TIỂU LUẬN của LÊ ANH PHONG

GIỮA NHỮNG ĐƯỜNG BIÊN
(Đọc phần Thơ trong
“Tuyển tập Thơ Văn”,
tập I Chi hội 3, Hội Nhà văn
Hà Nội)
----------
Kính thưa các bác, các anh, các chị và các bạn.
Kính thưa các nhà thơ, nhà văn.
Theo đề nghị của nhà văn Hoàng Đức Nhuận, Chi hội trưởng Chi hội 3, Hội Nhà văn Hà Nội, tôi xin được cùng trao đổi trong phạm vi phần thơ, trong “Tuyển tập Thơ Văn”, tập đầu tiên của chi hội chúng ta.
Sau khi đọc 136 bài thơ của 46 tác giả, tôi như ở giữa các đường biên tình thế của thơ, tình thế của tiếp nhận. Một ranh giới mơ hồ, nhưng nhiều khi cũng hiển hiện, giúp người đọc nhận diện và giải mã thơ. Khi chúng ta cùng có mặt ở đây, trong buổi ra mắt sách, có lẽ điều quan trọng, là cùng nhau nhìn lại, cùng đối diện cái được và cái bất cập. Trân trọng và học hỏi trước những thành công trong sáng tạo của bạn thơ. Đồng thời, rút kinh nghiệm, lắng nghe nhau. Hy vọng cuốn sách sau tránh được những điều nên tránh, xứng đáng với tên gọi “Tuyển tập” của văn chương, đúng với danh xưng, nơi hội tụ tinh hoa, thủ đô của ngàn năm văn hiến. Sự trao đổi thẳng thắn, chân thành, khoa học, mang tính xây dựng sẽ làm cho thời gian trở nên hữu ích.
136 bài thơ hiện lên bức tranh đa dạng của đời sống hiện thực, của nỗi niềm người viết: Hồi cố, hoài niệm, tình tự, tình yêu quê hương, thiên nhiên đất nước, tình yêu và hạnh phúc, sự đợi chờ, tình bằng hữu, kí ức của năm tháng nhớ thương, cảm thức về thời gian… Đến với thơ từ những ngả đường khác nhau, 46 tác giả hiện lên mỗi người một vẻ. Nhưng đó có phải là sự đa dạng về phong cách? Một câu hỏi để ngỏ, chúng ta cùng suy nghĩ.
136 bài thơ, đa số thuộc về hệ hình thơ truyền thống. Ở đây, không nên đối lập truyền thống với hiện đại. Đây là hai dòng chảy song hành. Mỗi hệ hình thơ có cộng đồng riêng, lịch sử và kí ức riêng. Nhưng trong một “thế giới phẳng” cũng chớ nên khép kín. Không ít nhà thơ luống tuổi đã đồng hành cùng hai dòng chảy ấy. Điều này phụ thuộc vào tạng người, tạng thơ và căn tính, khí chất. Từ truyền thống, nhà thơ đến với hiện đại, đương đại. Đây là dịch chuyển đáng mừng cho thơ. Bản mệnh của thơ là phải luôn luôn mới.
Một đặc điểm bao trùm, hầu hết tuổi đời các tác giả đã ngoài sáu mươi. Thời gian mang lại vốn sống, sự trải nghiệm, nhưng tuổi tác cũng đè nặng lên ngòi bút.
Xin được trở lại với văn bản thơ, bởi vì nói như Etmong Giabex, nhà thơ Pháp gốc Do thái “Chữ bầu lên nhà thơ”. Có thể nói, câu chuyện của thi ca, xoay quanh hai vấn đề cơ bản: Cái nhìn và biểu đạt. Trong thực tế sáng tạo, nhiều khi hai vấn đề này hòa lẫn trong nhau. Đó là mối quan hệ biện chứng để trở thành thi pháp. Cùng viết về cánh chim, nhưng mỗi tác giả một điểm nhìn, một cách nói. Đây là “Đàn chim hình chữ V” của nhà thơ Phạm Minh Tuấn: “Đàn chim Việt xếp chữ V thẳng tiến/ Bay, bay lên đạp gió, chín tầng mây”. Đây là “Cánh chim ngàn” của tác giả Hương Xuân: “Tiếng chuông chùa Trấn Quốc/ Neo cánh chim lưu lạc”. Còn đây là “Tổ chim trên mái Hoàng Thành” của nhà thơ Đỗ Chiến Thắng: “Cánh chim bay ngang trang sử Việt/ Kêu chi hoài chiêm chiếp tiếng chim non”. Chọn “Vũng nước” để viết, nhà thơ Đoàn Thanh đối diện với một đề tài đã có trong ca dao, trong thơ hiện đại. Nhưng “Vũng nước” của thơ anh khác hẳn về cách nhìn và biểu đạt: “Không chọn được con đường/ Con đường chọn tôi làm vũng nước/ Mỗi lần xe trằn qua/ Hằn thêm số phận/ Biết làm sao/ Bởi những bánh xe kia/ Cũng lận đận cuộc đời/ Một hôm/ Người đàn bà chân trần lội vào tôi/… Đỉnh núi cười/ Đám mây cười vào tôi/ Trời cứ cao vòi vọi/ Một ngày cạn/ Tôi hóa thành đám mây/ Mang theo hình người đàn bà/ Bay qua đỉnh núi”. Bài thơ như dẫn dụ của giấc mơ, của khát vọng từ cuộc đời cần lao, từ số phận bay lên. Vẻ đẹp của tưởng tượng, của sự sống và tình yêu vượt qua mọi lô gic. Vừa hiện thực vừa siêu thực, có cái gì như huyền thoại, như giả cổ tích, nhưng không xa lạ với con người.
Viết về cái gì, không quan trọng bằng viết như thế nào. Đề tài trong văn học hôm nay không phải là câu hỏi lớn như văn học thời chiến. Từ cảm hứng chủ đạo sử thi, tụng ca, chỉ nói về niềm vui, niềm lạc quan, thơ hậu chiến chuyển sang cảm hứng thế sự đời thường, ngày thường. Cái bình thường thay cho cái không bình thường. Thân phận, nỗi buồn, bản thể, bản ngã và tha nhân, buồn vui khuất lấp,… thơ trở về với những vấn đề nhân bản. Ngay trong “Mùa xuân đầu tiên”, sau 1975, sau bao nhiêu năm đợi chờ, nhạc sĩ Văn Cao đã reo lên trong ca khúc của mình: “Mùa bình thường, mùa vui nay đã về”. Đây là câu chuyện cũ, câu chuyện đã qua lâu rồi của thời kỳ đầu đổi mới, trong quá trình hiện đại hóa thơ Việt. Tại sao cần nhắc lại điều này. Bởi lẽ, khi đọc một số bài thơ trong tuyển tập, tôi tự hỏi mình, đây là sáng tác của ngày hôm nay, hay đó là thơ của một “thời xa vắng”? Vẫn còn đâu đó thói quen trữ tình cá nhân lạc/ lẫn sang trữ tình chính trị. Vì thế bản thể phôi pha, vô tình xa dần cái tôi cần có trong thơ. Thậm chí, cá biệt, thơ lẫn sang báo. Thơ không có chức năng thông tấn, không làm thay nhiệm vụ của truyền thông báo chí.
Trong khi đó, không ít bài thơ đã chọn tiểu tự sự thay cho đại tự sự. Đó là những câu chuyện nhỏ âm vang từ đời sống ngày thường. Không còn là thơ của quảng trường, đây là thơ của ngõ nhỏ, từ “bè cao” thơ chuyển sang “giọng trầm”. Trong bài thơ “Đừng gọi”, tác giả Bùi Thanh Hà đã viết: “Đất nước mấy ngàn năm đánh giặc/ thời khắc yên bình/ để mẹ lặng ru anh”. Khi người con trai ra trận không trở về, người mẹ già chỉ sống với giấc mơ chập chờn, chỉ sống với kỷ vật người con để lại. Dẫu chỉ là khoảnh khắc của giấc mộng, thôi đừng gọi mẹ, đất nước đã yên bình, hãy để mẹ lặng thầm trong bóng của lời ru. Một cái nhìn nhân bản. Không hô khẩu hiệu. Đâu có cần nhiều lời, đâu có cần cao giọng, một lối nói giản dị mà lay động. Với tên gọi “Nâu trầm”, nhà thơ Dương Văn Lượng đã chọn những viên gạch lặng lẽ lát đường làm điểm nhìn, điểm tựa cho thơ. “Nâu trầm”, đó là màu của phù sa chắt chiu từ châu thổ sông Hồng. Là màu của sắn khoai, màu của hạt ngô hạt thóc. Nó “âm thầm dẫn lối/ theo con đường làng” cho các cuộc trở về với thơm thảo hương quê. “Hạnh phúc” trong diễn ngôn của nhà thơ Trần Thị Nương bình dị mà tinh tế sâu nặng: “Hạnh phúc đến sau quá nhiều bước ngoặt/ Bao cơn giông chẳng át nổi mùa vàng/ Cả rừng đào chưa làm nên cái tết/ Chỉ em về mới thực xuân sang”. Có một “Vầng trăng riêng” giàu thiên tính nữ trong thơ của thi sĩ Phi Tuyết Ba: “Gió se sẽ dắt mùa thu qua cửa/ Chợt ngỡ ngàng bối rối trước heo may/… Tôi nhận ra vầng trăng này có thật/ Tròn đầy lên như tình mẹ thương con”.
Trong 136 bài, có 45 bài lục bát, 1 bài thơ văn xuôi và các thể thơ khác. Khảo sát ấy cho thấy lục bát vẫn là thể loại được ưa dùng. Không theo điệu nói, chủ yếu theo điệu ngâm điệu hát truyền thống. Trong cánh rừng 6/8, có được một cặp lục bát in dấu trong trí nhớ, trong lòng bạn đọc thật đáng quý. Nhà thơ Đỗ Quyết đã viết về người mẹ đơn thân: “Mẹ như sông chảy không bờ/ Con thuyền không lái, giấc mơ chòng chành”. Tác giả Trần Văn Chính có bức tranh ngày mùa: “Rơm thơm xanh khói bếp nghèo/ Bữa cơm chiều muộn trăng treo hồi nhà”. Ngược lại, tôi đã gặp ngày giáp hạt trong thơ Cù Thùy Loan: “Thương mùa giáp hạt long đong/ Con trâu no gió thong dong nhai buồn”. Còn đây là cảnh “Anh về trả lại ngày xa” trong thơ Nha Cao, cặp 6/8 nói được một tình thế trữ tình khó gọi thành tên: “Bây giờ chuyện của trăm năm/ Thế là giường chiếu gối chăn dồn hàng”. Tác giả Nguyễn Thanh Ứng với chấm phá giao mùa: “Sen tàn gốc ngủ bùn xanh/ Cúc vàng nhuộm thắm hương tình vào thu”… Thơ là câu chuyện của sự đối diện với chính mình. Nỗi buồn, nỗi đau thường mang đến những câu thơ ám ảnh. Tôi đã đọc “Ngày về” của nhà thơ, thương binh Nguyễn Đức Bình trong sương khói rưng rưng của những ngày gian khó: “Sông nghèo vỗ vẹt chân đê/ Tấm bia mộ mẹ! Đây quê hương mình”
Tả, kể và biểu cảm là những yếu tố nghệ thuật cơ bản của thi ca. Giãi bày là một thực tế, nhưng làm thơ có phải chủ yếu để giãi bày, để kể và kể… Hiện thực trong thơ có phải là bản photocóppi từ đời sống? Sống bằng ẩn dụ, nhà thơ thực hành sáng tạo theo nguyên lý “tảng băng trôi” của Heming Way. Văn bản thơ chỉ có một phần nổi và rất nhiều phần chìm, dành cho tiếp nhận của người đọc. Ẩn dụ cùng với cách viết mở tạo ra thơ nhiều nghiệm. “Thơ là tiếng nói của cảm xúc, của tâm hồn”, khái niệm ấy của thơ một thời, nay đã được nới rộng đường biên. Phẩm chất trí tuệ đã bổ sung cho thơ, mang đến một diện mạo mới của thơ Việt, hòa nhập với thế giới. Khởi sinh, khởi thủy và tư tưởng “Phồn sinh” thấm đẫm thơ Nguyễn Linh Khiếu. Luôn suy tư triết luận, nhưng không sa vào triết lý vụn. Triết học trong thơ anh đã trở thành trí tuệ của cảm xúc. Sử dụng những yếu tố dân gian, truyện cổ, nhưng “Đàn ông sông Hồng” được viết bằng một diễn ngôn hiện đại. Từ chiếc khố rách của Chử Đồng Tử, bài thơ mở ra, phát triển thành hình tượng người đàn ông của nền văn minh châu thổ, “chiếc khố rách khô rồi lại ướt/ ướt rồi lại khô/ tôm cá tươi rói giấc mơ”. Nhưng thật bất ngờ và táo bạo trong tưởng tượng, liên tưởng: “khố rách phần phật những ngọn cờ đỏ”.
Dù là hướng nội hay hướng ngoại, mỗi bài thơ là bức tranh tự họa. Đọc thơ là để gặp người. “Đi và đến, bao ga đời chộn rộn. Trăng cứ trôi, thơ đợi ở ga nào”. Xin mượn câu hỏi của thi sĩ Nguyễn Linh Khiếu khi viết về “Viên sỏi” để kết lại: “làm sao cứ phải nhẵn và tròn/ không nhẫn và tròn có được không”.
Bài viết trên đây của tôi xuất phát từ lý do của thơ. Đó là điểm nhìn cá nhân, xin được cùng trao đổi. Trân trọng cảm ơn các nhà thơ, nhà văn đã chú ý lắng nghe.
Khương Trung, 10/1/2026
LÊ ANH PHONG
(Đọc phần Thơ trong
“Tuyển tập Thơ Văn”,
tập I Chi hội 3, Hội Nhà văn
Hà Nội)
----------
Kính thưa các bác, các anh, các chị và các bạn.
Kính thưa các nhà thơ, nhà văn.
Theo đề nghị của nhà văn Hoàng Đức Nhuận, Chi hội trưởng Chi hội 3, Hội Nhà văn Hà Nội, tôi xin được cùng trao đổi trong phạm vi phần thơ, trong “Tuyển tập Thơ Văn”, tập đầu tiên của chi hội chúng ta.
Sau khi đọc 136 bài thơ của 46 tác giả, tôi như ở giữa các đường biên tình thế của thơ, tình thế của tiếp nhận. Một ranh giới mơ hồ, nhưng nhiều khi cũng hiển hiện, giúp người đọc nhận diện và giải mã thơ. Khi chúng ta cùng có mặt ở đây, trong buổi ra mắt sách, có lẽ điều quan trọng, là cùng nhau nhìn lại, cùng đối diện cái được và cái bất cập. Trân trọng và học hỏi trước những thành công trong sáng tạo của bạn thơ. Đồng thời, rút kinh nghiệm, lắng nghe nhau. Hy vọng cuốn sách sau tránh được những điều nên tránh, xứng đáng với tên gọi “Tuyển tập” của văn chương, đúng với danh xưng, nơi hội tụ tinh hoa, thủ đô của ngàn năm văn hiến. Sự trao đổi thẳng thắn, chân thành, khoa học, mang tính xây dựng sẽ làm cho thời gian trở nên hữu ích.
136 bài thơ hiện lên bức tranh đa dạng của đời sống hiện thực, của nỗi niềm người viết: Hồi cố, hoài niệm, tình tự, tình yêu quê hương, thiên nhiên đất nước, tình yêu và hạnh phúc, sự đợi chờ, tình bằng hữu, kí ức của năm tháng nhớ thương, cảm thức về thời gian… Đến với thơ từ những ngả đường khác nhau, 46 tác giả hiện lên mỗi người một vẻ. Nhưng đó có phải là sự đa dạng về phong cách? Một câu hỏi để ngỏ, chúng ta cùng suy nghĩ.
136 bài thơ, đa số thuộc về hệ hình thơ truyền thống. Ở đây, không nên đối lập truyền thống với hiện đại. Đây là hai dòng chảy song hành. Mỗi hệ hình thơ có cộng đồng riêng, lịch sử và kí ức riêng. Nhưng trong một “thế giới phẳng” cũng chớ nên khép kín. Không ít nhà thơ luống tuổi đã đồng hành cùng hai dòng chảy ấy. Điều này phụ thuộc vào tạng người, tạng thơ và căn tính, khí chất. Từ truyền thống, nhà thơ đến với hiện đại, đương đại. Đây là dịch chuyển đáng mừng cho thơ. Bản mệnh của thơ là phải luôn luôn mới.
Một đặc điểm bao trùm, hầu hết tuổi đời các tác giả đã ngoài sáu mươi. Thời gian mang lại vốn sống, sự trải nghiệm, nhưng tuổi tác cũng đè nặng lên ngòi bút.
Xin được trở lại với văn bản thơ, bởi vì nói như Etmong Giabex, nhà thơ Pháp gốc Do thái “Chữ bầu lên nhà thơ”. Có thể nói, câu chuyện của thi ca, xoay quanh hai vấn đề cơ bản: Cái nhìn và biểu đạt. Trong thực tế sáng tạo, nhiều khi hai vấn đề này hòa lẫn trong nhau. Đó là mối quan hệ biện chứng để trở thành thi pháp. Cùng viết về cánh chim, nhưng mỗi tác giả một điểm nhìn, một cách nói. Đây là “Đàn chim hình chữ V” của nhà thơ Phạm Minh Tuấn: “Đàn chim Việt xếp chữ V thẳng tiến/ Bay, bay lên đạp gió, chín tầng mây”. Đây là “Cánh chim ngàn” của tác giả Hương Xuân: “Tiếng chuông chùa Trấn Quốc/ Neo cánh chim lưu lạc”. Còn đây là “Tổ chim trên mái Hoàng Thành” của nhà thơ Đỗ Chiến Thắng: “Cánh chim bay ngang trang sử Việt/ Kêu chi hoài chiêm chiếp tiếng chim non”. Chọn “Vũng nước” để viết, nhà thơ Đoàn Thanh đối diện với một đề tài đã có trong ca dao, trong thơ hiện đại. Nhưng “Vũng nước” của thơ anh khác hẳn về cách nhìn và biểu đạt: “Không chọn được con đường/ Con đường chọn tôi làm vũng nước/ Mỗi lần xe trằn qua/ Hằn thêm số phận/ Biết làm sao/ Bởi những bánh xe kia/ Cũng lận đận cuộc đời/ Một hôm/ Người đàn bà chân trần lội vào tôi/… Đỉnh núi cười/ Đám mây cười vào tôi/ Trời cứ cao vòi vọi/ Một ngày cạn/ Tôi hóa thành đám mây/ Mang theo hình người đàn bà/ Bay qua đỉnh núi”. Bài thơ như dẫn dụ của giấc mơ, của khát vọng từ cuộc đời cần lao, từ số phận bay lên. Vẻ đẹp của tưởng tượng, của sự sống và tình yêu vượt qua mọi lô gic. Vừa hiện thực vừa siêu thực, có cái gì như huyền thoại, như giả cổ tích, nhưng không xa lạ với con người.
Viết về cái gì, không quan trọng bằng viết như thế nào. Đề tài trong văn học hôm nay không phải là câu hỏi lớn như văn học thời chiến. Từ cảm hứng chủ đạo sử thi, tụng ca, chỉ nói về niềm vui, niềm lạc quan, thơ hậu chiến chuyển sang cảm hứng thế sự đời thường, ngày thường. Cái bình thường thay cho cái không bình thường. Thân phận, nỗi buồn, bản thể, bản ngã và tha nhân, buồn vui khuất lấp,… thơ trở về với những vấn đề nhân bản. Ngay trong “Mùa xuân đầu tiên”, sau 1975, sau bao nhiêu năm đợi chờ, nhạc sĩ Văn Cao đã reo lên trong ca khúc của mình: “Mùa bình thường, mùa vui nay đã về”. Đây là câu chuyện cũ, câu chuyện đã qua lâu rồi của thời kỳ đầu đổi mới, trong quá trình hiện đại hóa thơ Việt. Tại sao cần nhắc lại điều này. Bởi lẽ, khi đọc một số bài thơ trong tuyển tập, tôi tự hỏi mình, đây là sáng tác của ngày hôm nay, hay đó là thơ của một “thời xa vắng”? Vẫn còn đâu đó thói quen trữ tình cá nhân lạc/ lẫn sang trữ tình chính trị. Vì thế bản thể phôi pha, vô tình xa dần cái tôi cần có trong thơ. Thậm chí, cá biệt, thơ lẫn sang báo. Thơ không có chức năng thông tấn, không làm thay nhiệm vụ của truyền thông báo chí.
Trong khi đó, không ít bài thơ đã chọn tiểu tự sự thay cho đại tự sự. Đó là những câu chuyện nhỏ âm vang từ đời sống ngày thường. Không còn là thơ của quảng trường, đây là thơ của ngõ nhỏ, từ “bè cao” thơ chuyển sang “giọng trầm”. Trong bài thơ “Đừng gọi”, tác giả Bùi Thanh Hà đã viết: “Đất nước mấy ngàn năm đánh giặc/ thời khắc yên bình/ để mẹ lặng ru anh”. Khi người con trai ra trận không trở về, người mẹ già chỉ sống với giấc mơ chập chờn, chỉ sống với kỷ vật người con để lại. Dẫu chỉ là khoảnh khắc của giấc mộng, thôi đừng gọi mẹ, đất nước đã yên bình, hãy để mẹ lặng thầm trong bóng của lời ru. Một cái nhìn nhân bản. Không hô khẩu hiệu. Đâu có cần nhiều lời, đâu có cần cao giọng, một lối nói giản dị mà lay động. Với tên gọi “Nâu trầm”, nhà thơ Dương Văn Lượng đã chọn những viên gạch lặng lẽ lát đường làm điểm nhìn, điểm tựa cho thơ. “Nâu trầm”, đó là màu của phù sa chắt chiu từ châu thổ sông Hồng. Là màu của sắn khoai, màu của hạt ngô hạt thóc. Nó “âm thầm dẫn lối/ theo con đường làng” cho các cuộc trở về với thơm thảo hương quê. “Hạnh phúc” trong diễn ngôn của nhà thơ Trần Thị Nương bình dị mà tinh tế sâu nặng: “Hạnh phúc đến sau quá nhiều bước ngoặt/ Bao cơn giông chẳng át nổi mùa vàng/ Cả rừng đào chưa làm nên cái tết/ Chỉ em về mới thực xuân sang”. Có một “Vầng trăng riêng” giàu thiên tính nữ trong thơ của thi sĩ Phi Tuyết Ba: “Gió se sẽ dắt mùa thu qua cửa/ Chợt ngỡ ngàng bối rối trước heo may/… Tôi nhận ra vầng trăng này có thật/ Tròn đầy lên như tình mẹ thương con”.
Trong 136 bài, có 45 bài lục bát, 1 bài thơ văn xuôi và các thể thơ khác. Khảo sát ấy cho thấy lục bát vẫn là thể loại được ưa dùng. Không theo điệu nói, chủ yếu theo điệu ngâm điệu hát truyền thống. Trong cánh rừng 6/8, có được một cặp lục bát in dấu trong trí nhớ, trong lòng bạn đọc thật đáng quý. Nhà thơ Đỗ Quyết đã viết về người mẹ đơn thân: “Mẹ như sông chảy không bờ/ Con thuyền không lái, giấc mơ chòng chành”. Tác giả Trần Văn Chính có bức tranh ngày mùa: “Rơm thơm xanh khói bếp nghèo/ Bữa cơm chiều muộn trăng treo hồi nhà”. Ngược lại, tôi đã gặp ngày giáp hạt trong thơ Cù Thùy Loan: “Thương mùa giáp hạt long đong/ Con trâu no gió thong dong nhai buồn”. Còn đây là cảnh “Anh về trả lại ngày xa” trong thơ Nha Cao, cặp 6/8 nói được một tình thế trữ tình khó gọi thành tên: “Bây giờ chuyện của trăm năm/ Thế là giường chiếu gối chăn dồn hàng”. Tác giả Nguyễn Thanh Ứng với chấm phá giao mùa: “Sen tàn gốc ngủ bùn xanh/ Cúc vàng nhuộm thắm hương tình vào thu”… Thơ là câu chuyện của sự đối diện với chính mình. Nỗi buồn, nỗi đau thường mang đến những câu thơ ám ảnh. Tôi đã đọc “Ngày về” của nhà thơ, thương binh Nguyễn Đức Bình trong sương khói rưng rưng của những ngày gian khó: “Sông nghèo vỗ vẹt chân đê/ Tấm bia mộ mẹ! Đây quê hương mình”
Tả, kể và biểu cảm là những yếu tố nghệ thuật cơ bản của thi ca. Giãi bày là một thực tế, nhưng làm thơ có phải chủ yếu để giãi bày, để kể và kể… Hiện thực trong thơ có phải là bản photocóppi từ đời sống? Sống bằng ẩn dụ, nhà thơ thực hành sáng tạo theo nguyên lý “tảng băng trôi” của Heming Way. Văn bản thơ chỉ có một phần nổi và rất nhiều phần chìm, dành cho tiếp nhận của người đọc. Ẩn dụ cùng với cách viết mở tạo ra thơ nhiều nghiệm. “Thơ là tiếng nói của cảm xúc, của tâm hồn”, khái niệm ấy của thơ một thời, nay đã được nới rộng đường biên. Phẩm chất trí tuệ đã bổ sung cho thơ, mang đến một diện mạo mới của thơ Việt, hòa nhập với thế giới. Khởi sinh, khởi thủy và tư tưởng “Phồn sinh” thấm đẫm thơ Nguyễn Linh Khiếu. Luôn suy tư triết luận, nhưng không sa vào triết lý vụn. Triết học trong thơ anh đã trở thành trí tuệ của cảm xúc. Sử dụng những yếu tố dân gian, truyện cổ, nhưng “Đàn ông sông Hồng” được viết bằng một diễn ngôn hiện đại. Từ chiếc khố rách của Chử Đồng Tử, bài thơ mở ra, phát triển thành hình tượng người đàn ông của nền văn minh châu thổ, “chiếc khố rách khô rồi lại ướt/ ướt rồi lại khô/ tôm cá tươi rói giấc mơ”. Nhưng thật bất ngờ và táo bạo trong tưởng tượng, liên tưởng: “khố rách phần phật những ngọn cờ đỏ”.
Dù là hướng nội hay hướng ngoại, mỗi bài thơ là bức tranh tự họa. Đọc thơ là để gặp người. “Đi và đến, bao ga đời chộn rộn. Trăng cứ trôi, thơ đợi ở ga nào”. Xin mượn câu hỏi của thi sĩ Nguyễn Linh Khiếu khi viết về “Viên sỏi” để kết lại: “làm sao cứ phải nhẵn và tròn/ không nhẫn và tròn có được không”.
Bài viết trên đây của tôi xuất phát từ lý do của thơ. Đó là điểm nhìn cá nhân, xin được cùng trao đổi. Trân trọng cảm ơn các nhà thơ, nhà văn đã chú ý lắng nghe.
Khương Trung, 10/1/2026
LÊ ANH PHONG

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét