Thứ Năm, 1 tháng 1, 2026

TRÒ CHUYỆN VỚI NHÀ THƠ NHÀ NGHIÊN CỨU NGHIÊM THỊ HẰNG

 

TRÒ CHUYỆN VỚI NHÀ THƠ NHÀ NGHIÊN CỨU NGHIÊM THỊ HẰNG

 


Vũ Nho: Chào nhà thơ, nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng. Tôi đọc thơ, nghe ca khúc phổ thơ  chị , rồi lại đọc sách nghiên cứu, tiểu thuyết của chị. Xin vui lòng  dành cho tôi ít phút trò chuyện được không?

 Nghiêm Thị Hằng: Xin cảm ơn anh PGS-TS Vũ Nho- nhà nghiên cứu phê bình văn học và cũng là cộng sự của nhóm nghiên cứu “Tìm dấu tích phần mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương-Bà Chúa thơ Nôm-Danh nhân văn hóa”. Rất vui được trò chuyện cùng anh.

Vũ Nho: Cám ơn chị! Tôi còn nhớ đã từng xem chương trình giới thiệu thơ chị, những bài thơ được phổ nhạc. Ca khúc “Mùa hoa cải” rất ấn tượng. Vì lí do gì mà chị không tiếp tục con đường thơ ca, lại chuyển sang viết nghiên cứu?

Nghiêm Thị Hằng: Thưa anh, trước khi trở thành nhà báo, nhà thơ và bây giờ là nhà nghiên cứu, tôi là người lính xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ. Những kỷ niệm về tuổi thanh xuân và ký ức chiến tranh, vẫn còn nguyên vẹn trong tôi. Và tôi bắt đầu làm thơ, không chỉ để nói riêng cho mình những điều thầm kín của tình yêu lứa đôi mà cũng là nói hộ tiếng lòng của bạn bè trang lứa. Và thế là bài thơ “Mùa Hoa Cải” của tôi ra đời vào năm 1984. Năm 1986 bài thơ được được nhạc sỹ Lê Vinh phổ thành ca khúc cùng tên “Mùa hoa cải” trở thành bài ca đi cùng năm tháng.

Tôi trở thành nhà báo năm 1978, cùng năm ấy tôi được báo Phụ nữ đăng bài thơ đầu tiên “ Ô rừng”. Như vậy tôi là người theo nghề báo và cũng theo nghiệp thơ mấy chục năm song hành.  Sau khi nghỉ hưu ở Báo Nông nghiệp Việt Nam, tôi được Báo người cao tuổi mời về làm việc trong 10 năm và có thời gian đảm nhiệm chức vụ Trưởng phòng pháp luật. Đến năm 2020 tôi chính thức chia tay với sự nghiệp báo chí, còn duyên nghiệp làm thơ thì theo suốt cuộc đời.

  Anh hỏi vì lí do gì tôi không tiếp tục con đường thơ ca, lại chuyển sang viết nghiên cứu? Tôi vẫn sáng tác thơ vì là nghiệp rồi, chỉ có tay ngang chuyển sang viết nghiên cứu vì một lý do mà tôi cho đó là nhân duyên của tôi với  Bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương. Nhân duyên ấy được bắt đầu từ công việc làm báo. Mùa Xuân năm 2019, tôi về viết bài ký “Mùa xuân ở quê hương ông Phủ Vĩnh Tường”. Bài viết này đã có những ý kiến bất đồng trong ban biên tập, có người cho rằng chồng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là ông Phạm Viết Ngạn (tri phủ Vĩnh Tường năm 1862), có người bảo cha của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh không phải cụ đồ Hồ Phi Diễn. Năm sinh của nữ sinh năm 1735, 1770 1772 và 1815 chưa ngã ngũ.Tóm lại tại thời điểm năm 2019 thân thế của nữ  sĩ là mờ mờ tỏ tỏ. Trong khi đó gia tộc họ Hồ ở Quỳnh Đôi đang xây dựng hồ sơ gửi UNESCO đề nghị vinh danh: “Danh nhân văn hóa” cho nữ sĩ. Và thế là vốn có kinh nghiệm điều tra trong làm báo, tôi lần theo dấu tích gia phả họ Hồ ở Quỳnh Đôi, soi chiếu qua văn thơ, lịch sử phản ánh về con người tính cách Hồ Xuân Hương để góp phần làm sáng tỏ thân thế của nữ sĩ.

Công việc cuốn hút tôi tập trung thời gian công sức, trí lực vào đề tài mới mẻ, giải mã bí ẩn nữ sĩ, như loạt bài điều tra phá án. Tôi quyết định nghỉ làm việc ở Báo người cao tuổi ở tuổi 65, để chuyển sang lĩnh vực mới chuyên tâm nghiên cứu về thân thế Hồ

Xuân Hương.

Được sự cố vấn của nhà giáo Hoàng Văn Khôi, tôi đã có tham luận báo cáo tại hội thảo khoa học “Tiềm năng con người vào việc khai thác các giá trị lịch sử” của Viện Nghiên cứu và ứng dụng con người tổ chức tại Hà Nội ngày 28/11/2020 với đề tài làm sáng tỏ thân thế nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Vũ Nho: Nếu không có gì bí mật, xin cho biết vì sao chị lại chọn Hồ Xuân Hương để viết cuốn sách “ Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương”?

Nghiêm Thị Hằng: Ngày tổ chức UNESCO thông qua nghị quyết hồ sơ của ứng viên nữ sĩ Hồ Xuân Hương đang đến gần, nhưng trong hồ sơ thân thế còn nhiều điểm mờ chưa được làm sáng tỏ.  Và đây chính là động lực để tôi tập trung viết cuốn sách dạng khảo cứu chuyên sâu “Giải mã bí  ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” làm sảng tỏ thân thế của nữ sĩ, với mong ước cuốn sách kịp ra mắt bạn đọc trước ngày tổ chức UNESCO thông qua  nghị quyết danh sách ứng viên Danh nhân văn hóa-nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Và tôi đã làm được điều này, cuốn sách được nhà xuất bản Hồng Đức ấn hành ra mắt bạn đọc vào tháng 10/2021, trước ngày tổ chức UNESCO  thông qua  nghị quyết  số 41C/15 ngày 23/11/2021.

Vũ Nho: Cuốn sách đó  có nhiều điểm mới mẻ. Chị đã mất bao nhiêu thời gian để sưu tầm, xử lí tư liệu, về thăm quê nữ sĩ ? Chị có thể nói điều tâm đắc của mình về cuốn sách  ấy không?

Nghiêm Thị Hằng: Thưa anh tôi mất khoảng 2 năm rưỡi, trong thời gian này tôi về thăm quê nữ sĩ ở Quỳnh Đôi  3 lần,  về Vĩnh Phúc, Phú Thọ nhiều lần, một lần vào tận Tam Kỳ, Quảng Nam, để  nghiên cứu sưu tầm, xử lí tư liệu về nữ sĩ. Tôi cũng đã mời cả đại diện chi 3 họ Hồ Quỳnh Đôi, đại diện là anh Hồ Phi Dũng tham gia Hôi thảo về nội dung làm sáng tỏ thân thế Hồ Xuân Hương; cùng một số hậu duệ họ Hồ, đi điền giã ở Thái Bình, Bắc Ninh, Hà Nội, để có thêm tư liệu về nữ sĩ. Xin nói thật với anh, tôi là nhà báo, nhà thơ, giờ tay ngang viết nghiên cứu thật bỡ ngỡ. Rất may tôi có các cộng sự là GS, PGS-TS, các nhà văn, nhà báo, chỉ dẫn đường hướng trong nghiên cứu, có những cộng sự trong một số lĩnh vực xã hội là bậc thầy, chỉ dẫn cho tôi tới thành công. Tôi đã tìm ra phương pháp nghiên cứu mới, để hướng tới một kết quả gắn với sự thực, được các nhà nghiên cứu và bạn đọc đánh giá cao và đón nhận. Cuốn sách đã giải mã được 9 bí ẩn trong cuộc đời, thân thế và tình duyên của Hồ Xuân Hương, điều mà trước đây chưa có công trình nào có kết quả như vậy. Điều tâm đắc nhất của tôi, từ cuốn “Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” thân thế của bà chúa thơ nôm một con người tài danh bậc nhất trong các nhà thơ nữ Việt Nam thế kỉ XVIII-XIX  đã được làm sáng tỏ. Đó là mong muốn của tôi và cũng là mong muốn của bao thế hệ người Việt Nam kính yêu nữ sĩ.

Vũ Nho: Tôi đã đọc tiểu thuyết “ Tiếng vọng Hồ Xuân Hương” của chị. Phải chăng, khảo cứu vẫn còn nhiều điều muốn nói nên chị đã tiếp tục viết về Hồ Xuân Hương với loại tiểu thuyết lịch sử? Điều mới mẻ của tiểu thuyết so với cuốn khảo cứu là gì?

Nghiêm Thị Hằng: Khi nghiên cứu viết khảo cứu tôi tuyệt đối trung thành với các dữ liệu thông tin lịch sử xã hội, không thêm bớt hư cấu. Tôi nghĩ rằng sức hút của cuốn sách chính là cung cấp cho bạn đọc những thông tin những dữ liệu lịch sử mới, phần diễn giải hành văn chỉ là phụ và phần này sẽ phù hợp hơn khi những tư liệu trong “Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” được khai thác thành chất văn chương trong văn học. Tôi nhận ra điều này và những gì chưa nói được trong cuốn sách khảo cứu, thì tôi đã thể hiện trong tiểu thuyết “Hồ Xuân Hương tiếng vọng” do Nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 2022. Rất hay khi tiểu thuyết đến tay bạn đọc, thì đài truyền hình tỉnh Vĩnh Long đã cử nhóm phóng viên ra Hà Nội, mời tôi với tư cách cố vấn lịch sử, để quay 2 tập phim ký sự truyền hình: Danh nhân Hồ Xuân Hương. Phim đã khởi chiếu trước ngày 4/12/2022 khi UBND tỉnh Nghệ An tổ chức vinh danh kỉ niệm 200 năm ngày mất và 250 năm ngày sinh của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.  

 Tôi nghĩ tiểu thuyết “Hồ Xuân Hương tiếng vọng” như một cuốn phim về cuộc đời thân thế, chuyện tình của Hồ Xuân Hương. Tiểu thuyết khép lại cuộc đời nữ sĩ, nhưng cũng chính là mở ra câu hỏi lớn, di sản văn học đồ sộ của người còn đây, nhưng nấm mộ nhỏ nhoi của người trên cõi đời này mờ mịt ở đâu?

Vũ Nho: Được biết ngoài việc viết về nữ sĩ Hồ Xuân Hương, chị còn cùng một nhóm nghiên cứu thực hiện việc tìm mộ của bà. Ý định tìm mộ bắt đầu từ khi nào? Theo tôi biết thì đây là việc “thiên nan vạn nan”. Chính con cháu của bà ở Nghệ An cũng đã tìm không thành công. Khó khăn nhất của việc này là gì?

Nghiêm Thị Hằng: Vâng việc đi tìm mộ xưa nay là “mò kim đáy biển” là “thiên nan vạn nan” chỉ những người trong hành trình đi tìm mộ mới hiểu.  Năm 1969 tôi đã tìm được mộ anh trai tôi là liệt sĩ, nên tôi hiểu việc này. Hơn 30 năm qua tôi cũng giúp một số gia đình liệt sĩ, gia đình người dân, đi tìm mộ thiếu thông tin, mộ thất lạc, nên tôi hiểu được những quy định bất thành văn trong hành trình tìm mộ. Năm 2003 gia tộc họ Hồ đi tìm mộ Hồ Xuân Hương ở nghĩa địa Đồng Táo (nghĩa địa này đã chìm trong sóng nước Hồ Tây), đã không thành công vì theo tôi họ đã không đi tìm phần mộ bố mẹ nữ sĩ trước. Và tôi đã tìm thấy mộ bố mẹ nữ sĩ theo bài thơ “Vịnh Thanh minh” Hồ Xuân Hương viết vào mùa Xuân năm 1815 chỉ lối. Bài thơ đã tả phần mộ của cha mẹ nữ sĩ ở nghĩa địa Đồng Táo với câu thơ “Dầu dầu hai nấm lẫn vàng xanh/Kìa nấm thâm ân nọ nấm tình”. Sau khi tìm được phần mộ cha mẹ nữ sĩ, tôi tìm hiểu các nghĩa địa ở khu vực làng Nghi Tàm và tìm được dấu tích mộ Hồ Xuân Hương chôn lần đầu ở nghĩa địa phủ Tây Hồ-nghĩa địa dành cho những người có danh tiếng ở địa phương. Điều này được xác thực bởi bài thơ “Long Biên trúc tri từ” của Tùng Thiện Vương một nhà thơ nổi tiếng thời Nguyễn đã viếng thăm mộ nữ sĩ năm 1842. Vậy từ sau năm 1842 mộ nữ sĩ còn ở nghĩa địa phủ Tây Hồ chìm trong sóng nước Hồ Tây hay đã di chuyển thì di chuyển về đâu? Câu chuyện tìm mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương người đi tìm mộ biết sự thật căn nguyên thì ít, người không đi tìm mộ lại phán xét nhiều, trong đó có lời phán xét trở thành lực cản đối với người đi tìm mộ. Cái khó trong trường hợp này, đến cuối năm 2024 chính quyền tỉnh Quảng Nam vẫn đứng ngoài cuộc, mà việc tìm mộ nữ sĩ thì pháp lý không thể giao trọng trách cho cá nhân người đi tìm mộ, vì bà là Danh nhân văn hóa, đâu phải là thường dân.

Vũ Nho: Tôi  đã cùng chị và Đại tá Nguyễn Huy Hoàng  vào Tam Kì báo cáo cho sở Văn hóa & Du lịch  tỉnh về việc tìm mộ Hồ Xuân Hương. Gần đây lại có thêm thông tin chị tìm được người đã đưa hài cốt của Hồ Xuân Hương từ Hồ Tây về Tam Kì quê chồng. Chị nghĩ sao về khả năng thành công của đề tài?

Nghiêm Thị Hằng:Vâng. Anh đã cùng tham dự buổi báo cáo dự án “Tìm dấu tích mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương qua ba ngôi mộ cổ ở thành phố Tam Kỳ -Quảng Nam” ngày 15/5/2025. Tại báo cáo này tôi đã đưa ra 26 căn cứ khoa học và trên 60 bức ảnh minh họa mối quan hệ mộ vợ chồng giữa mộ Giày (nghi là mộ tử tù Trần Phúc Hiển), mộ 1856 Phan Thị vợ cả và mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân (nghi là mộ vợ thiếp Hồ Xuân Hương). Đó là các căn cứ khoa học và hình ảnh minh họa chưa từng có trong bất cứ nghiên cứu nào của Trung ương và tỉnh Quảng Nam, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa ba ngôi mộ cổ này. Chính những căn cứ khoa học mới mẻ lần đầu tiên được tôi công bố sau 6 năm nghiên cứu độc lập không dùng ngân sách nhà nước, đã được hội nghị ghi nhận đánh giá cao.

Sau báo cáo này, nhóm nghiên cứu chúng tôi có thêm những căn cứ khoa học mới, lý giải người đưa hài cốt Hồ Xuân Hương về Quảng Nam vào tháng 10/1843 là ông Trần Sài -Chánh đội trưởng Đội 6 vệ 2 lực lượng Thủy sư Kinh kỳ. Người xây dựng lăng mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân (Hồ Xuân Hương) có dấu tích liên quan đến mộ Giày Thầy Lánh (mộ ông Trần Phúc Hiển), mộ 1856 Phan Thị vợ cả, là ông Trần Hòa Phủ. Việc mộ 1850 mang họ Huỳnh, chính là mang họ chủ nhân của thửa đất này, người đàn bà họ Huỳnh, mẹ của ông Trần Phúc Hiển.

 Như vậy hành trình tìm dấu tích phần mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương của tôi và nhóm nghiên cứu đã về đích. Vấn đề còn lại là phía UBND Tp Đà Nẵng, sẽ lập dự án cho khai quật lại ngôi mộ 1850 để khảo cổ.Tôi tin chắc khảo cổ sẽ có  đủ cơ sở khoa học để kết luận đó là mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương và tiếp tục triển khai đề án tôn tạo ngôi mộ của Danh nhân văn hóa, trở thành điểm nhấn du lịch kết nối các điểm du lịch nổi tiếng của TP Đà Nẵng. Tôi tin rằng sang năm 2026, những kỳ vọng cuối cùng của tôi sẽ kết thúc, khép lại hành trình tìm dấu tích mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương danh nhân văn hóa.

Vũ Nho: Cám ơn chị về cuộc trò chuyện thẳng thắn và thú vị!




 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét