Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

NGUYỄN HOÀNG ANH THƯ giới thiệu

 

NGUYỄN HOÀNG ANH THƯ giới thiệu 

 vna_potal_phu_tho_lien_hoan_hat_xoan_thanh_thieu_nhi_thanh_pho_viet_tri_lan_thu_vi_nam_2019_stand

Cuộc thi “Đại sứ văn hoá đọc”- Trần Thị Hiếu Phương 11D1.
Đề tài: Viết về quyển sách làm thay đổi nhận thức của em.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Thủy Biều - “Trái bầu trôi trên mặt nước” - một vùng quê nhỏ nằm êm đềm bên dòng Hương Giang bốn mùa xanh mát, nổi tiếng với đặc sản thanh trà thơm ngon say đắm lòng người. Tuổi thơ của tôi gắn bó với nơi này, bên cánh đồng xanh màu non mạ lấp lánh sương mai, với những con đường, hẻm nhỏ quanh co rãi đầy rơm rạ. Mùi hăng hăng của đất hòa vào mùi cỏ cây bốc lên sau những cơn mưa hay tiếng máy cày, máy cà vỏ trấu vào mỗi buổi chiều đã trở nên thân thương quá đỗi, ám ảnh cả một miền trời kí ức. Niềm vui nhỏ bé của đứa trẻ như tôi ngày ấy là được cùng chúng bạn trong xóm thu thập giấy báo cũ xin từ bưu điện xã rồi kiếm vài thanh nẹp tre để xếp diều, xếp hạc. Những chú diều bé con thỏa sức vút trong gió trời lồng lộng, còn dưới mặt đất, lũ trẻ con chúng tôi đứa nào đứa nấy ngơ ngáo đưa mắt dõi nhìn mãi không biết chán, tiếng cười đùa ríu rít vang động, lan tỏa khắp không gian...Có ai ngờ đâu, cánh diều tí hon thuở nào giờ đã lớn, mang theo biết bao niềm vui bình dị, những ước muốn giản đơn, ngây ngô, non nớt của lũ trẻ con ngày ấy bao cao mãi....
Ông ngoại luôn dặn tôi phải luôn đặt việc học hành lên hàng đầu vì sau này muốn tiến thân, muốn cuộc sống sung sướng thì phải cần có tri thức, có bản lĩnh giữa đời. Ông yêu thương đặt tên cho tôi là Hiếu Phương - chữ “Hiếu” trong hiếu thảo, hiếu nghĩa, hiếu thuận, còn “Phương” là quê hương, quê nội của tôi - Thủy Phương, Hương Thủy, Thừa Thiên Huế - Ông mong muốn tôi dù sau này có đi đâu, có là ai thì trái tim vẫn phải hướng về cội nguồn, tổ tiên gốc gác, phải là người con có hiếu với cha mẹ. Tôi yêu, và thương vô cùng cái tên mà ông đặt cho tôi và càng yêu hơn khi biết được ý nghĩa đằng sau nó. Và cả chữ “Thị” trong đó nữa. Tôi không biết lí do vì sao nhiều người lại không thích chữ “Thị” trong tên của mình và thường gạt nó ra, có người còn cho rằng đó là nỗi ám ảnh, là quê mùa. Nhưng với riêng tôi, chữ “Thị” nghe “thiệt” dễ thương, nó vừa dịu dàng, nữ tính, vừa có chút nhu mì, đằm thắm, nặng tình đến lạ lùng, chỉ nghe thôi là gợi nhớ đến Huế thương, thấy trong lòng đầy tự hào và ngập tràn sung sướng...!
Tôi luôn tự hào khi giới thiệu mình là một cô gái Huế “rặt”. Nhớ về Huế là người ta nhớ đến mảnh đất kinh kỳ ngày xưa, nhớ đến “cái đẹp, cái mơ, cái thơ mộng tuyệt của đất Kinh thành”. Bởi vì Huế tuyệt đẹp, thật duyên dáng với nét dáng riêng không hòa lẫn đâu được, vẻ đẹp kết hợp giữa thiên nhiên với tĩnh lặng siêu nhiên, hài hoà với tâm tư và trạng thái con người đem lại cho tâm hồn sự tĩnh lặng, yên bình, an nhiên và thanh thản. Không phải ngẫu nhiên mà Huế đi vào trong thơ ca, trong văn chương với biết bao mĩ từ khi miêu tả, đó là mộng mơ, trầm lắng, nghiêng sầu, đằm thắm, buồn tênh, trầm mặc,... - Mà cái lạ lùng là những từ ngữ ấy miêu tả cho con người và cả cảnh sắc chung. Phải chăng cảnh vật là nguyên nhân tác động khiến người dân xứ sở có những nét tính cách, phong thái đặc trưng như vậy, hay chính bởi con người và phong vị, cuộc sống nơi đây đã nhuốm màu vào phong cảnh một sắc tím thắm đượm tình yêu, một màu tím đậm đà, tím thủy chung “nét dịu dàng pha lẫn trầm tư”.
Tôi thương biết mấy những vần thơ, câu hát về Huế. Có lẽ điều đó một phần lớn ảnh hưởng từ niềm yêu văn chương của ông nội. Ông tôi yêu thơ Huế vô cùng, và không nói quá khi ông dành cả cuộc đời mình để tìm hiểu văn hóa Huế cũng như sưu tầm, sáng tác hàng trăm bài thơ về quê hương xứ sở. Những cuốn sổ tay ghi chép đầy thơ, sau ngày ông tôi mất được bà tôi giữ gìn như những kỉ vật gia truyền - nâng niu và ấp ủ. Trong đó, tôi yêu nhất là lời ca khúc “Rất Huế” của nữ ca sĩ Bảo Yến do nhạc sĩ Tá Hân sáng tác:
“Giữ chút gì rất Huế đi em Nét duyên là trời đất giao hòa
Dẫu xa, một mai anh gặp lại
Vẫn được nhìn em say lá hoa...”
Những ca từ mộc mạc, chân phương quá đỗi, nhưng mà đủ dịu dàng,
đủ để vừa đọc, nghe qua thôi đã vấn vương, thấy thương nhớ, quyến luyến biết bao.
Văn chương viết về Huế thì không xuể, nhất là về văn hóa, du lịch Huế thì ta không khó để tìm thấy ở các nhà sách lớn nhỏ trong thành phố nhưng sách viết về Huế từ những điều nhỏ bé, bình dị nhất, do chính người Huế viết nên thì thực khó để tìm thấy một văn phẩm nào đồng điệu. Cho đến khi tôi biết đến “Tiếng dạ tiếng thương” của bác Nguyên Du - một nhà văn, nhà báo sinh năm 1962, một người con lớn lên ở Phường Đúc, thành phố Huế, hiện đang làm việc tại Đài phát thanh và Truyền hình tỉnh Thừa Thiên Huế.
-------------------------
“Tiếng dạ tiếng thương”, đó là một cuốn sách với trang bìa vàng đầy ấn tượng, nổi bật là hình ảnh của một người con gái Huế dịu dàng, thuỳ mị trong tà áo dài tím thân thương, chiếc nón bài thơ nghiêng nghiêng e lệ, mái tóc thề xõa ngang lưng ôm ấp khuôn mặt trái xoan tươi tắn cùng nụ cười hiền và gò má ửng hồng tự nhiên. Mới chỉ ngắm trang bìa thôi nhưng đã đủ để tạo cho người đọc những tình cảm chớm nở nhẹ nhàng và niềm yêu muốn khám phá nội dung đang ẩn chứa trong từng trang sách. “Tiếng dạ tiếng thương” của nhà văn Nguyên Du được Nhà xuất bản thanh niên ấn hành vào đầu năm 2021, nằm trong bộ ba cuốn: “Nhất Huế nhì Sịa”, “Bầu bí lớn xuống”, “Tiếng dạ tiếng thương”. Sách dày 233 trang, bao gồm 45 bài. Mỗi trang văn là những hồi ức tuyệt đẹp, sống động của tác giả về Huế, những câu chuyện nhỏ, những cung đường in dấu chân, những cái tên thân thương hay những con người quen mặt... Đó là những lát cắt của thời gian, là thước phim quay chậm “níu giữ tâm hồn của văn chương” và neo đậu nơi tâm hồn người bao niềm xúc động...
Nếu như ở “Nhất Huế nhì Sịa” nhà văn Nguyên Du đưa người đọc trở về với “phố xá thân quen”, “vùng ngoại ô”, “về quê” để tìm lại những dấu hình đã cũ, “Bí bầu lớn xuống” - một lần xa rời cuộc sống bộn bề vội vã để hò hẹn với màu xanh thiên nhiên cây trái quê hương thấy lòng mình mơn man hơn, nhẹ hơn...Thì đến với “Tiếng dạ tiếng thương” ta khám phá sâu hơn vào đời sống nội tâm, hồn vía của con người xứ Huế. Người ta hay nói Huế thâm trầm, lặng lẽ là thế nhưng thực tận sâu bên trong tâm khảm lại là một đời sống hết sức phong phú, vui tươi và cũng ngập tràn biến động... Như cái cốt của thể loại tản văn, không như những thiên truyện dài dằng dặc với những chi tiết, nhân vật, hành động hiện lên cụ thể, cũng không sao chụp hay cân đo đong đếm chi nhiều, nhà văn Nguyên Du lần lượt đưa người đọc đi từ miền kí ức này đến miền kí ức khác, những xúc cảm chân thực, tự nhiên tuôn trào ra đầu ngọn bút, thấm thía trong từng trang viết cuộc đời, càng đọc ta lại càng được thắp lên một điều mới mẻ, mới mẻ mà lại vừa gần gũi, thân quen.
Đó là “Tình Huế” - một chủ đề Nguyên Du lựa chọn để mở đầu cho “Tiếng dạ tiếng thương”. Bởi lẽ, cái “tình” là cái chủ thể bao trùm lên tất cả, lên cảnh vật, và tận sâu trong đôi mắt xanh ngời của người thiếu nữ và kẻ lữ khách xa quê... Tình Huế của Nguyên Du là hình ảnh những tà “áo trắng thiên thần” của “nàng thơ” Đồng Khánh ngày xưa... “Như một sáng tinh khôi bắt gặp tà áo nữ sinh duyên dáng trên đường đầy gió sông Hương hay giữa trưa đầy hương long não nhìn ai áo dài e ấp, mắt thoáng xa xăm đứng đợi trước cổng trường vôi hồng, vôi tím...”; là những rung động, là cái nhìn vụng trộm gửi trao cho mối tình đầu ngây ngô, khờ dại “...Người con gái chuyên thêu bảng tên cho tôi, thêu hình dấu nhân lớp 10 màu xanh, lớp 11 màu tím, lớp 12 màu đỏ mà nữ sinh cùng lớp tôi thêu không đẹp bằng...”; đó còn là nỗi nhớ về “hương quế”, cái món quà vặt mà trẻ con ngày xưa “quý lắm”,”miếng quế nhỏ bằng đốt ngón tay mà thay nhau khới từng li từng tí, hít hà mãi không thôi” ... Có lẽ mỗi người, qua mỗi thời kì sẽ tự có trong mình một cách biểu lộ, một cách cảm thấu tình cảm rất riêng dành cho “một miền gái đẹp”, “một thoáng cỏ mây”, là Huế. Đọc tới đây, tự nhiên trong tiềm thức tôi gợi nhớ giai điệu ca khúc “Tình Huế” thể hiện bởi ca sĩ Vân Khánh mà đài phát thanh của xã thường bật vào mỗi buổi sớm:
“Lòng đã hẹn thề sao chưa về thăm Huế người ơi
Áo tím ngày xưa, tím vần thơ, tím cả mong chờ...”
Răng mà thương nhiều rứa Huế ơi. Một lần ghé thăm là chẳng nỡ xa rời, cứ quyến luyến, cứ thấy lòng xuyến xao chi lạ! Mong lại được một lần gần nhất quay trở lại và ôm ấp trong vòng tay dịu dàng của Huế mãi thôi!
Đến với Huế, ngoài những lời ngợi ca vẻ đẹp núi sông, di tích, con người nơi đây, khách thăm còn yêu luôn giọng nói nhỏ nhẹ, ân cần của người dân xứ Huế, đặc biệt là người con gái Huế. Một nhà thơ, khi viết về “Giọng Huế” đã miêu tả một cách đầy hình tượng:
“ Em ơi giọng Huế có chi
Mà trong hoa nắng thềm thì cơn mưa”
Đọc văn của bác Du tự nhiên lại được vỡ lẽ ra nhiều điều và cũng tìm cho mình câu trả lời của những thắc mắc thuở nhỏ. Không hiểu vì sao mẹ lại xưng thưa bà ngoại là “mạ” mà không phải là “mẹ” như tôi bây giờ, hay vì sao con gái lại thường được mắng yêu là “yêu tinh bánh nậm”? Thế mới biết trong phương ngữ của người Huế là cả một chân trời thú vị để khám phá, càng đọc lại càng thấy thích, thấy yêu. Mê nhất là “Thời ấy biên thư”, một khoảng trời của kí ức, của quá khứ thời phiếu tem hiện ra nguyên vẹn, tràn đầy. Thời của tôi hiện đại đã có internet rồi nên việc trao đổi trò chuyện với nhau qua thư từ đã trở nên không còn phổ biến nữa. Thay vào đó đã có Gmail, Facebook, Zalo,... những phương tiện, trang mạng xã hội mà chỉ “Facetime” là đã gặp được nhau, chỉ cần gõ phím, nhấn nút “Enter!” là có thể gửi tin nhắn trong vài tích tắc. Còn ngày xưa, người ta thích ngồi “biên thư” để gửi cho người mình yêu thương hơn. Trong những chiều đông lạnh giá, đọc những nét bút nghiêng nghiêng trên cánh thư xa xôi mà lòng nghẹn ngào thắt lại, con tim ấm nóng hơn và cũng bớt cô đơn hơn... “Tôi bước sớm vào đường yêu nên tuy chưa biên thư cho người miền xa nhưng rất nhiều cho những người gần gũi, suốt cả một thời! Thật là đơn điệu tẻ nhạt khi mỗi ngày ai vẫn cô đơn trên những bước về, hờ hững với bao hình bóng qua, bởi thế mới có những tình yêu học trò, mối tình đầu, tình cuối, tình lỡ và cả tình yêu sét đánh! Yêu sao những lá biên thư một thuở để nói lên bao điều nhung nhớ, thương yêu và cả giận hờn nữa!...”. Thời nay vẫn còn nhiều bạn trẻ tìm về với những hoài niệm trong quá khứ, tập cho mình sở thích viết thư, đọc thư, trao gửi những tấm thư tay cho người bạn ở xa, người thân ở quê nhà, hay một tấm thiệp chúc mừng, hỏi han vào một dịp đặc biệt - Như là một cách níu giữ lại một thời dĩ vãng từ lâu đã bị lãng quên trong kí ức của nhiều người.
“Giữ chút gì rất Huế mặn mà
Dạ thưa ngọt lịm ai mê say”
Người Huế hay con gái Huế mỗi lời nói đều đi kèm theo hai tiếng “dạ, thưa”. “Dạ để đồng ý, dạ để từ chối, dạ để chờ đợi, dạ để suy nghĩ, dạ để hỏi và nhiều khi dạ không là chi hết”. “Tiếng dạ tiếng thương” trở thành một thói quen, một nếp nghĩ, nếp sống mà không cần gượng ép cũng có thể thốt ra một cách quá đỗi tự nhiên và đáng yêu vô cùng. “Cháu thương bà”, “Con thương ba”, “Em thương anh”, người Huế dùng “thương” nhiều hơn là “yêu”, bởi lẽ thương là sâu sắc, là nặng lòng hơn, thắm thía hơn... Đọc “Giọng Huế” của bác Nguyên Du để thấy thương và tự hào hơn bao giờ hết giọng nói quê hương mình.
Đã một lần đến Huế thì phải tìm về “Vị Huế” bởi vì không phải ngẫu nhiên là chốn này được mệnh danh là xứ sở ẩm thực của Việt Nam. Chạy xe dọc theo từng tuyến phố ở Huế không khó để ta bắt gặp một quán ăn hay một gánh hàng rong vỉa hè bình dân. Nhà văn Nguyên Du dẫn ta đến với “Bánh ướt Kim Long”, “bún bà Bê”, “quán Vịt Thuận”, “chè mụ Lệ”, những địa điểm ăn uống đặc trưng và thân quen mà kể cả những ai không sành ăn nhất cũng đều phải biết mà còn thú vị hơn khi được hiểu về những câu chuyện đằng sau nó. “Chiếc xe phở dạo” “O” Bê gắn liền với kỉ niệm của bác Nguyên Du, của bao người dân xứ Huế trong đó có tôi. Đó là một gánh phở nhỏ nằm gần cầu Lòn. Tôi ăn phở của mệ Bê từ khi còn nhỏ cơ. Cứ cuối tuần được ba mẹ chở đi chơi là tôi lại được ghé vào quán bà để ăn. Cho đến tận bây giờ, cũng đã hơn mười năm rồi, tôi vẫn thường xuyên ăn ở xe phở của mệ, “Cho con một tô tái nạm nhiều đầu hành mệ hí!”, hương vị phở năm xưa, đến giờ vẫn không hề thay đổi... Tôi cũng không biết mệ bán ở đây bao nhiêu năm rồi nữa, chỉ biết rằng món phở của mệ đã đi vào trong kí ức, tuổi thơ của bao người...; “Vị Huế” làm sao thiếu cái hương khói đặc trưng của “Thuốc lá Cẩm Lệ” cho được! Nhớ da diết! Mấy đứa bạn tôi ở thành phố thì ít biết về loại thuốc lá này nhưng một đứa sinh ra ở vùng quê như tôi thì lại rõ hơn hết. Tôi nhớ hồi nhỏ ông tôi hay nhờ đi mua cho ông mấy gói thuốc Cẩm Lệ ở hàng o Lài. Khác với thuốc lá bây giờ người ta cuộn từng điếu nhỏ bằng nhau sẵn rồi cho vào hộp giấy sang trọng, thuốc lá Cẩm Lệ là những lá thuốc cắt sợi nhỏ gói vào trong giấy báo, khi bán o hay kèm thêm vài miếng giấy quyến để vấn thuốc hút. Bây giờ thì dường như người ta chẳng mấy ai hút nữa, hiếm lắm mới thấy các bà các mệ ra mua thuốc, như để tìm lại cái hương vị của ngày xưa...
Tôi ưng cảm giác ngồi nghe những chuyện ngày xưa của Huế qua lời kể mấy dì, mấy cậu, của cụ già trong thôn hay giản đơn hơn là của các bác đạp xích lô, các cô gánh hàng rong đầu ngõ... “Chuyện Huế” thì nhiều vô kể. Những câu chuyện thường nhật hay những dấu mốc sự kiện quan trọng của thời gian đều khơi gợi nên trong lòng những xúc cảm đặc biệt. Người Huế lưu những kỷ niệm cũ và duy trì những niềm tin đã tồn tại từ ngàn xưa có phần huyền hoặc, ma mị, tâm linh. Thực chất đó điều là những điều không tồn tại thực, nhưng nó làm cuộc đời thêm nhiều thi vị và đời sống cũng càng phong phú hơn. Những đứa trẻ chúng tôi ngày đó vẫn thường bị người lớn dọa nếu ham chơi hay biếng ăn là bà quạ, ông kẹ vào bắt nhốt vào trong “cái bội” mang đi hay khi ngồi trong mâm cơm kiêng kị không được gõ đũa vào bát, hay là dọa qua những câu chuyện “Con ma ơi” hù sởn hết da gà .... Càng lớn lên, những niềm tin huyền hoặc ấy càng phai dần, những đứa trẻ không còn lo lắng vì những điều không có thực ấy nữa; chúng
biết tìm hiểu trên mạng rằng ma quỷ không có thực và chỉ cần một chiếc ipad thì đã có thể tự ngồi ăn ngoan và nghiêm túc.
Ngoài ra còn phát hiện điều khá lạ kỳ là vùng đất này, với cả thiên nhiên và con người hàm chứa nhiều khía cạnh cực đoan và mâu thuẫn với nhau: phong cảnh nhẹ nhàng, tươi đẹp mà khí hậu thì mưa nắng bất thường và luôn luôn hứa hẹn thiên tai khủng khiếp. Trong “Dòng sông nổi giận”, khi cảm xúc bồi hồi nhớ lại trận lũ lịch sử năm 1999, nhà văn Nguyên Du chia sẻ: “Những người đang sống hôm nay không thể nào quên những ngày đầu tháng 11 năm 1999, mưa chưa từng có bao giờ đã nhấn chìm quê hương trong nước lũ. Không điện nước, thông tin liên lạc, cả nước hướng về miền Trung, hốt hoảng mường tượng Huế như một thành phố của cõi âm im lìm, lặng lẽ nhiều ngày đêm liền...Thừa Thiên Huế ước tính lũ năm 1999 đã lấy đi của tỉnh 8 năm lao động cật lực, chắt chiu...”. Năm 2020, Việt Nam một lần nữa đối mặt với trận lũ lịch sử, song hành là bệnh dịch Covid 19 hoành hành đã gây ra nhiều tổn thất nặng nề về người và của. Những con người ở tuyến đầu đã ngày đêm nỗ lực, ra sức ngăn chặn dòng lũ, ứng cứu, động viên người dân vượt qua khó khăn trước mắt, những anh hùng áo trắng luôn trong tư thế sẵn sàng, thức trắng đêm, cạo tóc, rời xa gia đình để hỗ trợ, giải cứu bệnh nhân thoát khỏi lưỡi hái của thần chết. Bao tấm gương người tốt việc tốt đã được vinh danh, những nghĩa cử tốt đẹp được tuyên truyền rộng khắp. Và giờ đây, chúng ta vui mừng đã tạm thời ổn định được tình hình dịch bệnh, đó là tín hiệu đáng mừng, song những khó khăn, vất vả vẫn còn ở ngoài kia. Chúng ta mong đợi tin vui là sẽ có một loại vắc xin giải cứu thế giới thoát khỏi Covid 19, để cuộc sống người dân lại được yên bình, hạnh phúc.
“Tiếng dạ, tiếng thương” của một cuốn sách hay, rất đáng đọc và dành cho tất cả mọi người, đặc biệt là những ai mong muốn khám phá những giá trị vẻ đẹp Cố đô, những người con xa quê thương nhớ về quê hương hay những ai đang sống trên quê hương mình, muốn tìm về một miền thương nhớ đã qua... Cuốn sách sẽ như một người hướng dẫn viên du lịch, một người bạn tri âm lặng lẽ cùng bạn đọc sống lại những kí ức tuổi thơ hay du hí những khung trời mới mẻ. Với một giọng văn rất nhẹ nhàng, ngôn từ chân quê pha một chút hóm hỉnh và đặc biệt là đong đầy tình cảm của một người con đất Huế, tập tản văn “Tiếng dạ tiếng thương” của Nguyên Du đã thực sự chạm đến trái tim của bạn đọc gần xa và mang đến những thông điệp giản đơn nhưng ý nghĩa. Còn gì tuyệt vời hơn khi vào một buổi chớm bình minh trong vắt, ngồi bên khung cửa sổ, nhâm nhi một chút trà và mứt Huế, nghe một playlist những ca khúc về Huế, và đọc “Tiếng dạ tiếng thương”, bạn đọc sẽ thấy thời gian như tan chậm, những xúc cảm tâm hồn được mở ra, ngân nga hơn, bay bổng hơn, lâng lâng, nhẹ nhàng, thư thái hơn bao giờ hết.
Bản thân tôi là một người con sinh ra, lớn lên ở miền đất Huế thân yêu, khi được đọc và trải nghiệm cuốn sách này tôi thấy yêu hơn quê hương mình, từ những mái nhà, lũy tre, con đường, ngõ xóm - những sự vật bình thường nhất, nhỏ bé nhất cũng trở nên đáng yêu, thân thương trong trái tim tôi. Cuộc sống trôi qua vội vàng quá khiến bản thân ta cuống quýt chạy theo nó mà bỏ lỡ hay quên đi những điều tưởng chừng là thân quen nhất, gắn bó nhất với chúng ta. Và để rồi sau này lại khao khát một chiếc vé quay về tuổi thơ, nhìn lại những vết chân ta đã đi qua thì những sự vật đó, những con người đó, những quán xá đó giờ chỉ còn là vết bụi mờ của thời gian, miên viễn chôn vùi cùng hoài niệm, trong ngăn kéo tiềm thức của mỗi người.
Cảm ơn nhà văn Nguyên Du vì một cuốn sách hay và đã thật chân thành, đặt nặng hết thảy lòng mình để viết nên. Cảm ơn cuốn sách đã giúp tôi dành trọn vẹn tình cảm với Huế: Huế của hôm nay và một “Huế để cất lại và để nhớ về”.
 

 

con-gai-hue

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét