Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

NGUYỄN HOÀNG SƠN VÀ NHỮNG CÁI CHAI…THƠ




                                                                              Nguyễn Hoàng Sơn

NGUYỄN HOÀNG SƠN VÀ NHỮNG CÁI CHAI…THƠ

          Đọc Đợi mắt nhìn mới nở, tập thơ của Nguyễn Hoàng Sơn, nhà xuất bản Hội nhà văn, 2010.

                                                Vũ Nho

Tập thơ người lớn đầu tiên của Nguyễn Hoàng Sơn, một tác giả viết cho thiếu nhi nhiều thành tựu là một tập thơ dày dặn với tổng số 118 bài. Tác giả chia thành ba phần với tên gọi Mùa xuân khó khăn, Ba tiếng và Tele Café. Mùa xuân khó khăn có nội dung thơ thế sự, đời thường; Ba tiếng gồm những bài thơ tình và phần còn lại đúng như cái tên “tây” của nó, là những bài thơ viết nhân các chuyến đi nước ngoài. Nhìn chung thì sự phân chia nào cũng có tính tương đối mà thôi. Ví như thơ ở phần  thứ ba, vẫn có thể chia hai để đưa gọn vào hai phần trước.
Ấn tượng trước hết là sự nhận thức đúng đắn về thơ ca và về vai trò của người viết. Tôi thích sự điềm tĩnh và tỉnh táo khi anh viết về thơ mình, về công việc của mình và của những người bạn viết:
Nhưng dù thế nào thì mỗi bài thơ
Cũng là một cái chai ta thả vào năm tháng
Cái biển lớn cuộc đời dẫu chẳng bao giờ cạn
Và không phải cái chai nào con cháu cũng vớt lên!
Nhưng tôi tin: dù nổi, dù chìm
Những cái chai thơ
Cũng nói được một điều đáng nói
                             Những cái chai
Các bài trong phần Mùa xuân khó khăn đều được ghi rõ thời điểm sáng tác ở bên dưới. Bắt đầu là bài Đi trong đêm thị xã với năm 1973, kết thúc bằng bài Đồng nghiệp với ngày tháng năm cụ thể 30/6/2005. Các bài trong phần Ba tiếng không ghi thời gian. Các bài ở phần thứ ba viết trong chuyến đi Đức, Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc với thời hạn cuối là 4/10/2005. Như vậy có thể nói từ 1973 đến 2005, hơn ba mươi năm  nối nhau, có năm viết nhiều, năm viết ít, có năm không viết bài nào, nhưng Nguyễn Hoàng Sơn  đã cần mẫn, kiên trì thả vào biển văn chương, biển lớn cuộc đời những cái chai thơ…

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013

HÀNH TRÌNH CỦA MỘT KIỂU XƯNG HÔ






HÀNH TRÌNH CỦA MỘT KIỂU XƯNG HÔ
                                           Vũ Nho

Thơ Trần Đăng Khoa làm cho người ta ngạc nhiên, khoái trá vì cách quan sát tinh tế, cách nhìn nhận sự vật hồn nhiên, cách liên tưởng rất riêng cùng với cách nói lên những gì nghĩ ra, cảm được và trông thấy. Một phần làm nên cái gọi là giọng điệu thể hiện trong cách xưng hô. Chính xác hơn là trong một kiểu xưng hô. Giữa ban ngày, giá có thắp đuốc lên để tìm kiếm, hẳn là khó có thể tìm ra mấy chữ “mày, tao” rất dân dã, đời thường trong các trang văn học viết Việt Nam. Nghịch ngược như Hồ Xuân Hương kia, một người được mệnh danh “bà chúa thơ Nôm” cũng chỉ xưng “chị”, xưng “đây”. Bản lĩnh, ngông nghênh như Tú Xương nọ, cũng chỉ đôi ba lần xưng “tớ” (Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn - Chẳng sang Tàu tớ cũng tếch sang Tây). Phải nói cho sòng phẳng rằng chữ “mày” chữ “tao” ấy đã được dùng thoải mái trong lĩnh vực thơ ca dân gian, nhưng gần như là một thứ cấm kị trong thơ ca bác học(1) . Bởi thế mà kiểu xưng hô “mày, tao” của Trần Đăng Khoa vừa có cái tươi tắn hồn nhiên, lại vừa như bổ sung thêm một kiểu xưng hô suồng sã, dân dã, đời thường làm cho thơ ca thêm được phần giàu có. Một điều lí thú là người ta quen nghe “lời hay ý đẹp” thành ra không muốn nghe những lời “thô” ở trong thơ. Chú bé Khoa viết:
Trăng bay như quả bóng
Đứa nào đá lên trời.
Chữ “Đứa nào” hồn nhiên, trẻ con kia đã được người biên tập sửa lại thành “bạn nào” cho hợp với cách nói năng của thiếu niên ngày ấy. Thế nhưng “mày, tao” thì sao? Chả lẽ “mày, tao” lại không thô hơn so với “đứa nào”? Dứt khoát là phải sửa. Nhưng đứa nào chỉ chữa tí tẹo là thành bạn nào. Còn “mày tao” thì chữa thành kiểu xưng hô nào cho tương đương? Làm sao có thể thay 6 chữ “tao” và 4 chữ “mày” ở bài “Đánh thức trầu” mà không làm hỏng mất cái hồn của bài thơ, chí ít là không hỏng mất sự tiếp nối với mạch câu hát dân gian của bà bé Khoa? Giả sử ông tác giả trẻ con ấy chỉ xưng hô “mày tao” duy nhất ở bài thơ trên thì kì khu bỏ công bỏ của ra cố mà chữa cũng đáng. Nhưng ở một bài thơ đáng xếp vào kiệt tác khác, bài “Sao không về Vàng ơi” Trần Đăng Khoa đã 11 lần xưng “tao” và 15 lần gọi “mày”. Rồi trong những bài thơ khác nữa: “Đánh tam cúc”, “Nói với con gà mái”, “Câu cá”, “Nhớ bạn”, thì sửa thế nào? Phải chăng vì tần số “mày, tao” quá nhiều? Phải chăng vì không thể thay thế được? Nên đành cứ để cho Khoa gọi hàng ngày ra sao thì viết vào thơ như thế?

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2013

Khúc hát cho những trái tim


 


Khúc hát cho những trái tim
      Lời giới thiệu tập thơ Khúc hát buổi tối
Vũ Nho
Đánh giá một nhà thơ có lẽ không phải chỉ là những gì đã viết, đã in của tác giả, mà còn phải chú ý đến hiệu quả thẩm mĩ đối với độc giả - nghĩa là những câu thơ hay, những khổ thơ hay, những bài thơ hay và cả những tập thơ hay nữa. Dù xét thế nào thì Lê Thị Mây vẫn là một nhà thơ nữ nổi trội nhất sau hai nữ sĩ lớp trước là Xuân Quỳnh và Phan Thị Thanh Nhàn. Về số lượng tập thơ, chị có: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Một mình, Giấc mơ thiếu phụ, Tuổi mười ba, Du ca cây lựu tình, và tập thơ bạn đang có trên tay: Khúc hát buổi tối. Về chất lượng, Tặng riêng một người được giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam. Những bài thơ nổi tiếng như Đám cỏ xanh, Gió quả phụ, Những mùa trăng mong chờ. Giấc mơ thiếu phụ , Nỗi buồn... Nếu anh Tô Hà còn đến bây giờ “những câu thơ trong trí nhớ” chắc là anh sẽ chọn của Lê Thi Mây không ít.
Nhưng chúng ta đang có trong tay “Khúc hát buổi tối” một tập thơ hầu như toàn là thơ tình của Lê Thị Mây. Đây không phải là một tập tuyển chọn những bài thơ tình của tác giả. Trước đó chị đã có bao nhiêu là thơ tình rồi. Song với chị thì càng làm thơ tình thì chị càng khát tình yêu  “Em dốc cạn... Và uống. Cũng không sao hết khát một mình” (Bí mật mùa xuân- trong tập thơ Tặng riêng một người). Nhà thơ có lẽ cảm nhận trước được ý bạn chăng, nên đã giãi bày:
    Không ai như tôi yêu nhiều đến thế
      Tuổi tình yêu dài trọn cuộc đời tôi
                             Bi khúc
Có lẽ nào ta nỡ trách người phụ nữ yêu nhiều, nhất là người phụ nữ đó chỉ có những phút giây yêu ngắn ngủi trong khoảnh khắc chiến tranh:
               Anh khoác ba lô về
               Đất trời dồn chật lại
               Em tái nhợt niềm vui
               Như trăng mọc ban ngày
(Những mùa trăng mong chờ – trong tập Giấc mơ thiếu phụ)
Còn tất cả là sự vò võ khắc khoải đợi chờ, tất cả chỉ là những giấc mơ “lang thang, trôi giữa rạng ngày xanh tái, ơi giấc mơ - bị cắt hết máu” (Giấc mơ thiếu phụ). Hơn thế nữa, trong tình yêu của Lê Thị Mây, chị đã yêu bằng cả tình yêu của “Những cô gái ngủ trong rừng trẻ lắm... Họ ngủ say đất ấm che lên mặt” (Những bài ca – trong tập Du ca cây lựu tình). Chị đã yêu bằng cả tình yêu của “Những người đàn bà chết bom trong thành phố... người đàn bà góa bụa nuôi con sau chiến tranh đã qua được mười năm” (Gió quả phụ – trong tập Tặng riêng một người).
Có phải từ những bài thơ có nhiều tên gọi là “khúc hát”, “bài hát” “tấu khúc”... mà tên chung của tập thơ là “khúc hát buổi tối” chăng. Nhưng rõ ràng đây là những  “bài ca buồn” những “bi khúc”, “bi ca” nên hát cho buổi tối là rất hợp (Dành cho ca bình minh là thơ tình của người nào khác). Đây đó có lóe lên những cảnh sắc tươi tắn , trong trẻo:
    Ngày hôm nay trong trẻo đến nhường kia
    Nắng vàng khoác tấm áo choàng thiếu nữ
    Chân trời nghiêng làn mây trắng quàng vai

Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2013

TRONG NHÀ HÁT



  


Vita Ipchenko
( 8 tuổi, thành phố Ki ev) Vũ Nho dịch từ tiếng Nga

TRONG NHÀ HÁT
Bão tuyết quay cuồng
Cả nhà hát thở dài buồn bã
Trên sân khấu, Di đen nức nở
Và…tắt thở.
Em ngồi xem trong lô ghế tầng ba
Ở ngay sát mái nhà
Em đưa ống nhòm nhìn Di đen
Di đen nằm và…còn thở
Vậy là mẹ bị nhầm
Mẹ buồn vô cớ
Em nhìn rõ Di đen còn thở
Vẫn sống. Và tất cả thật tuyệt vời!

BÀI CA BUỒN
Chị gái ơi, chị đừng rời mẹ và em
Chị đừng đi lấy chồng chị nhé!
Khi những anh muốn làm chàng rể
Đến nhà ta, em viết thơ buồn
Họ đem hoa tặng chị đầu tiên
Để  sau rồi bắt chị ngồi rửa bát
Rửa bát, chị chẳng bao giờ thích
Nghĩa là chị cứ ở nhà với mẹ và em.

Bài đăng trên VĂN NGHỆ THIẾU NHI số 6/1990


Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

KIỂM TRA CÁ TÍNH



                                                                                    Vũ Công Hoan


KIỂM TRA CÁ TÍNH

                                                                                  Tống Ngạn Xuân
                                                                                 Vũ Công Hoan dịch
          Ông chủ Vương hớn hở đắc ý trên thương trường, song lại thất bại thảm hại trong việc dạy con.Cậu ấm nhà ông, Vương Tiểu Mao ở nhà trường thuộc diện ma vương hỗn thế, Trời không sợ, Đất không sợ, lười học kinh khủng, môn nào cũng độn sổ.
           Hôm nay ông Vương tìm đến tôi mời tôi làm gia sư dạy cho con ông.
Tôi hỏi tôi là người đức thế nào tài thế nào? Ông Vương đáp:
          - Nghe nói khi thầy lên lớp, cho các em học sinh tự do phát biểu, trong lớp không khí rất sôi nổi, còn nghe nói, thầy thường đến một số vùng sâu vùng xa tự bỏ tiền đi du lịch, đủ biết thầy không phải người thường, con trai tôi chắc chắn sẽ  thích người như thày dạy bảo.
         
          Tôi đáp, vậy để tôi thử xem.
         
          Tôi hỏi ông chủ Vương một số cá tính và yêu chuộng của Vương Tiểu Mao,  rồi quyết định kiểm tra thi thử đối với cá tính của cậu bé.
         
          Lần đầu tiên gặp mặt VươngTiểu Mao, tôi cố tình gây cho cậu bé bộ dạng không bình thường. Tôi không rửa mặt, không cạo râu, mặc quần bò vá, chân kéo   dép lê cũ. Có thể hình tượng “khủng ” này của tôi khiến cậu thiếu niên phản nghịch ương ngạnh ấy đã cảm thấy đồng điệu chăng. Khi tôi cầm một câu hỏi bảo kiểm tra cậu,cậu lại không phản đối.

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2013

ĐẦU NĂM MUA MUỐI






ĐẦU NĂM MUA MUỐI
                                                     Phạm Đình Ân                                                         
Đột nhiên chiều mùng một
Ai mua muối ra mua
Một rao, mười tiếng vọng
Mặn về nghìn năm xưa.

Hạt cắn đôi cơ cực
Dưa cà kiếp rủi may
Bạc mồ hôi, mủn áo
Ớt mặn dầm đắng cay.

Rắc muối vào vô cảm
Rắc muối vào vô ơn
Xót tan lòng muối xát
Hạt đổ vào vết thương.

Ngẫm lẽ thường mặn nhạt
Muối biển đời trắng tinh
Ngày đầu năm mua muối
Cầm lên tay, giật mình.
1997

CÁI NGÀY ĐẦU NĂM BAO NHIÊU LÀ HI VỌNG, ƯỚC MƠ, BAO NHIÊU LÀ TÍU TÍT NHỘN NHỊP CHÚC TỤNG THĂM HỎI, NHÂM NHI CHÉN RƯỢU, VẦN THƠ, GIỞ TRANG BÁO TẾT, NGHE VĂN NGHỆ TRÊN ĐÀI, COI TI VI LAI RAI....AI AI XEM CHỪNG CŨNG THƠ THỚI TRONG SỰ BẬN RỘN THẢNH THƠI.
Bỗng nhiên có tiếng người rao bán muối.
Đột nhiên chiều mùng một
Ai mua muối ra mua
Nói "đột nhiên" vì là sự "bán muối" từ lâu đã không áp dụng phương thức "bán rong" nữa rồi. Hơn nữa, ngày đầu năm, người ta đâu chú ý đến sự bán mua. Làm ăn theo cơ chế thị trường thì sự "tiếp thị" muối xem chừng chẳng có bao nhiêu lời lãi. Vậy mà vẫn có người bán muối đầu năm.

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2013

MỘT TRĂM THI SĨ MỘT TRĂM BÀI THƠ TÌNH HÀ NỘI - Vân Long





MỘT TRĂM THI SĨ MỘT TRĂM BÀI THƠ TÌNH HÀ NỘI - Vân Long



Thơ tình Hà Nội là một biển nước mênh mông. Người làm sách đã khéo quy tụ (và gạt bớt) cho vừa một không gian 100 bài thơ với 100 thi sĩ "quy tụ hầu hết các thế hệ làm thơ tại Hà Nội, dù còn sót không ít người". Hai điều ngỡ mâu thuẫn nhau mà vẫn chung sống được khi các anh dùng tiêu chí (một chiếc cần gạt êm ái) để những danh sĩ vắng mặt không có lý gì trách cứ: những tác giả đồng ý có mặt trong tập thơ này! (xin hiểu đơn giản là những tác giả có gửi bài). Nếu chọn bài theo nếp cũ, những tên tuổi của làng thơ Hà Nội có mặt trước đó, tập thơ hạn chế với con số 100 bài, sẽ còn rất ít chỗ cho các bạn trẻ, mà tình yêu là của tuổi trẻ, ít nhất độc giả cũng muốn biết ngôn ngữ tình yêu của tuổi trẻ hôm nay!
Tập thơ tuy vắng mặt một số nhà thơ rất Hà Nội... mà không cảm thấy thiếu hụt khi chất thơ Hà Nội đã được lan toả trong cả tập thơ, nhất là nó lại thực hiện cách Hà thành cả ngàn cây số!
Ở Thơ tình Hà Nội, ngoài những bài mới, tôi gặp lại cả những bài, những câu thơ hay tôi từng đọc, từng khen khi tác giả còn rất trẻ: Một mảng thơ đẫm nội lực tình yêu của Trần Quang Quý: Mùa thu xa nhau mùa thu rất rộng/ Rót bao nhiêu thương nhớ cũng không đầy... Bếp im lửa/ Que diêm buồn/ im hộp/ Anh một mình hoang dại nỗi không em! (Mùa thu xa). Hoặc một bài thơ khác của Giáng Vân, chọn góc độ và cách nói lạ: Ta là con gái nhà quê/ Một mình bước trên phố dài/ Lòng nhớ nắng và nhớ gió (Lửng lơ). Một sắc thái vừa khiêm cẩn vừa kiêu sang, nhận là nhà quê, lại một mình trên phố (không gian này không phải của mình), nhưng không rụt rè mà vẫn xưng ta đầy tự tin, hoặc là chỉ để tự nói với mình. Xưa nay bài thơ tình thường chỉ một chủ thể và một khách thể anh và em. Ta ở đây lại là nhân vật thứ ba, nhân vật thêm một (thêm một người thứ ba/ chuyện tình đâm dang dở - Trần Hoà Bình). Nhân vật này ghen với người con gái có câu hát lửng lơ (chỉ qua giọng hát đã thấy được ưu thế của tuổi trẻ và nhan sắc). Nhưng một thứ ghen cao thượng, ghen mà không ghét, một thứ liễu hờn kém xanh mà thôi: Ta gặp anh, ta viết thơ buồn: Ta biết anh là của câu hát lửng lơ kia/ Của một trời đắm say còn bỏ ngỏ... Bao nhiêu năm rồi hẳn hai tác giả này vẫn tự thấy hai bài thơ trên là hai cái đỉnh thơ đáng nhớ của mình, không dễ vượt qua! Thế mới biết thơ hay là của hãn hữu trời cho, khó gặp hai lần trên một đề tài. Chỉ người thợ bậc 7 mới có nhiều sản phẩm bậc 7! Còn nhà thơ... 

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2013

THƠ TRẦN TRUNG-MỘT CHÙM XUÂN




                                  
                                                                                TRẦN TRUNG


THƠ TRẦN TRUNG-MỘT CHÙM XUÂN

    1/ NHỚ HOA ĐÀO
        Bạn khoe vừa có cành đào
        Giật mình chạnh nhớ nôn nao Quê-Nhà...
                   ***
        Mưa Xuân giăng khắp lòng ta
        Sài Gòn sáng nắng...
        Tà tà niềm quê
                   ***
         Rượu xuân nâng Cõi-Đi-Về
        Mai vàng bên sắc hồng tê hoa đào
        Nhớ về chiếc nón quai thao
        Nhớ câu Quan họ dạt dào chầu văn
         Nhớ thơ Nguyễn Bính ngày Xuân
        Nhớ về Nam Định vui chân thì về
         Bây giờ dằng dặc xa Quê
        Nhớ mà chẳng được lần về Cố hương
                   ***
        Thôi thì lấy nhớ làm thương
        Xuân về
         Lòng lại
         Tìm đường...
         Thăm Quê.
       
     2/ SAY
        Một mình thấm thía Đơn-Côi
        Tự Mình, Mình rót có"Mồi" không đây?
                   ***
        Hoàng Chương họ Vũ...giờ này
        Rượu say hay thuốc phiện ngây má đào
                   ***
        Liu tiu chạnh nhớ Văn Cao
        "Suối mơ" đâu?lại cao trào"Tiến quân..."
                   ***
        Trịnh Công gửi gió tần ngần
        Mong cho men tửu xây phần mộ hoang
                  ***
        Chạnh thương Bùi Giáng lang thang
         Đười ươi một kiếp...Đoạn tràng phiêu linh
                  ***
         Phạm Duy đi vội...Giật mình
         Say Đàn...Quên cả Cõi-Tình-Đa-Mang..
                 ***
         Tỉnh-Say,say tỉnh nhỡ nhàng
         Thương Người nên mãi Nàng Nàng-Anh Anh
         Thương Dân,thương Nước-Đã đành...
          Yêu-Say dâng đến ngọn ngành
          Tình si.

                                HÀ NÔI-Ngày 10/2/2013
                               (Mồng một Tết Quí Tỵ)

TRỞ LẠI VỚI CƠN MƯA TUỔI THƠ CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA



 

TRỞ LẠI VỚI CƠN MƯA TUỔI THƠ CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA

 

Vũ Nho (VN): - Xin chào Trần Đăng Khoa. Hôm nay đột nhập vào tư gia, mình muốn ông dành chút thời gian cho một bài thơ viết hơn ba chục năm về trước của cậu bé Khoa.
          Trần Đăng Khoa (TĐK) : - Sẵn sàng hầu chuyện bác.
          VN:  - Trước hết mình muốn biết chú bé Khoa đã viết bài thơ "Mưa" trong hoàn cảnh nào? Có phải từ một đề tập làm văn "Em hãy tả lại cơn mưa rào" của thầy cô giáo hay không?
          TĐK: - Ồ! Không phải một bài tập làm văn được viết bằng thơ đâu. Không có đề văn nào như vậy cả. Nhưng bác có cảm giác ấy cũng một phần vì bài thơ thuộc loại tả cảnh. Còn vì sao em viết ư? Chính là từ gợi ý của một bài ca dao về mưa:
Trời mưa
Quả dưa vẹo vọ
Con ốc nằm co
Con tôm đánh đáo
Con cò kiếm ăn
          Hồi ấy, tuy mới học lớp ba nhưng em đọc dữ lắm. Bạn bè chúng gọi em là "ông cụ non". Em chẳng biết là có già thật không, nhưng em có ý  định dựng một cơn mưa theo kiểu của mình....
          VN: - Bài thơ được viết khi quan sát một trận mưa trực tiếp hay là bằng kinh nghiệm về mưa của em bé đã lên chín tuổi?
          TĐK: - Bài thơ này không viết khi đang nhìn mưa. Mưa  ngấm vào máu thịt của em từ bé. Chúng em chơi trong mưa, tắm trong mưa, chăn trâu cắt cỏ trong mưa. Trẻ con nhà quê quen dãi nắng dầm mưa. Đến bây giờ em vẫn hình dung mùi nước bốc lên từ ao bèo lúc sắp mưa. Vả lại ngồi nhìn mưa mà viết thì hoá ra đó là loại văn thơ viết bằng mắt.