Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

TẢN MẠN PHƯƠNG NGỮ LÀNG TRÈM






TẢN MẠN
PHƯƠNG NGỮ LÀNG TRÈM
ĐÔNG CHI
     Nội trong huyện Từ Liêm này, từ xa xưa, đã thấy có sự khác biệt khá rõ về phương ngữ (ngôn ngữ địa phương), phương âm (phát âm địa phương) giữa các kẻ (làng) Noi (Cổ Nhuế), Giàn, Cáo (Xuân Đỉnh), Đăm (Tây Tựu), Đông Ba, Thượng Cát, Nội, Mạc, Hoàng (Liên Mạc), Vẽ (Đông Ngạc) Sù, Gạ (Phú Thượng)… với kẻ Trèm (Chèm - Thụy Phương) ta. Mỗi phương ngữ, phương âm mang màu sắc độc đáo, thú vị riêng, tạo nên một trong những đặc điểm bản sắc văn hóa phi vật thể của một làng quê, một vùng điạ linh nhân kiệt. Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi chỉ tự giới hạn bước đầu tìm hiểu một cách tản mạn, ngẫu hứng và sơ lược về một vài phương ngữ, phương âm hiện tồn nhưng ít phổ biến ở làng Trèm - xã Thụy Phương ta.
     Trước tiên là cái tên Nôm cổ của làng, bao lâu nay đã song hành 2 cách nói - viết đối lập: Trèm và Chèm. Sự khác biệt được tạo bởi 2 phụ âm: ch – tr. Thực ra, một số nhà ngôn ngữ học và dân tộc học đã khảo sát từ nguyên, chính tả, và lý giải rằng: Tên cổ của làng ta (Trèm)  xuất phát từ chữ p’lem à t’lem; đến thời Bắc thuộc, tiếng Việt bị Hán hóa cách viết, cách đọc thành Từ Liêm; đến thời nhà Nguyễn (thế kỷ 19), trở thành tên 1 huyện phiá tây bắc tỉnh Hà Nội. Một trong những xu hướng phát âm của người Hà Nội nói chung, người làng Trèm nói riêng, là nhẹ hóa phụ âm tr, giống như và lẫn với phát âm phụ âm ch. Bởi vậy: Trèm nói thành Chèm. Không chỉ trong ngôn ngữ nói mà dẫn chuyển cả sang ngôn ngữ viết (viết như nói). Mặc nhiên, không biết tự bao giờ, cách nói - viết Chèm cứ dần chiếm ưu thế và thay thế cách nói – viết Trèm, kể cả các văn bản hành chính, luật pháp chính thức. Nhưng riêng người viết bài này (dù có ý kiến cho rằng tôi hay tự gây nhiễu sự ngôn từ!) vẫn thường hay nói – viết theo cổ nhân (Trèm), ngõ hầu góp phần nhỏ mong bảo tồn một trong những phương ngữ, phương âm cổ truyền độc đáo của làng quê yêu dấu.

     Trong tiếng Việt ta, có tới trên dưới vài chục từ, ngữ biểu thị khái nhiệm chết: từ trần, qua đời, tắt nghỉ, yên giấc ngàn thu, thiên thu vĩnh quyết, khuất núi, về cõi, hai năm mươi, trăm tuổi, nhắm mắt tắt hơi, lên tiên, xuống âm phủ, tuyền đài, cửu tuyền (nguyên), chơi suối vàng, ngủ với giun, viên tịch, lên Thiên đường, về với Chúa, sang Tây Trúc (Thiên), hạc giá tiên du, hết tuổi trời, xuôi cẳng sáo, sang thế giới bên kia, đi Văn Điển, lên đài hóa thân hoàn vũ, về với ông bà… Phương ngữ quê Trèm có 2 từ ngữ đáng chú ý: 1. Ra Ba Gò (hoặc Gò Cao) là nơi tọa lạc nghĩa trang xã Thụy Phương. 2. Héo sữa. Sinh thời, cụ Nguyễn V. và một vài cụ họ tôi rất thích sử dụng từ này. Ví dụ: Chẳng may cụ X đã héo sữa, về với tổ tiên rồi! Có lần tò mò, tôi thắc mắc với cụ V về ý nghĩa cụm động (tính) từ kỳ lạ này. Cụ tặc lưỡi: - Thì các cụ xưa nói thế thì mình cũng bắt chước mà nói vậy mà thôi! Riêng tôi cho rằng có lẽ đây là 1 trong những từ ngữ độc đáo nhất của phương ngữ Trèm nói riêng, phương ngữ Hà Nội nói chung.
     Trong một số công đoạn làm bánh chưng, làng tôi có 2 phương ngữ: thẹp và rộp. (Ví dụ: Bánh chưng ai thẹp, rộp nào cũng ngon! (thơ NĐP, thôn Hồng Ngự). Thẹp là luộc lại. Bánh chưng để dành đã vài ngày, hơn tuần trở ra, lạnh, cứng, lá dong dính chặt vào vỏ bánh, cực khó bóc. Muốn dễ bóc và ăn được nóng, ngon, cần cho vào nồi (xoong) luộc lại. Rộp (danh từ dùng như số từ) chỉ 2 (đôi, cặp) bánh chưng xếp úp bụng vào nhau. Người Trèm dùng 4 chiếc lạt giang mỏng, dẻo buộc chặt lại. Lại lồng 1 chiếc lạt nữa làm quai xách, bỏ vào nồi luộc. Bánh chín, vớt ra, đặt, xếp hàng từng dãy, từng rộp giữa hai tấm cánh cửa gỗ phẳng. Dùng hai chiếc cối đá (để giã giò) hoặc 2 thùng nước đầy đè lên, ép chặt cho ráo nước khoảng 10 – 12 h. Xong, treo từng rộp bánh lên dọc bức thuận hay tường nhà, để dùng dần…
     Một vài phương ngữ, phương âm khác: Hón = xinh xắn, nhỏ nhắn, vừa vặn, ưa nhìn (chỉ con gái hoặc đồ vật). Ví dụ: Con bé nhà Y, thôn Đình hón nhỉ! Cậu N mới mua được con xe rất hón!). Bi (giờ) = bây giờ. Ví dụ: Bi giờ cô mới kể cho cháu nghe chuyện này… (Lời nói cửa miệng của bà B, thôn Đồng). Khươm mươi niên, cửu mươi đại (có sự kết hợp giữa từ HánViệt và từ thuần Việt rất bất ngờ, tự nhiên, hóm hỉnh, ngộ nghĩnh!) = rất lâu, không biết bao nhiêu năm, bao nhiêu đời. Xu hướng phát âm: sáu à sấu, máu à mấu, gánh à ghính, chânà chưn… Những xu hướng phương âm này chỉ tồn tại trong giao tiếp – nói; còn trong ngôn ngữ viết – văn bản, hầu như không xảy ra với người làng Trèm. So sánh của dân Trèm: nhà to như cái tàu tượng (ngôi nhà đặt tượng Ông Voi, ông Ngựa, trông ra Gảnh đình (đoạn bờ sông trước cửa Đình Trèm).
     Tên riêng các xứ (cánh) đồng làng. Một số có thể suy đoán, giải thích được ý nghĩa; còn đa phần không hiểu nghĩa ra sao, bắt nguồn từ đâu?! Chẳng hạn: Cầu Mới (xứ đồng chung quanh một cái cầu – nhà ngói nhỏ để thợ cày, cấy nghỉ chân, tránh mưa…mới dựng), Cầu Gạo (bên cạnh có cây gạo cổ thụ), Cầu Đìa (bên cạnh có cái đầm nhỏ), Cầu Đồ (?)… Cầu Ba cây (bên cạnh có cây đa ba nhánh)… Ao Cá, Ao Dài (có lẽ vì ở đó xưa có một cái ao dài thả cá)… Nhưng những địa danh sau thì không hiểu ý nghĩa như thế nào: Lịp, Kiếu, Đống, Tranh, Khóm, Đỗi, Đồng Thúy, Đồng Gia, Đồng Vườn, Ba Đừng, Phiên Nha, Mả Tế…??? Thật phong phú và cũng thật khó hiểu!
* Một vài phương ngôn, ca dao, câu đối:
-         Tông (trông) hổng như cổng làng Trèm! Nghĩa đen: cổng làng Trèm bị tháo cánh, mất cánh cổng, suốt ngày đêm toang hoang, hếch hoác (thời CCRĐ và sau đó,… cho đến nay, làng Trèm quê tôi vẫn chưa phục dựng được 1 chiếc cổng làng nào!?). Nghĩa bóng: có ý chê trách tính hớ hênh, thiếu kín đáo của một số người làng Trèm.
-         Người làng Trèm không thèm nói dối!: tự hào về tính thật thà, trung thực của người làng Trèm.
-         Giò Trèm, nem Vẽ. Ca ngợi đặc sản ẩm thực của làng Trèm: giỏi chế biến các món giò: giò lụa, giò pha, giò mỡ, giò thủ, giò xào…cũng như làng Vẽ (Đông Ngạc) nổi tiếng về món nem (chạo, thính).
-         Khỏa chèo, mình ngược bến Trèm/Viếng Lý Ông Trọng, hoa chen mái Đình/Giò Trèm, ai gói xinh xinh/Nắm nem làng Vẽ đậm tình quê hương (Ca dao Hà Nội).
-         Chùa Trèm - hộ pháp vẽ (Vẽ)/Đình Kẻ – lợp ngói dày (Giầy). Sâu sắc, thú vị ở biện pháp tu từ đồng âm - chơi chữ: vẽ (động từ) và Vẽ (danh từ riêng) – tên làng Vẽ (Đông Ngạc); dày (tính từ ) và Giầy (danh từ riêng) – tên làng  Giầy (xã Liên Trung, Liên Hà, phía trên xã Thượng Cát ngày nay).
                                                                 ***
          Rất tiếc, kẻ hậu sinh, hậu học này mới hiểu biết được bấy nhiêu về phương ngữ quê hương. Kính mong được bạn đọc đồng hương, nhất là các bậc cao niên, tiền bối, các nhà Trèm học thời nay đính chính và chỉ giáo. Xin cảm ơn trước.

Chiều cuối năm 20 tháng chạp Nhâm Thìn, 31 – 1

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét