NGUYỄN HỮU SƠN giới thiệu
Đi Hưng Yên về, rẽ qua Tòa soạn, có luôn bài báo đồng hành với dịp Đại lễ 51 năm ngày thống nhất đất nước “Văn học trung đại Việt Nam: Từ truyền thống nội sinh đến sự đồng dạng khu vực (Đọc "Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực Đông Á" của Đoàn Lê Giang. NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2025)”. Văn nghệ, số 17+18 (3452+3453), ra ngày 25/4/2026, tr.45… Trân trọng cảm ơn Tòa báo...
Bên cạnh các công trình nghiên cứu nền tảng chuyên sâu về mười thế kỷ văn học truyền thống dân tộc, nhà giáo chuyên gia Đoàn Lê Giang còn hội đủ điều kiện mở rộng khảo sát, so sánh và tiếp cận đa chiều tương quan văn học trung đại Việt Nam trong khu vực Đông Á. Những thế mạnh cơ bản của ông là theo học chuyên ngành Hán Nôm và được đào tạo bài bản, có nhiều năm tu nghiệp và nghiên cứu chuyên sâu văn học cổ điển ở Nhật Bản, đồng thời tham gia quản lý, tổ chức nhiều hoạt động khoa học quốc gia và quốc tế với điểm nhấn lịch sử văn học Đông Á. Khác với nghiên cứu, phê bình văn học hiện đại và đương đại, việc tiếp cận văn học trung đại Việt Nam trong tương quan khu vực Đông Á đặc biệt đòi hỏi nền tảng tri thức Hán Nôm và các lý thuyết văn hóa học, liên ngành, so sánh, tiếp nhận. Cần nhấn mạnh thêm về nội lực cá nhân nhà nghiên cứu được cộng hưởng, phát huy tận độ qua các hoạt động giảng dạy, đào tạo, viết giáo trình, chuyên luận, thực thi liên kết khoa học, hội thảo, chương trình đề tài, dự án và đều được xuất bản, được học giới đánh giá cao.
Về định lượng và cấu trúc, ngoài “Lời Nhà xuất bản”, “Lời nói đầu” của tác giả, “Tài liệu tham khảo” và “Chỉ mục”, chuyên luận Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á chia thành 5 chương: “Một số vấn đề chung về văn hóa, văn học trung đại Đông Á” (gồm 6 mục, bao quát các phương diện tương đồng và khác biệt căn rễ văn hóa Đông Á trong bối cảnh và tiến trình lịch sử phương Đông nhìn từ hệ hình lý thuyết hiện đại…) – “Văn học Việt Nam - Đông Á tiền kì trung đại” (gồm 5 mục bài về huyền thoại lập quốc và những tác phẩm nguồn cội tiêu biểu…) – “Văn học Việt Nam - Đông Á trung kì trung đại” (gồm 7 mục bài, nhấn mạnh các phương diện nội dung xã hội và thi pháp thể loại kinh điển…) – “Văn học Việt Nam - Đông Á hậu kì trung đại” (gồm 10 mục bài, xác định xu thế giải Hán hóa, phát triển các thể loại dân tộc nội sinh, mối quan hệ giữa các quốc gia ngoại biên Hàn - Nhật - Việt và trào lưu nhân văn...).
Có thể lược qui đóng góp chính của chuyên luận theo ba vấn đề nổi bật.
Thứ nhất, ở cả 3 chương (2-4) đều có mục "Những vấn đề chung" nhằm giới thuyết, xác định đặc tính khu biệt tương đối cho từng chặng đường văn hóa - văn học sử Tiền kì (Sơ kì) - Trung kì và Hậu kì (Hạ kì) đặt trong tương quan lược sử văn học trung đại Việt Nam - Đông Á. Bên cạnh hệ qui chiếu quan hệ văn học truyền thống (chủ yếu về tương quan ảnh hưởng trực tiếp, trực diện Việt - Trung), công trình mở rộng và đi sâu khảo sát các phương diện tương đồng lịch sử văn hóa (ngôn từ nghệ thuật, giai đoạn, thể loại, tác giả, tác phẩm...) giữa văn học Việt Nam và Hàn Quốc, Nhật Bản (không nhiều mối liên hệ và ảnh hưởng trực tiếp nhưng có sự đồng dạng, đồng loại hình và tương đồng tiến trình văn học sử)... Văn học trung đại cả ba quốc gia cùng nằm trong vùng ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc (khối chữ vuông, hạt nhân tư tưởng mỹ học Nho giáo và thể loại qui phạm...) đều thể hiện sức mạnh tự cường, từng bước dân tộc hóa và kiến tạo dòng chảy văn chương mới theo xu thế giao thoa Đông - Tây, hội nhập và phát triển... Qua đây có thể thấy tác giả đã gia cố cho quan niệm chủ lưu phân kì ba giai đoạn văn học sử trung đại Việt Nam và khu vực Đông Á, khác biệt với những thử nghiệm phân chia thành 2 giai đoạn (thế kỉ X đến giữa thế kỉ VXIII và từ cuối thế kỉ VXIII đến hết thế kỉ XIX) hoặc chia 4 giai đoạn (các thế kỉ X-XIV, thế kỉ XV-XVII, thế kỉ XVIII – giữa XIX và chặng cuối thế kỉ XIX)…
Thứ hai, tác giả đi sâu khai thác, khơi mở nhiều chủ điểm và thực thể văn hóa, văn học mới. Chẳng hạn, nhấn mạnh kiểu huyền thoại lập quốc Nhật Bản, thể loại truyện truyền kì Đông Á, hồn thơ Basho (1644 - 1694) - Nguyễn Trãi (1380 - 1492) - Nguyễn Du 1765 - 1820), giới thiệu tập tư liệu tối cổ "Ngoại phiên thông thư" về quan hệ Việt - Nhật, trường hợp nhà thơ Kasa kiệt xuất Hàn Quốc Chong Cheol (1536-1593). Việc “điểm nhãn” các vấn đề tư duy “tình yêu và giấc mộng”, “tác giả và văn bản bài thơ Xuân nhật tức sự”, không gian thiêng “Cõi âm” và thể loại truyện truyền kì, vai trò “Dương Minh học” – thực học Minh Thanh và thực học Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX...
Đến đây cần đặc biệt lưu ý thông tin vị thế tiểu thuyết phóng tác "Kim Ngư truyện" của nhà văn Nhật Bản K. Bakin (1767-1848) và việc nghiên cứu so sánh với kiệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du trong vai trò “người môi giới văn học” so với nguồn tiểu thuyết chương hồi “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (1521-1593). Mặc dù "Kim Ngư truyện" có một số ưu điểm về nghệ thuật tự sự, có thay đổi, sáng tạo, có nhiều chi tiết đời thường cụ thể, sinh động hơn nhưng khó sánh được với “Truyện Kiều” như học giới Nhật Bản xác nhận: “Như vậy, vấn đề không phải là sự thay đổi bề ngoài mà chính là thay đổi bên trong, hiện thực bề ngoài không quan trọng bằng hiện thực tâm lí. Giáo sư Takeuchi Yonosuke khi dịch Truyện Kiều sang tiếng Nhật đã nhận xét tác phẩm của Nguyễn Du đã “hoán cốt đoạt thai”, nghĩa là thay đổi hoàn toàn tinh thần của Kim Vân Kiều truyện. Truyện Kiều đã không kể một câu chuyện có tính “khuyến thiện, trừng ác” mà là câu chuyện của tình nghĩa - cái căn cốt của tâm hồn Việt Nam; Truyện Kiều đã không chú trọng ở hiện thực bên ngoài, hiện thực đời thường mà chú trọng ở hiện thực tâm lí; Truyện Kiều đã không chỉ kể câu chuyện về một con người, một gia đình, mà là câu chuyện về phận người - thân phận con người; Truyện Kiều đã không lựa chọn những thủ pháp kể chuyện linh hoạt, hóm hỉnh mà sáng tạo ra một tuyệt tác nghệ thuật ngôn từ - từng câu từng chữ cũng làm lay động sâu xa trái tim người đọc. Đó là sự khác nhau giữa “thợ người” và “thợ trời”, giữa một nhà văn tài năng với một thiên tài, giữa một tác phẩm của một thời và kiệt tác của muôn thuở” (Sđd, tr. 347-348).
Được biết ông Đoàn Lê Giang đã hoàn thành việc dịch toàn văn "Kim Ngư truyện" và một khi tác phẩm này được xuất bản sẽ thúc đẩy hoạt động nghiên cứu so sánh và tiếp nhận kiệt tác “Truyện Kiều” sang một trang mới... Đặt trong tương quan tác phẩm nguồn “Kim Vân Kiều truyện” sẽ thấy rõ hơn đặc tính của "Kim Ngư truyện" (chữ Hán, văn xuôi, tiểu thuyết, phóng tác, Nhật hóa về địa danh, nhân vật…), “Truyện Kiều” (chữ Nôm, thơ lục bát, truyện thơ, giản lược tối đa diễn ngôn đối thoại, tự sự trong khi gia tăng tiếng nói nhân văn, các yếu tố trữ tình, lời độc thoại, đi sâu mô tả số phận và thân phận con người, thiên nhiên tâm trạng…) cũng như góp phần nâng cấp nhận thức các vấn đề vai trò sáng tạo cá nhân, đặc tính dân tộc, thể loại và ngôn từ nghệ thuật trong loại hình văn học Đông Á.
Thứ ba, chuyên gia Đoàn Lê Giang từ vị thế nhà quản lý "tiếng chim gọi bầy" đã tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu và Hội thảo khoa học quốc tế về tương quan văn học Việt Nam - Đông Á (đặt cược vào hệ qui chiếu Việt Nam) và đều sớm có sách kỷ yếu với chất lượng tốt. Chủ đích nghiên cứu so sách được triển khai từ nhiều góc độ (vai trò "người môi giới văn học", đồng đại và lịch đại, quan hệ trực tiếp và đặc tính tương đồng, nhận diện tổng thể và khảo sát trường hợp...). Điều này góp phần quảng bá, nâng tầm dòng chủ lưu mười thế kỷ văn học trung đại Việt Nam trong tương quan Nhật Bản - Đông Á cũng như định hướng đào tạo, phát triển đội ngũ học giả, thúc đẩy quan hệ hợp tác nghiên cứu so sánh văn hóa, văn học Việt Nam - Đông Á lên một tầm cao mới...
Chuyên luận "Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á" thực sự qui mô, có ý nghĩa tổng kết, tổng thành một chặng đường. Có thể xem trường hợp Đoàn Lê Giang như một bài học kinh nghiệm sáng giá trong định hướng đào tạo và hiệu quả tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu chuyên ngành văn học và liên ngành khoa học xã hội trong giai đoạn mới, kỷ nguyên mới.
Vào Thứ 5, 23 thg 4, 2026 lúc, 17:05 PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn - Viện Văn học Nguyễn <lavson1059@gmail.com> đã viết...

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét