NGUYỄN PHƯƠNG ANH giới thiệu

VÀI NÉT VỀ THƠ DỊCH CỦA NAM DƯ
Nhà văn Nguyễn Thị Phương Anh
Chi hội trưởng chi hội Bắc Sông Hồng
Hội Nhà văn Hà Nội
Nhà văn Nam Dư năm nay đã ngót 90 Tuổi. Suốt gần 1 thế kỷ qua, cụ đã chứng kiến bao biến động sơn hà với những sự kiện làm nên trang sử bi hùng của dân tộc. Trong dòng chảy cuộc đời, cụ có 2 lần lựa chọn con đường để mình dấn thân. Lần 1 là chọn làm nghề giáo. Cụ đã từng bươn trải lên vùng cao Sơn La xóa mù chữ cho con em đồng bào dân tộc thiểu số; đã từng dạy học nhiều năm tại quê hương Đông Anh. Khi được nghỉ hưu, tưởng cụ an yên với nhà cửa ruộng vườn, vui cùng con cháu, bạn bầu… thì một “cánh cửa” mở ra cái duyên vào cụ. Thế là cụ một lần nữa chọn “con đường” cho mình. Đó là sáng tác văn thơ. Nhưng khác với nhiều người trong làng văn, cụ không chỉ sáng tác. Bằng khả năng ngoại ngữ của một người đã từng theo học tại ngôi trường Tây lớn nhất nhì Hà Nội (trường Anbe Xarô), cụ tiến hành công việc dịch thơ và trở thành một dịch giả có uy tín, một hội viên tích cực của CLB Thơ dịch Hội Nhà văn Hà Nội.
Có thể trong giới trẻ thành thạo ngoại ngữ bây giờ, việc đọc hiểu văn bản bằng tiếng nước ngoài khá dễ dàng. Nhưng đọc hiểu tác phẩm thơ thì lại không đơn giản. Chuyển ngữ để bài thơ mang hình hài mới mà vẫn giữ vẻ đẹp cơ bản vốn có càng thêm phần khó khăn. Vì nó đòi hỏi dịch giả phải thành thạo cả ngôn ngữ bản thơ gốc và ngôn ngữ bản dịch. Phải hiểu rõ nghĩa đen, nghĩa bóng của bài thơ thông qua từ ngữ, hình ảnh, những cung bậc cảm xúc, từ đó chuyển tải được cái “thần thái” của thi phẩm một cách trung thực vào trong bản dịch. Ngoài ra, dịch giả cần hiểu biết về văn hóa của cả hai dân tộc để xử lý các vấn đề liên quan đến lịch sử, phong tục, tập quán, điển tích vv… Bài thơ dịch được coi là thành công khi nó giữ được “linh hồn”, ý nghĩa cốt lõi của bản gốc trong một hình thể ngôn ngữ mới, đồng thời thể hiện ít nhiều sự sáng tạo nghệ thuật của dịch giả, để tác phẩm “sống” một cách tự nhiên trong môi trường văn hóa mới, được đông đảo độc giả đón nhận.
Đọc các bài thơ dịch của Nam Dư, tôi có cảm giác cụ rất hợp trong công việc chuyển ngữ tác phẩm văn chương. Là người Việt, cũng là một nhà giáo, từng viết văn, làm thơ, cụ đã phát huy được những ưu thế của ngôn ngữ Việt, thể thơ Việt để kéo những thi phẩm từ nơi xa lại gần dân tộc mình, rồi phủ lên màu sắc và hồn điệu quen thuộc của người Việt, văn hóa Việt. Điều đó ít nhiều được thể hiện qua 3 bài thơ dịch được chọn đưa vào cuốn sách Nam Dư -Tuyển tập thơ văn.
Bài 1: Những đêm tháng Sáu (Vichto Huygo)
Hè trôi nhanh hoa cánh đồng rực rỡ
Gió đưa hương ngan ngát tỏa ra
Mắt khép hờ/ mơ màng nghe tiếng vọng
Ngủ như mơ/ trong suốt cả đêm tà.
Những tinh tú sáng trong đêm tuyệt đẹp
Trời nhạt mờ màu kỳ ảo muôn nơi
Bình minh dịu dàng phút giao hòa đón đợi
Như suối đêm thơ thẩn phía chân trời.
Vichto Huygo (1802 – 1885) là một trong những nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch vĩ đại nhất của nước Pháp và thế giới, đồng thời là một biểu tượng của Chủ nghĩa Lãng mạn trong Văn học Phương Tây thế kỷ 19. Huygo sáng tác trên nhiều thể loại như thơ, kịch, tiểu thuyết… Về thơ, Những đêm tháng Sáu là một thi phẩm đã được người Việt biết đến thông qua một số bản dịch, trong đó có bản dịch của nhà văn Nam Dư.
Nếu ai đã từng tìm hiểu Thơ ca Lãng mạn Pháp thế kỷ 19 sẽ thấy nổi lên một đặc điểm, đó là sự đề cao cảm xúc cá nhân, sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên với nỗi buồn man mác, có khi là những bi kịch tình yêu, sự mất mát đau thương… Bài thơ “Những đêm tháng Sáu” nằm trong dòng chảy này. Tác phẩm khắc họa sinh động vẻ đẹp thiên nhiên mùa hè, nhất là ở khoảnh khắc giao thoa giữa đêm và ngày. Qua đó thể hiện tâm trạng mơ màng, thư thái, và những rung động tinh tế của tâm hồn con người trước sự kỳ diệu của tạo hóa.
Trong quá trình dịch, Nam Dư đã giữ hầu hết những hình ảnh trong bản thơ gốc rồi biểu đạt nó bằng ngôn ngữ Việt giàu sức gợi và mang tính biểu cảm cao như: “hoa cánh đồng rực rỡ”“hương ngan ngát” “mắt khép mơ màng” “ngủ như mơ”, “Tinh tú sáng” “màu kỳ ảo” “bình minh dịu dàng”. Điều đó giúp người đọc cảm nhận được không gian yên bình, bồng bềnh hư ảo, nơi thực tại và cõi mơ hòa quyện. Bản dịch có nhịp điệu khá êm đềm, du dương, phù hợp với chủ đề và tâm trạng gửi gắm trong thi phẩm. Các câu thơ độ dài vừa phải, tạo cảm giác liền mạch khi đọc, nhờ sự tiếp nối logich về thời gian, không gian và lối gieo vần thường thấy trong thơ Việt. Cách dùng từ ngữ và cấu trúc câu tự nhiên, không quá “Tây”, khiến người Việt dễ cảm thụ bài thơ.
Nhìn chung, Những đêm tháng Sáu là bản dịch thành công, cho thấy một Nam Dư biết thẩm thơ sâu sắc và chuyển ngữ sang tiếng Việt với hình hài mới mang vẻ đẹp nghệ thuật.
Bài 2: Lòng dũng cảm (Anna Akhmatova)
Hiện tại điều gì đang trên bàn cân
Và điều chi đang xoay vần quanh ta đó
Can đảm lên chuông đồng hồ đã đổ
Lòng dũng cảm trong ta mãi dâng đầy
Không sợ gì dưới làn đạn bủa vây
Chẳng khổ đau dù sống không nhà cửa
Ta gìn giữ Người - tiếng Nga muôn thuở
Ngôn ngữ Nga vĩ đại vô bờ.
Ta mang Người, bao trong sáng tự do
Truyền lại cháu con thoát khỏi vòng giam hãm
Tiếng Nga muôn đời dũng cảm.
Anna Akhmatova (1889-1966) là một trong những nhà thơ nữ vĩ đại nhất của nước Nga thế kỷ XX. Cuộc đời của bà gắn liền với những biến động lịch sử dữ dội của nước Nga nửa đầu thế kỷ XX. Cá nhân bà đã trải qua nhiều mất mát, bị theo dõi, đàn áp… nhưng vẫn giữ vững ngòi bút và tinh thần cao thượng. Năm 1965, bà được đề cử xét giải thưởng Noben về Văn học.
Bài thơ Lòng dũng cảm, được viết vào năm 1942, trong giai đoạn nước Nga đang gồng mình chống phát xít Đức, đối mặt với nguy cơ mất còn. Chính trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và ý chí bảo vệ tiếng mẹ đẻ, bảo vệ văn hóa dân tộc được đẩy lên cao. Sự xuất hiện bài thơ Lòng dũng cảm của Anna Akhmatova chính là lời tuyên ngôn về tinh thần bất khuất dân tộc Nga trong chiến tranh. Nó không chỉ kêu gọi sự dũng cảm đối mặt với hiểm nguy, mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ ngôn ngữ, văn hóa dân tộc như là giữ gìn cốt lõi của sự tồn tại và tự do.
Nam Dư khi dịch bài thơ trên đã giữ được giọng thơ tự nhiên, gần gũi, với việc sử dụng từ ngữ Việt quen thuộc, không cứng nhắc. Bản dịch có nhịp điệu dễ nghe, phù hợp với âm điệu của tiếng Việt, giữ được sự mạnh mẽ đầy sức kêu gọi của bản thơ gốc. Dịch giả đã bảo toàn ý nghĩa cốt lõi và chuyển tải đúng chủ đề chính của bài thơ. Đó là kêu gọi lòng dũng cảm, tình yêu và ý thức bảo vệ ngôn ngữ Nga, dân tộc Nga. Biện pháp nhân cách hóa ‘tiếng Nga” thành biểu tượng thiêng liêng của dân tộc cũng được giữ trung thành với nguyên tác “ Ta gìn giữ người - tiếng Nga muôn thuở/ Ngôn ngữ Nga vĩ đại vô bờ”…
Tóm lại, bản thơ dịch Lòng dũng cảm của Nam Dư đã chuyển tải được cảm xúc và ý nghĩa cốt lõi của bản thơ gốc, đáng được những ai muốn tìm hiểu tác phẩm thơ quốc tế thông qua tiếng mẹ đẻ tham khảo.
Bài 3: Đêm trắng (Joseph von Eichendo)
Dường như bầu trời
Lặng lẽ hồn nhiên hôn trái đất
Nơi ấy rực rỡ đầy hoa
Lại mơ cùng bầu trời gặp mặt.
Làn gió thổi qua cánh đồng
Cho lúa vàng gợn sóng
Những cánh rừng rì rào
Bầu trời đêm đầy sao lấp lánh.
Và tâm hồn ta
Như đang dang cánh
Bay qua miền đất lặng yên
Như đang bay về đất cũ thân quen.
Joseph von Eichendo (1788- 1857) là nhà thơ của Chủ nghĩa Lãng mạn Đức. Ông chuyên viết về thiên nhiên, tình yêu quê hương và sự hòa quện giữa con người và tạo hóa. Hầu hết tác phẩm của ông đều mang giọng điệu nhẹ nhàng, kết hợp hình ảnh thiên nhiên thuần khiết với cảm xúc trữ tình sâu lắng. Bài thơ Đêm trắng được coi là thi phẩm tiêu biểu của phong cách thơ Eichendo, được dịch ra nhiều thứ tiếng và được nhiều người yêu tích bởi sự đơn giản, tự nhiên và sức gợi cảm mạnh mẽ.
Cảm xúc chủ đạo của bài thơ chính là tình yêu thiên nhiên và nỗi nhớ quê hương của tác giả. Người đọc dễ nhận ra tác phẩm không có những từ ngữ phức tạp, nhưng lại tạo ra không gian thơ mộng lạ lùng, khiến người đọc thấy như được bay bổng theo gió, qua những cánh đồng, về với quê hương thân quen.
Bản dịch của Nam Dư đã chuyển tải được cảm xúc chủ đạo trên của bài thơ, giữ được những hình ảnh của thi phẩm như: cánh đồng lúa vàng gợn sóng, rừng cây rì rào, bầu trời đêm sao lấp lánh. Những hình ảnh đó cũng rất gần gũi với khung cảnh Việt Nam, giúp người Việt dễ hình dung cảnh thiên nhiên rộng lớn yên ả dưới ánh trăng sao… Trong bản dịch, Nam Dư đã sắp xếp câu theo cấu trúc thơ tiếng Việt, tạo ra nhịp điệu mềm mại, du dương, phù hợp với không khí của tác phẩm. Đặc biệt ở khổ cuối, những câu thơ: “Và tâm hồn ta/ Như đang dang cánh/ Bay qua miền đất lặng yên/ Như đang bay về đất cũ thân quen” đã đưa người đọc vào cảm xúc trữ tình sâu lắng, giúp dịch giả giữ trọn ý nghĩa cốt lõi của bài thơ. Đó là mong muốn hòa mình vào thiên nhiên đất mẹ trong sự yên bình thư thái, qua đó bày tỏ nỗi nhớ quê hương da diết của tác giả.
Với bản dich Đêm trắng, Nam Dư đã làm tốt công việc là chuyển tải cảm xúc chủ đạo và vẻ đẹp nghệ thuật của bài thơ để tạo ra một văn bản thơ tiếng Việt có sức lay động lòng người.
*************************
Chuyển ngữ thơ là một nghệ thuật đòi hỏi sự tinh tế, uyển chuyển và khả năng cảm thụ sâu sắc của dịch giả. Nó là sự cân bằng nhiều yếu tố để giữ được “linh hồn” của bản gốc trong một ngôn ngữ mới. Đọc thơ dịch của nhà văn Nam Dư, tôi thầm cảm phục cụ về khả năng đọc hiểu và vốn từ ngữ đủ đầy, đa dạng, cùng sự sáng tạo của một người có tư chất nhà thơ. Tất cả đã giúp cho cụ vững vàng, tự tin trong công việc dịch sang tiếng Việt những bài thơ nước ngoài. Qua đó đưa người Việt đến gần hơn với văn chương thế giới.
(15/4/2026)
NGUYỄN THỊ PHUƯƠNG ANH

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét