹ” - Nxb Hội Nhà văn 2020.
LỜI BÌNH
“CHIẾC NÓN CỦA MẸ CHẲNG MÒN LO TOAN”
Mỗi chúng ta đều được sinh ra từ những người mẹ. Tình mẹ rất đỗi bình dị mà vô cùng thiêng liêng. Thơ về mẹ xưa nay có hàng trăm, hàng ngàn bài, song nhà thơ Phùng Trung Tập - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam - vẫn tìm được cách diễn đạt rất riêng. Bài “Chiếc nón của mẹ” là một minh chứng tiêu biểu. Thi phẩm là khúc hát được rút từ tập trường ca “Quê mẹ” (Nxb Hội Nhà văn 2020). Đây là tiếng lòng yêu thương tha thiết và biết ơn sâu nặng của người con trước tình yêu thương bao la và sự hy sinh thầm lặng của người mẹ.
Nhan đề “Chiếc nón của mẹ” không chỉ nói về một vật dụng quen thuộc dùng để đội đầu, che nắng che mưa mà còn là biểu tượng của sự nhẫn nại, tần tảo và tình yêu của mẹ. Với người Việt, chiếc nón thường làm bạn với phụ nữ, nhất là người mẹ nông thôn lam lũ. Bài gồm 24 câu thơ, sáu khổ cân đối, hài hòa, trình bày theo thể lục bát, nhịp điệu êm đềm dịu ngọt để nói về tình mẹ là rất phù hợp.
Nỗi nhớ thương mẹ khôn nguôi của người con tập trung ở mấy khổ thơ phần trên. Bài thơ mở đầu là mấy câu dạng nghi vấn: “Con về thăm mẹ sớm nay/ Nghĩa mẹ, hơi ấm tràn đầy tim con/ Mẹ vừa ra chợ đầu thôn?/ Mẹ ra tỉa những lúa von ruộng nhà?” Thấu hiểu rõ công việc thường ngày mẹ quen làm nên khi mẹ vắng nhà, người con đoán biết mẹ đang làm công việc gì đó, không đi chợ chắc ra đồng làm cỏ hoặc tỉa lúa. “Lúa von” là loại cây lúa phát triển cao vọt, mảnh hơn cây lúa khác, lá chuyển màu vàng nhạt rồi héo khô nên cần tỉa đi để tránh lây lan. Nếu không phải sinh trưởng từ nông thôn, không hiểu sâu về cây lúa, người làm thơ không thể sáng tạo được hình ảnh như vậy. Chiếc nón của mẹ treo trên hiên nhà gợi cho người con những cảm nghĩ: “Chắc rằng mẹ chẳng đi xa/ Nón mẹ treo trước hiên nhà, còn đây/ Tay nâng vành nón hao gầy/ Lắng lòng nghẹn nấc tháng ngày vừa qua…” Hình ảnh chiếc nón gợi tả một sự vật gắn bó với mẹ rất quen thuộc, thân thương khiến người con “nghẹn ngào”. Tính từ này được dùng xác đáng, chỉ trạng thái cảm xúc mạnh, muốn khóc nhưng người con cố kìm nén và hồi tưởng những tháng ngày qua. Rõ ràng chiếc nón trở thành kỷ vật gợi nhớ gợi thương mẹ.
Chiếc nón là biểu tượng sự chở che của mẹ. Chiếc nón ấy:“Che đầu mẹ, chắn mưa sa nắng ngầu/ Nghiêng che con lúc ốm đau”. Không chỉ che nắng mưa cho mẹ, nón còn che chở, bảo vệ cho con. Bên cạnh đó, hình ảnh:“Long đong vành nón hao mòn/ Đồng trên, bãi dưới” gợi tả cuộc đời mẹ trải bao vất vả, gian lao, hy sinh cả tuổi xuân vì các con và gia đình. Nghệ thuật nhân hoá vành nón hao gầy, nón trắng thiết tha được sử dụng đắt giá, khiến chiếc nón như cũng có hồn, có tình cảm. Chiếc nón giờ đây không còn là vật vô tri nữa mà trở thành biểu tượng về mẹ, là mái che của tình yêu thương, được ví như “vòm trời” nhỏ đem lại “bóng mát bốn mùa” cho con, biểu hiện của tình mẹ bao la, chở che suốt đời cho con. Mẹ luôn ở bên con dù thời gian trôi đi. Những hình ảnh “Nắng thơm”,“gió vờn” thật duyên dáng, mềm mại, tạo cảm giác êm đềm, ấm áp như tình mẹ. Luật thơ lục bát quy định ngắt nhịp chẵn nhưng trong bài, thi nhân có những sáng tạo trong lối ngắt nhịp lẻ trong một số câu lục và câu bát: “Che đầu mẹ/ chắn mưa sa nắng ngầu”; “Nghiêng che con /lúc ốm đau”; “Nghiêng tay lành/ ngọn gió vờn”, nhờ đó, ấn tượng về chiếc nón của mẹ được nhấn mạnh thêm. Tác giẩ dùng từ láy rất sát hợp thiết tha, rung rinh, nghẹn ngào, bần thần, kết hợp với các điệp từ “mẹ” (10 lần), con (4 lần) làm gia tăng hơn nữa mối quan hệ mẫu tử tình thâm.
Theo diễn tiến của cảm xúc thơ, lòng người con trào dâng nỗi xót xa khi thời gian trôi như nước chảy - một đi không trở lại. Khi tuổi mẹ ngày một cao, thể chất mẹ ngày một hao mòn, thể hiện qua những hình ảnh: “Tóc bạc dần”,“Mắt mờ, chân chậm” gợi tả mẹ già yếu nhưng tấm lòng vẫn “bần thần thương con” khiến người con thật xúc động. Những câu kết: “Vầng trăng khi khuyết khi tròn/ Vành nón của mẹ chẳng mòn lo toan” đã khẳng định quy luật: cho dù tuổi mẹ càng cao, các con đã lớn nhưng lòng mẹ vẫn luôn quan tâm, lo lắng vì con. Tình mẹ là vĩnh cửu, không bao giờ thay đổi, trọn đời mẹ yêu thương, quan tâm đến các con.
Bài thơ thành công về mặt nghệ thuật rõ nét ở tứ thơ mới, giàu sức gợi cảm về mẹ qua hình ảnh chiếc nón mang tính biểu tượng xuyên suốt. Một số biện pháp tu từ sử dụng thành công, góp phần biểu đạt rõ thêm cảm xúc về mẹ. Ngôn ngữ thơ trong bài dung dị, gần gũi, dễ đi vào lòng người.
“Chiếc nón của mẹ” của nhà thơ Phùng Trung Tập là áng thơ hay, ca ngợi và khẳng định tình mẹ sâu nặng, bao la, sự hy sinh thầm lặng của người mẹ nông thôn. Thi phẩm là lời tác giả tự nhắc bản thân cùng bạn đọc hãy trân trọng, yêu thương và hành xử hiếu nghĩa với mẹ khi còn có thể.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét